BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hân
KHẢ NĂNG SO SÁNH
CỦA TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI TRONG VIỆC
GIẢI CÁC BÀI TOÁN BẢO TOÀN LƢỢNG
VẬT CHẤT Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hân
KHẢ NĂNG SO SÁNH
CỦA TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI TRONG VIỆC
GIẢI CÁC BÀI TOÁN BẢO TOÀN LƢỢNG
VẬT CHẤT Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :
Tâm lí học
Mã số
Mầm non 19/5, quận 10, TP.HCM đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện
trong quá trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài tại trƣờng.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến TS. Trần Thị Phƣơng – ngƣời hƣớng dẫn khoa học, đã tận tình
hƣớng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên
cứu.
Tác giả
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SO SÁNH CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI TRONG VIỆC GIẢI CÁC BÀI
TOÁN BẢO TOÀN LƢỢNG VẬT CHẤT................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 6
1.1.1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài............................................................. 6
1.1.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam ............................................................. 8
1.2. Lý luận về khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trong việc giải
các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất ............................................................. 12
1.2.1. Khái niệm khả năng so sánh ................................................................. 12
1.2.2. Khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ....................................... 19
1.2.3. Hoạt động làm quen với toán trong chƣơng trình Giáo dục Mầm non........ 23
1.2.4. Vai trò của việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất đối với sự
mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất ...... 78
3.2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực nghiệm ..................................... 78
3.2.2. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 82
Tiểu kết Chƣơng 3 ............................................................................................. 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 101
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTBTLVC
:
Bài toán bảo toàn lƣợng vật chất
ĐC
:
Đối chứng
ĐCN
:
Điểm cao nhất
ĐTN
:
Thực nghiệm
TP.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Mô tả khách thể nghiên cứu ............................................................ 39
Bảng 2.2.
Thang đánh giá khả năng so sánh của trẻ MG 4 - 5 tuổi ................ 41
Bảng 2.3.
Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của GV .............................. 43
Bảng 2.4.
Đánh giá của GV về một số kỹ năng của trẻ và mức độ quan
tâm của GV khi dạy trẻ ................................................................... 44
Bảng 2.5.
các trƣờng mầm non ....................................................................... 61
Bảng 2.16. Khả năng so sánh của trẻ MG 4 - 5 tuổi xét trên từng tiêu chí ....... 62
Bảng 2.17. Khả năng so sánh của trẻ MG 4 - 5 tuổi xét trên phƣơng diện
giới tính ........................................................................................... 63
Bảng 2.18. Khả năng so sánh của trẻ MG 4 - 5 tuổi qua từng bài tập xét
trên phƣơng diện giới tính .............................................................. 64
Bảng 2.19. Khả năng so sánh của trẻ MG 4 - 5 tuổi xét trên phƣơng diện
giới tính ở từng tiêu chí ................................................................... 65
Bảng 3.1.
Trẻ ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng................................. 79
Bảng 3.2.
Khả năng so sánh giữa nhóm ĐC và nhóm TN trƣớc thực nghiệm ...... 82
Bảng 3.3.
Điểm trung bình khả năng so sánh của từng trẻ ở nhóm ĐC
và nhóm TN trƣớc thực nghiệm...................................................... 83
Bảng 3.4.
Khả năng so sánh nhóm ĐC và nhóm TN trong từng bài tập
trƣớc thực nghiệm ........................................................................... 84
Bảng 3.5.
Biểu đồ 3.2. Khả năng so sánh của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm TN ở thời
điểm trƣớc và sau thực nghiệm ..................................................... 89
Biểu đồ 3.3. Khả năng so sánh của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN trong từng
bài tập trƣớc và sau thực nghiệm .................................................. 94
Biểu đồ 3.4. Khả năng so sánh của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN xét theo
từng tiêu chí sau thực nghiệm ....................................................... 96
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm
mỹ của trẻ. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bậc học này là chuẩn bị
sẵn sàng về mặt phát triển trí tuệ cho trẻ để trẻ có thể thích ứng với hoạt động
học tập ở trƣờng phổ thông.
Theo X.L. Rubinstein “hạt nhân của trí tuệ là các thao tác tƣ duy: phân tích,
tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,…” [36, tr.11]. Còn A. A. Liublinxkaia cho
rằng: “tƣ duy là cái lõi của bất kì hoạt động trí tuệ nào của con ngƣời” [29, tr.5].
Nhƣ vậy, phát triển các thao tác tƣ duy cũng chính là phát triển trí tuệ.
So sánh là một khả năng đặc thù của tƣ duy con ngƣời, đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển trí tuệ, trong quá trình học tập và làm việc của mỗi
ngƣời. Không có so sánh thì không có nhận thức, không có quá trình tƣ duy vì
“thao tác tƣ duy đầu tiên là so sánh” [29, tr.19], hay nhƣ K.D. Usinxki từng nói
“so sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tƣ duy” [55, tr.129]. Khả năng so sánh
giúp trẻ nhận biết đƣợc sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng
xung quanh, nhờ vậy trẻ nhận thức chúng sâu sắc và đầy đủ hơn. Vì vậy, việc
hình thành và phát triển khả năng so sánh cho trẻ là việc cần thực hiện khi tổ
chức các hoạt động giáo dục ở trƣờng mầm non.
4.2. Về địa bàn nghiên cứu
Chỉ khảo sát trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở hai trƣờng mầm non tại TP.HCM, gồm:
- Trƣờng mầm non Bà Điểm, huyện Hóc Môn.
- Trƣờng mầm non 19/5, quận 10.
4.3. Về khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu thực trạng: 48 trẻ ở trƣờng mầm non Bà Điểm và
49 trẻ ở trƣờng mầm non 19/5.
- Khách thể nghiên cứu thực nghiệm: thực nghiệm chỉ tiến hành trên 20 trẻ
ở trƣờng mầm non Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Những trẻ này đƣợc chia
3
làm 2 nhóm: 10 trẻ ở nhóm thực nghiệm và 10 trẻ ở nhóm đối chứng.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong việc giải các bài toán
bảo toàn lƣợng vật chất ở một số trƣờng mầm non tại TP.HCM chƣa cao,
nguyên nhân có thể do trẻ chỉ tập trung chú ý vào đặc điểm bên ngoài của đối
tƣợng và khả năng diễn đạt mối liên hệ giữa các đối tƣợng còn hạn chế. Nếu tác
động đến trẻ bằng một số biện pháp nhƣ giúp trẻ hiểu nhiệm vụ của hành động
so sánh, dạy trẻ thực hiện các hành động so sánh, hƣớng dẫn trẻ biết cách giải
thích kết quả so sánh, tăng cƣờng cho trẻ thực hiện các hành động đảo ngƣợc khi
thực hiện các hành động so sánh và sử dụng hệ thống các bài tập đa dạng thì có
thể nâng cao khả năng so sánh của trẻ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa một số lý luận về khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 4 - 5
tuổi trong việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất.
6.2. Khảo sát thực trạng khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong
việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất và xác định nguyên nhân
của thực trạng.
phát triển khả năng so sánh cho trẻ.
* Cách tiến hành:
Trao đổi và tìm hiểu ý kiến của một số giáo viên mầm non đang trực tiếp
chăm sóc – giáo dục trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Mục đích:
Nhằm thu thập thông tin từ giáo viên đang phụ trách lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi
về khả năng so sánh của trẻ và các biện pháp để phát triển khả năng so sánh
của trẻ.
5
* Cách tiến hành:
Cho giáo viên trả lời những câu hỏi trên phiếu điều tra.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
* Mục đích:
Thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng so sánh của trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất.
* Cách tiến hành:
Sau khi khảo sát thực trạng, chọn ra 20 trẻ ở trƣờng mầm non Bà Điểm để
tiến hành tổ chức thực nghiệm. 20 trẻ này đƣợc chia thành hai nhóm: nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng, mỗi nhóm có 10 trẻ.
Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng so sánh
của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong việc giải các bài toán bảo toàn lƣợng vật chất
cho trẻ nhóm thực nghiệm.
Sau quá trình thực nghiệm, khảo sát lại khả năng so sánh của trẻ và tiến
hành so sánh, đối chiếu khả năng so sánh của nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng.
7.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
* Mục đích:
đảo ngƣợc các sơ đồ. Thành tựu nổi bật trong giai đoạn này là sự hình thành và
phát triển chức năng tƣợng trƣng, ký hiệu cho phép biểu hiện các đồ vật không
tri giác đƣợc trong hiện tại bằng cách gợi lại nhờ những kí hiệu và dấu hiệu có
phân biệt nhƣ trò chơi tƣợng trƣng, các hình ảnh tinh thần, các hình vẽ hay ngôn
ngữ [38].
7
Theo Watson “Ở động vật và trẻ em lứa tuổi nhỏ, có các thao tác tƣ duy thật
sự, các thao tác phân tích, tổng hợp đều nằm trong hoạt động thực tiễn” [56].
Khi nghiên cứu về chức năng của tƣ duy, ngôn ngữ và sự hình thành khái
niệm ở trẻ, L.X. Vugotxki cho rằng: sự phát triển trí tuệ chính là quá trình di
chuyển thế giới bên ngoài vào trong đầu đứa trẻ theo cơ chế chuyển từ hành
động bên ngoài vào trong [62].
Khi nghiên cứu về các thao tác tƣ duy, X.L.Rubinstein, J.Guthke cho rằng:
“phân tích và tổng hợp (là các quá trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu tƣợng hóa
và khái quát hóa” [49].
R.S.Nickerson (1967) nghiên cứu thực nghiệm về so sánh các hình phức
hợp. Trong nghiên cứu này, ngƣời ta cho những ngƣời đƣợc thực nghiệm xem
các hình chia làm 3 loại với 3 biến thái khác nhau là màu sắc (đỏ, xanh, vàng),
hình (hình tròn, hình tam giác, hình vuông) và kích thƣớc (nhỏ, trung bình, to).
Khi so sánh và phân loại bằng cách kết hợp các đặc điểm, ngƣời ta sẽ có 27 hình
khác nhau [49].
Theo nhà tâm lý học ngƣời Đức J.Lompscher, các thao tác trí tuệ có mối
quan hệ chặt chẽ và chi phối, tác động lẫn nhau. Thao tác so sánh chịu sự chi
phối của các thao tác khác của quá trình tƣ duy và có tác động trở lại các thao
tác đó [49].
Ngoài ra, vấn đề dạy trẻ các thao tác tƣ duy cũng đƣợc nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm trong các công trình của mình nhƣ:
N.D.Điatsenko, A.I. Lipkina, U.V.Ulienkova có quan điểm: “khi tổ chức
của con ngƣời. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng để hình thành và phát triển khả
năng so sánh cho trẻ mẫu giáo cần có những phƣơng pháp, hình thức dạy học
phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.
1.1.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu các vấn đề trí tuệ, tƣ duy hay các thao tác tƣ
duy đã đƣợc quan tâm từ lâu.
9
Tác giả Hồ Ngọc Đại và các cộng sự đã nghiên cứu các phƣơng pháp dạy
học phát triển theo các giai đoạn hình thành các thao tác trí tuệ P.Ia Ganpêrin
trong dạy môn Toán và Tiếng Việt cho học sinh tiểu học [15].
Năm 1995, trong tài liệu của tác giả Ngô Công Hoàn đã đề cập đến thao tác
so sánh của trẻ ở các lứa tuổi mầm non. Ngay từ lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng trẻ
đã biết so sánh miếng bánh này với miếng bánh kia. Khi đến lứa tuổi mẫu giáo
bé, trẻ bắt đầu so sánh các vật có khối lƣợng to, nhỏ khác nhau. Đến mẫu giáo
nhỡ, thao tác so sánh phát triển ở mức cao hơn vì lúc này trẻ đã tích lũy đƣợc
khá nhiều biểu tƣợng về sự vật, hiện tƣợng, tuy nhiên khi so sánh vẫn còn khập
khiễng theo lối duy kỉ. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, cần rèn luyện các thao tác tƣ
duy để chuẩn bị tốt cho trẻ bƣớc vào lớp 1 [21].
Năm 1999, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Vũ Thị Nho có
quan điểm: trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ đã biết thực hiện các thao tác so sánh nhờ “đối
chiếu những thuộc tính bên ngoài của đồ vật, trẻ có thể nhận ra ngƣời thân trong
ảnh và các đồ vật vẽ trong tranh một cách khá chính xác, nghĩa là trẻ có thể
đồng nhất dấu hiệu của các đối tƣợng thật với biểu tƣợng, hình ảnh của chúng”
[40, tr.55]. Ở lứa tuổi mẫu giáo đã phát triển kiểu tƣ duy hình tƣợng. Đến tuổi
mẫu giáo lớn, ngôn ngữ thƣờng đi trƣớc hành động nhƣ việc trẻ vạch kế hoạch
hành động, từ đây tƣ duy “tiền khái niệm” (hay tƣ duy “tiền thao tác” theo
Piaget) dần dần đƣợc hình thành [40, tr.62].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng trẻ ở lứa tuổi ấu nhi “trên cơ sở tƣ duy
Nghiên cứu đã chỉ ra các hình thức diễn đạt so sánh, đó là diễn đạt so sánh bằng
lời, diễn đạt so sánh bằng bảng hệ thống hay bảng phân tích, diễn đạt so sánh
bằng tranh sơ đồ, diễn đạt so sánh bằng biểu đồ, diễn đạt so sánh bằng sơ đồ
logic [1].
Năm 2005, trong luận án tiến sĩ “Hình thành thao tác so sánh của trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua tìm hiểu môi trƣờng xung quanh”, tác giả Trần Thị Phƣơng
đã xác định thao tác so sánh có vị trí quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của
11
trẻ mẫu giáo. Nghiên cứu cho rằng muốn hình thành thao tác so sánh cho trẻ thì
giáo viên phải giúp trẻ nắm đƣợc tiến trình so sánh gồm các bƣớc: quan sát từng
đối tƣợng so sánh, nêu các đặc điểm cần so sánh và tìm ra các đặc điểm khác
nhau và giống nhau. Tác giả đã thiết kế và xây dựng các biện pháp nhƣ sơ đồ
hóa tiến trình so sánh, tăng cƣờng tổ chức các trò chơi trí tuệ và đa dạng hóa các
đối tƣợng và phƣơng tiện so sánh để hình thành và phát triển thao tác so sánh
cho trẻ trong các hoạt động làm quen với môi trƣờng xung quanh [49].
Năm 2009, tác giả Phan Thị Thúy Hằng trong luận văn thạc sĩ “Một số biện
pháp hình thành kỹ năng so sánh cho trẻ 4 - 5 tuổi trong hoạt động làm quen với
toán” xác định hoạt động làm quen với toán là hoạt động rất thuận lợi để hình
thành kỹ năng so sánh cho trẻ MG 4 - 5 tuổi và đã đƣa ra các biện pháp: sử dụng
hệ thống bài tập, trò chơi học tập, tình huống có vấn đề để hình thành kỹ năng so
sánh cho trẻ [20].
Các tác giả Trần Thị Ninh, Phạm Thị Thắm (2010) quan tâm đến việc
nghiên cứu phát triển kỹ năng so sánh cho trẻ MG 5 - 6 tuổi trong hoạt động
quan sát các con vật và hoạt động làm quen với động vật, qua đó đƣa ra các biện
pháp hình thành kỹ năng so sánh thông qua các hoạt động trên [42], [53].
Năm 2012, trong đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tƣ duy của trẻ em từ 3 đến 6
tuổi”, tác giả Trần Hà Thu đã sử dụng một số bài toán bảo toàn lƣợng vật chất
để đánh giá sự phát triển tƣ duy của trẻ. Trong nghiên cứu này, tất cả trẻ tham
xuất hiện trong nhƣng điều kiện nhất định; hay năng lực, tiềm năng [65].
Theo Từ điển Hán - Việt hiện đại, “khả năng” đƣợc tách thành hai từ và
đƣợc giải nghĩa nhƣ sau: “khả” là đƣợc, “năng” là hay, “khả năng” là cái mà con
ngƣời làm đƣợc có thể thành hiện thực [6].
Theo từ điển Oxford, khả năng (Ability) đƣợc xem nhƣ một mức độ của kỹ
năng hay trí thông minh, có thể hiểu là khả năng để làm một cái gì đó thực tế là
ai / cái gì có thể làm một cái gì đó. Chẳng hạn nhƣ: hệ thống này có khả năng
chạy nhiều chƣơng trình cùng một lúc. Mọi ngƣời đều có quyền đƣợc chăm sóc
13
y tế tốt bất kể khả năng chi trả của họ. Một hình thức nhẹ nhàng của tập thể dục
sẽ làm tăng khả năng của bạn để thƣ giãn.
Theo quan điểm triết học Mac – Lenin, khả năng là cái hiện chƣa có, chƣa
đạt tới nhƣng sẽ tới, sẽ có khi có điều kiện thích hợp. Mọi khả năng đều là khả
năng thực tế, nghĩa là đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra. Khả năng trong
những điều kiện thích hợp sẽ trở thành hiện thực và từ trong hiện thực do có sự
vận động nội tại của nó, sẽ hình thành khả năng mới, khả năng mới này lại tiếp
tục trở thành hiện thực khi có điều kiện thích hợp. Nhƣ vậy, theo cách hiểu của
triết học, khả năng và hiện thực là hai phạm trù khác nhau nhƣng có mối quan
hệ biện chứng với nhau, luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau và không tách rời nhau.
Nếu tách khả năng khỏi hiện thực thì trong hoạt động thực tiễn sẽ không thấy
đƣợc khả năng tiềm tàng của sự vận động phát triển, không tranh thủ đƣợc
những khả năng gần trở thành hiện thực [4].
Theo từ điển của tâm lý học Liên Xô, “khả năng” hay “năng lực” đƣợc định
nghĩa nhƣ sau: khả năng đó là những đặc điểm tâm lý - cá nhân của con ngƣời,
là điều kiện để thực hiện thành công một hoạt động nào đó. Khả năng đƣợc biểu
hiện trong quá trình hoạt động, tính cá nhân, sự thành thạo càng cao thì sự dễ
dàng và mức độ chắc chắn tìm ra những phƣơng pháp tổ chức và cách thức giải
quyết hoạt động càng nhiều. Khả năng có liên hệ chặt chẽ với xu hƣớng của cá
năng lực là một bậc cao hơn khả năng, cho thấy mức độ mà khả năng một ngƣời
có thể vƣơn tới, đạt đƣợc trong quá trình hoạt động của mình.
Trong đề tài này, chúng tôi có cùng quan điểm với tác giả Lê Thị Bừng về
định nghĩa khả năng. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Khả năng là hệ thống phức hợp các
quá trình tâm lý, các thuộc tính tâm lý của cá nhân, nhờ đó con người có thể
giải quyết được những yêu cầu được đặt ra cho mình trong quá trình hoạt động.
1.2.1.2. Khái niệm so sánh
a. Định nghĩa so sánh
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về so sánh.
15
Theo Từ điển Tiếng Việt, so sánh là nhìn cái này xem xét cái kia để thấy sự
giống và khác nhau hoặc sự hơn kém [44].
Theo Từ điển Tâm lý học, so sánh là một trong những thao tác logic của tƣ
duy làm chức năng đối chiếu các đối tƣợng để phát hiện ra những nét giống
nhau, khác nhau giữa chúng [10].
Theo Daparogiet, so sánh là đối chiếu các sự vật trong ý nghĩ, tìm ra chỗ
giống nhau và khác nhau giữa chúng [13, tr.10].
Theo Emile Durkheim, so sánh là “phƣơng pháp thực nghiệm gián tiếp”
[11, tr.43].
Theo Grant Evans, so sánh là “một cách nhận thức”, “không chỉ để tìm hiểu
những khác biệt,... mà còn để thấy đƣợc những tƣơng đồng” [16, tr.31].
Một số nhà tâm lý học cho rằng: so sánh đƣợc coi nhƣ một trong những kỹ
năng hoạt động trí óc hay những hành động trí óc đơn giản [62].
Các nhà tâm lý học Việt Nam nhƣ Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần
Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức quan niệm “So sánh là
quá trình con ngƣời dùng trí óc để xác định sự giống nhau và khác nhau, sự
đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự
vật hiện tƣợng” hoặc “So sánh là sự xác định sự giống nhau hay khác biệt giữa