BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG CHÁNH
HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC
CỦA TRÍ THỨC TIỀN GIANG TRONG CUỘC KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ
(TỪ SAU CÁCH MẠNG 8/1945 ĐẾN 30/4/1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... 7
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 8
1.Lý do chọn đề tài ................................................................................................................... 8
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................................... 8
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 11
4.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................... 11
5.Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 12
6.Những đóng góp của luận văn ........................................................................................... 12
7.Bố cục của luận văn............................................................................................................ 13
CHƯƠNG 1: NHỮNG XÁC ĐỊNH CÓ TÍNH CHẤT CƠ SỞ PHỤC VỤ NỘI
DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................... 14
1.1.Khái niệm trí thức ............................................................................................................ 14
sau Hiệp định Genève 1954 đến ngày miền Nam giải phóng 30/4/1975) ........................... 64
3.2.1.Hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang trong giai đoạn 1954 -1960 ................ 64
3.2.2.Hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang giai đoạn từ 1961 -1968 ..................... 70
3.2.3.Hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang giai đoạn từ 1969 - 1973 .................... 83
3.2.4.Hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang giai đoạn từ 1973 - 1975 .................... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 94
TÀI LIÊU THAM KHẢO ........................................................................................... 104
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA ........................................................ 109
4
CHÂN DUNG MỘT SỐ TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TIỀN GIANG DO TÁC GIẢ
SƯU TẦM...................................................................................................................... 113
DIỆP BA (Luật sư) (1916- 1967) ......................................................................................... 114
NGUYỄN MỸ CA (Nhạc sĩ) (1920- 1946) .......................................................................... 115
NGUYỄN THÀNH CHÂU (Nghệ sĩ) (1906- 1978) ............................................................ 117
LÊ VĂN CHÍ (Giáo viên) (1907 - 1993) ............................................................................. 119
NGUYỄN VĂN CHÌ (Giáo viên) (1903 - 1989) .................................................................. 121
LÝ QUÍ CHƯNG (Nhà báo) (1940-2005) ........................................................................... 123
CAO HẢI ĐỂ (Nhà báo) (1895 - 1964)............................................................................... 126
LÊ QUANG ĐỒNG (Phó Trưởng Ban Tuyên Huấn Tỉnh ủy Tiền Giang) (1926) .......... 129
BẢO ĐỊNH GIANG (Nhà thơ) (1919-2006) ....................................................................... 130
NGUYỄN VĂN GIẢNG (Nhà sư) (1898 - 1974) ................................................................ 131
ĐOÀN GIỎI (Nhà văn) (1925 - 1989) ................................................................................ 135
NGUYỄN VĂN HÒA (Nhà báo) (1922 - 2000) .................................................................. 136
TRẦN NAM HƯNG (Bác sĩ) (1915 - 1993) ........................................................................ 137
TRẦN VĂN KHÊ (Nghệ sĩ) (1921) ..................................................................................... 139
LÊ THỊ NAM (Nghệ sĩ) (1913 -2004) ................................................................................. 142
NGUYỄN VĂN NGUYỄN (Nhà văn) (1910- 1953) ........................................................... 145
- Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn TS. Lê Huỳnh Hoa.
Cô đã hết lòng chỉ bảo, động viên, giúp tôi hoàn thành tập luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn
NGUYỄN CÔNG CHÁNH
7
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong mỗi quốc gia trí thức luôn là lực lượng đại diện cho tri thức và trí tuệ của quốc gia
đó. Lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay cho thấy dù ở bất kỳ thời điểm nào của lịch sử dân tộc,
đội ngũ trí thức cũng đóng góp vai trò quan trọng của mình vào sự phát triển của dân tộc về cả
hai mặt xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đội ngũ trí thức
Việt Nam, trí thức Nam Bộ nói chung và trí thức Tiền Giang nói riêng đã góp phần không nhỏ
vào quá trình chuẩn bị và tiến hành kháng chiến. Lực lượng này không chỉ trực tiếp chiến đấu
trên chính mảnh đất đã sinh ra mình mà còn có mặt ở mọi miền đất nước, đáp ứng yêu cầu về
mọi mặt của cuộc kháng chiến.
Sinh ra, lớn lên tại tỉnh Tiền Giang, trong quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử, đã ấp ủ
trong tôi việc phục dựng lại hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang trong cuộc kháng
chiến thần kỳ chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt là lịch sử địa phương từ sau Cách mạng tháng
Tám. Qua đó bước đầu tìm hiểu đặc điểm vai trò của đội ngũ trí thức Tiền Giang trong quá
khứ. Trên cơ sở những kết quả khoa học có thể giáo dục lòng tự hào về quê hương, rút ra
những bài học kinh nghiệm vê việc xây dựng đội ngũ trí thức trong tương lai.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vê đê tài hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm
1945 đến tháng 4 năm 1975, rải rác đã có nhiều công trình, tác phẩm được nghiên cứu và lần
lượt ra đời trong thời gian qua như:
2003).
- Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) - Hồ Sơn Diệp, Nxb Đại
Học Quốc Gia, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003. Tác phẩm chỉ giới hạn trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và cũng không thấy đề cập đến hoạt động của trí thức Tiền Giang một cách cụ thể.
- Cuộc đời và tác phẩm nhạc sĩ Hoàng Việt - nhiều tác giả, Hội Văn học Nghệ thuật Tiền
Giang, 2005. Tác phẩm chủ yếu ghi lại những hồi ức của họ đối với nhạc sĩ Hoàng Việt trong
quá trình hoạt động cách mạng.
9
- Địa chí Tiền Giang - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang, Nxb Tiền Giang, 2005. Tác
phẩm trình bày tổng quát về quê hương và con người Tiền Giang từ thuở mới khai phá đến
ngày nay, trong đó cũng có đề cập đến những hoạt động yêu nước của lực lượng trí thức nhưng
còn khái quát, chưa có hệ thống. Đây chính là tác phẩm mà tác giả sẽ kế thừa có chọn lọc để
nghiên cứu luận văn của mình.
- Lịch sử và truyền thống trường Trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu (1879 - 2005)
- Nhiều tác giả, Nxb Tiền Giang, 2006. Tác phẩm phần lớn trình bày về lịch sử hình thành và
truyền thống cách mạng của nhà trường, mặc dù có trình bày về hoạt động yêu nước của lực
lượng trí thức Tiền Giang nhưng còn rất sơ lược.
- Nhân vật tỉnh Tiền Giang - Nguyễn Phúc Nghiệp, Nxb Trẻ, Thành phố Hô Chí Minh,
2006. Tác phàm có đê cập đèn các trí thức Tiền Giang nhưng còn lẻ tẻ và chỉ được trình bày
dưới dạng tiểu sử. Đây là tài liệu giúp tác giả tham khảo để trình bày ở phần phụ lục của luận
văn.
Ngoài ra, còn nhiều sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học đã đăng tải nhiều nội
dung về hoạt động yêu nước của đội ngũ trí thức Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm
1945 đến tháng 4 năm 1975.
Các tác phẩm sách, báo kể trên ở nhiều góc độ khác nhau đã góp phần phản ánh quá trình
tham gia cách mạng của trí thức; phản ánh phần nào bức tranh lịch sử của lực lượng trí thức
Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Tuy nhiên, so với vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Tiền Giang trong giai đoạn 1945 1975, các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa phục dựng đầy đủ và hệ thống về hoạt động yêu
Luận văn tập trung phục dựng lại bức tranh toàn cảnh của lịch sử xã hội Tiền Giang tò sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đèn ngày miên Nam hoàn toàn giải phóng, qua đó tìm hiểu
hoạt động yêu nước của trí thức Tiền Giang. Trên nền cụ thể đó, bước đầu phân tích, rút ra đặc
điểm, vai trò của lực lượng trí thức Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến tháng
4 năm 1975. Kết quả này góp phần chứng minh lòng yêu nước truyền thống của dân tộc Việt
Nam và sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối lãnh đạo cách mạng giải
phóng dân tộc nói chung, về việc xây dựng lực lượng trí thức trong kháng chiến, xây dựng mặt
trận đoàn kết toàn dân và liên minh công - nông - trí nói riêng.
11
5.Phương pháp nghiên cứu
Đe thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp
logic để nghiên cứu nội dung đề tài.
- Phương pháp lịch sử dùng để hệ thống những hoạt động yêu nước của trí thức Tiền
Giang thông qua hai cuộc kháng chiến thân thánh của dân tộc.
- Phương pháp logic được dùng để khái quát và nêu lên đặc điểm, vai trò của lực lượng trí
thức Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến tháng 4 năm 1975, từ đó rút ra những
bài học kinh nghiệm về việc xây dựng đội ngũ trí thức trong tương lai.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp hổ trợ khác như phương pháp liên
ngành, đặc biệt là phương pháp điền dã nhằm gia tăng tính thực tiễn và khoa học của đề tài.
6.Những đóng góp của luận văn
- Qua luận văn, người viết đã cố gắng phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về hoạt động yêu
nước của trí thức Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến chiến thắng 30 tháng 4
năm 1975 một cách sinh động, trung thực. Qua đó, phân tích, rút ra những đặc điểm, vai trò, ý
nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của lực lượng trí thức Tiền Giang trong thời gian này.
- Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu về hoạt động
yêu nước của nhân dân Tiền Giang, giáo dục lịch sử truyền thống của địa phương, khơi dậy
toàn dân tộc, và trên mỗi chặng đường đều có dấu ấn để lại của đội ngũ trí thức. Vậy trí thức
được hiểu như thế nào? Có nhiều cách hiểu khác nhau về trí thức, điều đó chứng tỏ cho đến nay
khái niệm trí thức vẫn chưa thật định hình. Ở đây, chúng tôi xin nêu lên một vài nội đung tiêu
biểu về khái niệm trí thức:
- Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1992
thì: "Trí thức là những người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần
thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình. Người ta thường gọi là tầng lớp trí thức"[51, tr.417].
- Còn Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1998 thì trí thức được hiểu: "là những người làm công tác trí óc" [34, tr.549].
- Trong khi đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 4) của Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên
soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005 thì lại cho rằng: "Trí
thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu là những người có
học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí thức
bao gồm các nhà xã hội, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ,
.V.V.." [48, tr.582].
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu: Trí thức là những người chuyên lao động bằng trí óc
và có trình độ kiến thức phù họp với chuyên môn của mình. Và nếu theo tinh thần này thì cũng
có thể hiểu những người có nghề nghiệp không lao động bằng chân tay mà lao động bằng trí óc
thì có thể xếp vào tầng lóp trí thức. Và như vậy, trong luận văn này, sư sãi cũng được xem là
lực lượng trí thức.
1.2.Trí thức Tiền Giang
14
Theo lý thuyết khi đề cập đến khái niệm trí thức Tiền Giang có thể hiểu như sau:
- Một là, những trí thức sinh ra, lớn lên và hoạt động tại Tiền Giang.
- Hai là, những trí thức được sinh ra, lớn lên ở Tiền Giang nhưng lại hoạt động ở những
nơi khác.
tr.29]. Tuy vậy, đến thời vua Minh Mạng, hoạt động giáo dục mới thực sự được quan tâm. Các
trường học ở tỉnh, phủ, huyện được thành lập và đóng vai trò quan trọng trong việc ôn tập,
luyện thi.
Bên cạnh đó, nhà Nguyễn cũng đặt ra các chức học quan ở địa phương, ở trường tỉnh có
Tỉnh Đốc học (Học chánh), ở trường phủ có Giáo thọ, ở trường huyện có Huấn đạo. Ở cấp tổng
hoặc cấp xã thôn cũng phân công những chức vụ trông nom khuyến khích việc học hành.
Nhiệm vụ của các vị học quan này là vừa dạy học, vừa trông coi việc giáo dục trong địa
phương, vừa tổ chức khảo hạch khi có thi cử.
Về thi cử, từ khoa thi Hương đầu tiên năm 1813 đến khoa thi cuối cùng năm 1864, nhà
Nguyễn tổ chức được 20 khoa thi Hương (19 khoa thi ở trường Gia Định, 1 khoa thi ở trường
An Giang) với 270 người đậu cử nhân. Trong 20 khoa thi đó, khoa thi nào cũng có thí sinh
Định Tường, Gò Công trúng tuyển, với 44 người đậu cử nhân, chỉ đứng sau Gia Định [50,
tr.32]. Như vậy có thể nói, Định Tường là một trong những trung tâm văn hóa - giáo dục có từ
rất sớm ở Nam kỳ, kể từ đầu thế kỷ XIX trở về sau. Giới trí thức ở Định Tường đã có những
đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và trong cả nước.
Giáo dục đã có tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của sĩ phu và nhân dân Định
Tường. Những vị khoa bảng nổi danh hoặc những trí thức không bằng cấp, khi thực dân Pháp
xâm chiếm Định Tường và Nam kỳ, đều đã đứng cùng trận tuyến với nhân dân, giương cao
ngọn cờ dân tộc, lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Điển
hình như:
- Đốc học Định Tường Mạc Như Đông, đã soạn thảo bài "Hịch kêu gọi sĩ dân đánh Tây"
cháy bỏng lòng yêu nước, được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt.
- Cuộc kháng Pháp do Trương Định lãnh đạo ở Gò Công, thu hút nhiều trí thức tham gia
và tất cả họ đều là những hạt nhân nòng cốt của phong trào.
- Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, dù bị địch bắt hai lần và đày đi biệt xứ (đảo Cayenne ở
Châu Mỹ Latinh), rồi lại bị địch dụ dỗ, mua chuộc, nhưng vẫn không lung lạc. Ông đã ba lần
16
học sinh tốt nghiệp ở trường Tỉnh muốn học lên cao hơn phải lên Sài Gòn thi vào trường Trung
học D'Adran ở Sài Gòn.
Mỹ Tho là một tỉnh có diện tích rộng và dân số đông, nhu cầu học tập của người dân Mỹ
Tho, Gò Công rất lớn. Mặt khác, với ý đồ đào tạo một tầng lớp tay sai người Việt phục vụ cho
chế độ cai trị của thực dân Pháp ở Nam kỳ, ngày 14 tháng 6 năm 1880, thống đốc Nam kỳ là Le
Myre De Vilers đã ban hành Nghị định bổ sung Điều 6, Chương 1 Nghị định ngày 17-3-1879
cho phép tỉnh Mỹ Tho được thành lập một trường Trung học mang tên Collège de Mytho. Đây
là một trường Trung học được chính quyền thuộc địa mở sớm nhất tại các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long [50, tr.34].
Sự ra đời của Collège de Mytho (nay là trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, tọa lạc trên
đường Hùng Vương, phường 1, thành phố Mỹ Tho) là một sự kiện lịch sử - văn hóa giáo dục
quan trọng trong đời sống văn hóa - xã hội ở tỉnh Mỹ Tho nói riêng và các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long nói chung thời bấy giờ; đồng thời nó cũng đánh dấu một bước phát triển mới trong
hoạt động giáo dục ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngôi trường này đã đào tạo nhiều nhà
trí thức giàu lòng yêu nước, như nhà cách mạng kiên cường Phạm Hùng, giáo sư - viện sĩ Trần
Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ, người vinh dự được Bác Hồ đặt tên), kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát
và các chiến sĩ trung kiên trên nhiều mặt trận:
- Chỉnh trị - quân sự có Bùi Thanh Khiết, Lê Quang Thành, Lê Văn Danh, Nguyễn Văn
Sĩ, Hồ Hảo Hớn, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Ngọc Ẩn, Huỳnh Văn Niềm, Cao Văn Sáu,
Nguyễn Xuân Đào (Nguyễn Văn Tám), Lê Quang Đồng, Phan Văn Nhơn...
- Văn hóa, khoa học có bác sĩ Trần Nam Hưng, giáo sư Nguyễn Văn Chì, giáo sư Lê Văn
Chí, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Duy Cương, Nguyễn Thiện Thành, Trương Công Trung,
Bùi Sĩ Hùng...
- Về nghệ thuật có giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Khê, soạn giả Nguyễn Thành Châu (tức
Năm Châu), soạn giả Trần Hữu Trang... Họ đã có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách
mạng, với những đóng góp xứng đáng trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật, v.v... ở khắp mọi miền đất nước. Trong đó đã có không ít tên tuổi đã được ghi vào
sử sách.
ngày miền Nam giải phóng
19
1.4.1.Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến Hiệp định Genève 1954
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nấp bóng quân đội Đồng minh Anh Ấn, gây hấn
tại Sài Gòn, rồi đánh lấn ra các tỉnh ở Nam Bộ. Tháng 10, chúng tới tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò
Công. Toàn dân cùng đứng lên dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngày 9 tháng lo năm 1945, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
quyết nghị: Các kỳ, các thành phố, các tỉnh và các phủ huyện trong khăp nước Việt Nam vẫn
giữ tên cũ. Tiền Giang bây giờ có hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công [7, tr.45].
Từ đó cho đến năm 1954, trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho cũng như tỉnh Gò Công, vùng tự do
thuộc chính quyền cách mạng. Năm 1945 gọi là ủy ban Nhân dân (hoặc ủy ban Cách mạng),
đến năm 1946 gọi là ủy ban Hành chánh, năm 1947 đổi thành ủy ban Kháng chiến Hành chánh
lo tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp và cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí. Vì yêu cầu
chỉ huy kháng chiến, huyện An Hóa được tách khỏi tỉnh Mỹ Tho nhập về tỉnh Bến Tre [7,
tr.45]. Năm 1951, ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ ra Quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Mỹ
Tho, Tân An, Gò Công thành tỉnh Mỹ Tho, trong nhân dân, có nơi gọi là Tân Mỹ Gò. Sau năm
1954, ba tỉnh trên được trả về như cũ.
Vùng tạm chiếm thuộc quyền quản lý của chính quyền tay sai của quân đội Pháp mang
tên là "Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ", lúc đầu chỉ kiểm soát được 2 tỉnh lỵ và một số
làng hai bên các trục giao thông thủy bộ. Sau những trận càn đẫm máu của quân đội Pháp mới
lần tới được các quận lỵ và các làng xung quanh. Để thắt chặt sự kìm kẹp dân chúng, ngày 4
tháng 2 năm 1947, chúng cho thành lập quận Tân Hiệp gồm 2 tổng Hưng Nhơn và Thạnh Quan
(nay thuộc huyện Chợ Gạo). Sau năm 1954 thì quận Tân Hiệp bị giải thể.
Ngày 30 tháng 8 năm 1946, chính quyền bù nhìn ban hành Nghị định cải tổ nên hành
chính xã ấp, theo đó Hội đồng Hương chức gồm có các chức danh sau đây: Hương Cả hay Đại
Hương Cả, Hương Chủ, Hương Chánh, Hương Quản, Hương Thân, Xã trưởng, Hương hào,
động của họ trên hai địa bàn chính là vùng tạm chiếm và vùng tự do của tỉnh Mỹ Tho và tỉnh
Gò Công.
21
1.4.2.Từ sau Hiệp định Genève đến ngày miền Nam giải phóng
1.4.2.1.Chính quyền cách mạng
Đe thi hành hiệp định Genève, sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, các cấp chính quyền cách
mạng trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công đều giải thể, tập kết ra miền Bắc, chỉ để lại một
số cán bộ nòng cốt ở các đơn vị hành chính cũ để vận động quân chúng đòi đôi phương phải thi
hành hiệp định.
- Từ năm 1957, để tiện đấu tranh với địch, ta cũng nhập 2 tỉnh Gò Công và Mỹ Tho làm
một đơn vị và gọi là tỉnh Mỹ Tho bao gồm các huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo,
Gò Công. Sau phong trào Đồng Khởi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
(20-12-1960).
Lúc này, bộ máy lãnh đạo ở cấp cơ sở có Chi bộ với các ban của khối Đảng như Tổ chức Tuyên huấn, Dân vận, Kiểm tra. Chính quyền và các ban ngành, đoàn thể gồm: Quân sự, An
ninh, Binh vận, Tài chính, Tự tạo vũ khí, Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên, Thông tin, Giáo dục,
Y tế, Thương binh xã hội, Giao liên...
Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam được
thành lập. Tỉnh Mỹ Tho là một đơn vị trực thuộc của hai tổ chức trên. ủy ban Nhân dân Cách
mạng tỉnh Mỹ Tho thành lập tháng 11 năm 1969 tại Gò Lũy, xã Nhị Bình, huyện Châu Thành.
Sau đó lần lượt thành lập ủy ban Cách mạng các cấp để tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước tại địa phương. Bộ máy lãnh đạo ở cơ sở nhìn chung không thay đổi.
- Ngày 24 tháng 8 năm 1967, thị xã Mỹ Tho được nâng lên thành thành phố, trực thuộc
Khu 8. Đến tháng 8 năm 1968, quận Gò Công được tách khỏi tỉnh Mỹ Tho để lập lại tỉnh Gò
Công, trở lại 3 đơn vị tương đương nhau là tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho.
Ba đơn vị này tồn tại đến ngày 1 tháng 3 năm 1976 thì họp nhất lại thành tỉnh Tiền Giang ngày
nay.
1.4.2.2.Chính quyền Sài Gòn
- Ngày 12 tháng 7 năm 1974, lập quận mới Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường, quận lỵ tại xã
Hậu Mỹ, do tách một phần đất của các quận Cái Bè, Giáo Đức, Cai Lậy cùng tỉnh và của quận
Kiến Bình (tỉnh Kiến Tường) và của quận Mỹ An (tỉnh Kiến Phong). Các đơn vị hành chính
của quận Hậu Mỹ chưa sắp xếp xong thì miền Nam được giải phóng.
23
Từ những thay đổi về địa giới hành chính ở Tiền Giang từ sau Cách mạng tháng Tám đến
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho thấy cả hai giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ tại
Tiền Giang đều tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một chính quyên cách mạng ở
vùng tự do và một chính quyên phản cách mạng ở vùng tạm chiếm. Lực lượng trí thức yêu
nước Tiền Giang do nhiệm vụ cách mạng quy định, họ luôn có mặt ở khắp mọi nơi dù là vùng
tự do hay tạm chiếm.
Ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vô cùng thâm độc và tàn bạo. Điều đó
càng làm cho mâu thuẫn giữa nông dân với bọn địa chủ phong kiến, giữa các tầng lớp nhân dân
Việt Nam nói chung và lực lượng trí thức Tiền Giang nói riêng với thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ ngày càng sâu sắc. Để giải quyết những mâu thuẫn này đòi hỏi nhân dân cả nước nói chung
và trí thức Tiền Giang nói riêng phải đứng lên đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành
lấy nền độc lập, tự do cho đất nước.
24
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC CỦA TRÍ THỨC TIỀN
GIANG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (TỪ SAU
CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954)
2.1.Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945
2.1.1.Đặc điểm tình hình và nhiệm vụ chung của cả nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng với tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân cả nước,