nét đẹp nhân văn trong thơ chữ hán nguyễn du - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lành

NÉT ĐẸP NHÂN VĂN
TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lành

NÉT ĐẸP NHÂN VĂN
TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN CÔNG KHANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................................10
1.1. Nguyễn Du ....................................................................................................10
1.1.1. Thời đại ....................................................................................................10
1.1.2. Gia thế và cuộc đời ..................................................................................11
1.2. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du .......................................................................14
1.2.1. Thanh Hiên thi tập ...................................................................................14
1.2.2. Nam trung tạp ngâm ................................................................................15
1.2.3. Bắc hành tạp lục.......................................................................................15
1.3. Nét đẹp nhân văn ..........................................................................................16
1.3.1. Thuật ngữ “nhân văn” ..............................................................................16
1.3.2. Cơ sở xã hội của chủ nghĩa nhân văn trong văn học ...............................18
1.4. Nét đẹp nhân văn qua các thời kì văn học trung đại Việt Nam ....................23
1.4.1. Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XV ..................................23
1.4.2. Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVIII ...................27
1.4.3. Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX ..................33
Chương 2 NÉT ĐẸP NHÂN VĂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG ................................................................42
2.1. Những chiêm nghiệm, suy tư về con người cá nhân ....................................42
2.1.1. Con người của hùng tâm tráng chí...........................................................43
2.1.2. Con người của đời thường dung dị ..........................................................48
2.2. Những nỗi niềm trắc ẩn về số phận con người .............................................56
2.2.1. Cảm xúc đau đớn và buồn thương trước số phận những con người cần
lao.......................................................................................................................56
2.2.2. Bênh vực và xót thương người phụ nữ ....................................................66
2.2.3. Niềm trắc ẩn đối với những nhân vật lịch sử Trung Quốc ......................74


2.2.3.1. Đồng cảm và kính trọng những bậc hiền tài, nhân nghĩa .................76


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta từng biết một Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều bất hủ sống mãi
trong lòng dân tộc. Chỉ với Truyện Kiều thôi cũng đủ làm tên tuổi Nguyễn Du sáng
tựa ánh sao trên thi đàn văn học Việt Nam và thế giới. Nhưng đại thi hào của chúng
ta còn là tác giả của Văn chiêu hồn và ba tập thơ chữ Hán trác tuyệt. Và với ba tập
thơ chữ Hán Nguyễn Du để lại cho đời, chúng ta càng khâm phục và tự hào hơn nữa
về Nguyễn Du - một nhà nhân đạo lớn qua hàng thế kỉ và một danh nhân văn hóa
thế giới. Nếu như qua Truyện Kiều, Nguyễn Du gián tiếp thể hiện thái độ của mình
thì thế giới thơ chữ Hán là tiếng nói trực tiếp của tác giả. Nguyễn Du không che
giấu bất cứ điều gì từ tư tưởng, tình cảm đến những khoảnh khắc riêng tư… Vì vậy,
nếu muốn hiểu sâu hơn về cuộc đời và con người Nguyễn Du thì chúng ta cần phải
tìm hiểu không chỉ có Truyện Kiều và Văn chiêu hồn mà còn có cả ba tập thơ chữ
Hán của ông.
Bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán còn cho ta biết thêm nhiều về tài năng của
Nguyễn Du. Ông không chỉ hay Nôm mà còn giỏi Hán. Bùi Mạnh Nhị khẳng định:
“Nói về Nguyễn Du mà chỉ nhắc đến Truyện Kiều và một số tác phẩm thơ Nôm
khác thì mới chỉ nói được một nửa THIÊN TÀI MẸ ấy. Còn một nửa khác của đại
thi hào Nguyễn Du là những áng thơ chữ Hán “nghìn thu tuyệt diệu” [58; 5]. Đúng
như lời nhận định trên, qua thơ chữ Hán, ta hiểu thêm nhiều về tài năng và con
người Nguyễn Du. Ba tập thơ từ ngôn từ cho tới giọng điệu và câu, tất cả đều thấm
đượm chất nhân văn. Nguyễn Du vĩ đại vì ông yêu thương con người. Hơn nữa,
Nguyễn Du luôn tôn vinh con người, những danh nhân văn hóa của quá khứ, những
con người bất hạnh và những người phụ nữ… Truyện Kiều phần lớn là nhân vật hư
cấu, nhân vật văn học còn trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du viết về những con người
và những mảnh đời cụ thể. Thơ chữ Hán của ông còn có một ý nghĩa khái quát, đó
là lời tự thuật về một cuộc đời, một con người và một tâm hồn nghệ sĩ vĩ đại trước

2. Lịch sử vấn đề
Thơ chữ Hán Nguyễn Du trước đây ít được giới nghiên cứu quan tâm nên những
bài viết về thơ chữ Hán không nhiều. Tuy nhiên, điều đáng mừng là gần đây đã có
không ít những công trình nghiên cứu công phu về mảng thơ này.


3

Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du là Đào Duy
Anh với bài viết Thi tập của Nguyễn Du trong Khảo luận về Kim Vân Kiều (Nhà
xuất bản Quan Hải tùng thư, 1943). Lần đầu tiên vị trí của thơ chữ Hán Nguyễn Du
được khẳng định về hình thức cũng như về nội dung. Có thể nói đây là những ý kiến
có giá trị gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ở giai đoạn sau.
Năm 1960, nhà phê bình Hoài Thanh với bài viết Tâm tình Nguyễn Du qua một
số bài thơ chữ Hán trên tạp chí Văn nghệ tháng 3, đã khái quát về lịch sử, về thời
đại sóng gió mà Nguyễn Du đã sống. Tác giả nói về thái độ của Nguyễn Du đối với
các triều đại cũng như niềm thương cảm của ông đối với những kiếp người bị đày
đọa: “Thái độ Nguyễn Du rõ ràng, tình cảm Nguyễn Du chân thành, sâu sắc. Thơ
Nguyễn Du do đó có giá trị hiện thực rất cao, có sức rung cảm mãnh liệt” [9; 41].
Đào Xuân Quý với bài Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán trên báo Văn
nghệ tháng 11 năm 1965, đóng góp những tiếp cận ban đầu về thái độ, về diễn biến
tâm trạng của Nguyễn Du qua ba tập thơ. Ông cũng nói đến tình cảm, lòng nhân đạo
mà nhà thơ dành cho mọi tầng lớp nhân dân lao động cũng như tỏ rõ một mối cảm
tình nồng hậu đối với những người có tài, có đức mà bị hãm hại như Hàn Tín, Nhạc
Phi, Khuất Nguyên… Ông nói đến tình hình lịch sử Trung Quốc qua một số nhân
vật cụ thể trong thơ và trong tương quan so sánh với tình hình lịch sử Việt Nam thời
bấy giờ để khẳng định: “Nguyễn Du không phải chỉ phản ánh cảnh đời cơ cực của
nhân dân, không phải chỉ tỏ lòng thương xót, mà còn hàm ý phê phán, mỉa mai bọn
vua quan triều đình phong kiến nữa” [9; 117].
Cùng quan điểm với Hoài Thanh, năm 1966, Xuân Diệu viết Con người Nguyễn

sự kiện trong cuộc đời của Nguyễn Du, Vũ Đình Liên nêu lên ý kiến riêng về thái
độ của Nguyễn Du đối với các triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Tác giả đã tìm hiểu về
nhân sinh quan, về tâm hồn của Nguyễn Du, một tâm hồn lạc loài trong xã hội
phong kiến nhưng lại rất gắn bó với số phận đau khổ của con người bị chà đạp.
Từ năm 1975 đến nay, sau khi đất nước thống nhất, các tập thơ của Nguyễn Du
tiếp tục thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Năm 1980, Phan Hữu Nghệ có bài viết Thực tiễn Trung Hoa và tư tưởng Nguyễn
Du trên tạp chí Văn học số 6, trình bày thực tiễn Trung Hoa lúc bấy giờ và tư tưởng
Khổng - Mạnh dưới cái nhìn của Nguyễn Du. Nêu ra những bức tranh tương phản
giữa một bên là những tư tưởng cao đạo của lễ giáo, đạo đức phong kiến với một


5

bên là hiện thực khốc liệt, nhân dân lao động lầm than cơ cực muôn phần để qua đó
khẳng định: “Thái độ phê phán chế độ phong kiến Trung Quốc ở Nguyễn Du là
điều tất nhiên và hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở thực tiễn của nó, phản ánh bước
phát triển hợp lý và lôgic của tư tưởng nhân đạo ở Nguyễn Du” [30; 56].
Đến năm 1988, với bài viết Nguyễn Du qua thơ chữ Hán được in trên Kiến thức
ngày nay số 30, Lê Đình Kỵ nói nhiều đến hoàn cảnh lịch sử ảnh hưởng đến chí
hướng của Nguyễn Du cũng như những trăn trở, băn khoăn của Nguyễn Du trước
những ngả đường lịch sử. Tác giả đã tìm hiểu về thái độ của Nguyễn Du đối với các
triều đại, đối với quan trường, với nhân dân, với con người và cuộc đời, và đưa ra
nhận xét: “Cái phần trong sáng và đáng trân trọng nhất trong thơ chữ Hán xét đến
cùng là những yêu ghét của nhà thơ” [17; 34]. Nguyễn Du yêu những con người
hiền tài, những người dân cơ cực, những người phụ nữ tài sắc bất hạnh và ghét
những kẻ ác ôn, sống trên máu và nước mắt của người khác.
Giá trị to lớn của thơ chữ Hán Nguyễn Du, một lần nữa được Mai Quốc Liên
khẳng định trong lời mở đầu trong cuốn Nguyễn Du toàn tập (Nhà xuất bản Văn
học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 1996). Tác giả đã khái quát những đánh giá

Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du, được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, trình bày những biểu hiện của chủ nghĩa nhân
văn trong thơ của ba tác gia lớn.
Năm 2011, Lê Thu Yến tiếp tục nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du với
chuyên luận Nguyễn Du và những nhân vật lịch sử Trung Quốc được in trên Những
lằn ranh văn học (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) làm rõ
hơn những luận bàn của Nguyễn Du. Qua đó, tác giả nhận định: “Nguyễn đã tổng
kết, đánh giá hàng loạt những vấn đề tai nghe mắt thấy và qua những tấm gương
tiêu biểu: cùng khổ, tài hoa, bất hạnh, tốt, xấu, gian ác… được đọc trong sách, tận
tường hơn khi đến nơi, cảm được khung cảnh, nhận rõ sự việc…” [32; 505].
Ít nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề trọng tâm
trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Các tác giả xoay quanh những vấn đề tìm hiểu
những tâm sự, tâm tình của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán gắn liền với một giai đoạn
lịch sử đầy biến động, qua đó cho ta thấy được nhân sinh quan cũng như tấm lòng


7

thương yêu chân thành và niềm cảm thông của Nguyễn Du đối với tất cả mọi kiếp
người trong xã hội.
Do tính chất, mục đích và phạm vi nghiên cứu, các công trình nêu trên chưa đặt ra
cụ thể về vấn đề nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tuy nhiên, tất cả
các bài viết trên chính là tiền đề và cơ sở giúp người viết thực hiện tốt công trình
này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích đầu tiên của luận văn là tìm hiểu khái quát về thời đại, cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Du; từ đó có thể có được cái nhìn thấu đáo, toàn diện
hơn về con người nhà thơ, về những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng
đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và nỗi khắc khoải đi tìm mình, niềm trắc ẩn của
Nguyễn Du để làm tiền đề cho việc nghiên cứu “Nét đẹp nhân văn trong thơ chữ

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử - cụ thể: Là phương pháp đặt đối tượng nghiên cứu vào thời
đại, bối cảnh cụ thể khi nó ra đời để tìm hiểu sâu hơn về tác giả, tác phẩm và đề tài
nghiên cứu.
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Người viết sẽ tìm hiểu thêm về thơ của các nhà
thơ trung đại có những nét gần gũi với Nguyễn Du để làm rõ hơn nét đẹp nhân văn
trong thơ chữ Hán của ông trong hệ thống của tiến trình phát triển văn học trung đại
lúc bấy giờ. Trên cơ sở đó, luận văn cố gắng lí giải thế giới quan, nhân sinh quan
cũng như những tiền đề, cơ sở di dưỡng niềm trắc ẩn của Nguyễn Du trong một giai
đoạn đầy phức tạp và biến động của lịch sử dân tộc.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là phương pháp giúp người viết vừa khai
thác vấn đề ở những khía cạnh chi tiết để nắm được bản chất vấn đề, vừa tổng hợp
lại nhằm có những kết luận khái quát về vấn đề.
6. Đóng góp của đề tài
Bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán Nguyễn Du đã được đưa vào giảng dạy ở
nhà trường phổ thông. Đây là lĩnh vực còn mới mẻ, khó khăn đối với không ít giáo
viên và học sinh. Vì thế, đây có thể là tài liệu tham khảo thêm cho giáo viên khi
giảng dạy về tác gia Nguyễn Du, nhưng trước hết nó phục vụ cho công việc, giảng


9

dạy của người viết. Luận văn cũng góp phần nghiên cứu một khía cạnh của thiên tài
Nguyễn Du cũng như góp phần hoàn chỉnh bức chân dung của đại thi hào, bức chân
dung của một con người nhân văn với ba tập thơ chữ Hán cũng thấm đượm tinh
thần nhân văn.
7. Cấu trúc luận văn
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Nguyễn Du
1.2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du

1.1. Nguyễn Du
1.1.1. Thời đại
Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê làng
Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Du sống trong một thời đại vô cùng rối ren của nửa cuối thế kỉ
XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là thời kì chế độ phong kiến bộc lộ rõ nhất những
ung nhọt và thối nát của nó. Bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam thời Lê mạt Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động. Cuộc đối đầu giữa hai dòng họ, họ Trịnh ở
Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỉ (từ năm 1570 đến
1786). Đất nước rơi vào cảnh Nam Bắc chia cắt hết sức lầm than, đời sống của
người dân muôn vàn cực khổ, điêu đứng.
Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn năm 1771.
Phong trào này cùng một lúc đã đánh tan hai tập đoàn phong kiến phản động trong
nước và hai cuộc xâm lược của ngoại bang là Xiêm và Mãn Thanh, góp phần không
nhỏ trong việc thống nhất đất nước. Sau khi lên ngôi, Quang Trung ban hành nhiều
chính sách tiến bộ, ích nước lợi dân. Nhưng làm vua được vài năm, Quang Trung
mất, các thế lực phản động nổi lên, đất nước lại rơi vào cảnh điêu linh. Nguyễn Ánh
lên ngôi năm 1802, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập.
Sự thay đổi chóng vánh ấy có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Du và gia đình
của ông. Ông chưa hết xót xa đau đớn cho tình cảnh tan tác của tập đoàn Lê - Trịnh,
lại một lần nữa chứng kiến sự sụp đổ trong nháy mắt của triều đại Tây Sơn. Vận
mệnh rỡ ràng, ngắn ngủi của triều đại ấy kết thúc thấp thoáng phía sau là công cuộc
khôi phục của triều đình nhà Nguyễn.
Là chứng nhân chứng kiến mọi biến cố đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam cuối
thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du sống trong một trạng thái bàng hoàng,
hẫng hụt về tư tưởng, và không phải đã dễ dàng tìm ngay được một lẽ sống, một chỗ


11

đứng nào vững vàng, ổn định, một con đường nào để giải thoát cho bản thân. Sự bế

12

đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn cứ sai con hát đồ khúc gọi là “ngâm
thơ Nôm”. Bọn con em họ quý thích đều bắt chước chơi bời hầu như thành thói
quen” [12; 246]. Sống trong hoàn cảnh như vậy nên từ rất sớm, Nguyễn Du đã di
dưỡng tấm lòng trắc ẩn và cảm thông sâu sắc đối với phụ nữ nói chung và ca kĩ nói
riêng. Họ phải đem tài sắc và giọng hát của mình để mua vui cho kẻ giàu sang, mua
vui cho cuộc đời. Sau này, Nguyễn Du có dịp chứng kiến thêm nhiều cảnh tượng
bất công ngang trái của những kiếp người tài hoa bạc mệnh và ông luôn đứng về
phía họ để lên tiếng bênh vực và che chở.
Nguyễn Du sống với anh cũng chẳng bao lâu. Năm nhà thơ 18 tuổi, vừa đỗ Tam
trường, gia đình của Nguyễn Khản gặp biến cố. Kiêu binh nổi loạn, Nguyễn Khản
cải trang chạy lên Sơn Tây, sau đó thì về quê ở Hà Tĩnh. Gia đình Nguyễn Du từ
đây mỗi người mỗi ngã.
Trước kia, một ông quan họ Hà, làm việc dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ
chức Chánh thủ hiệu hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên, không có con trai, xin
Nguyễn Du làm con nuôi. Sau khi họ Hà mất, Nguyễn Du được tập ấm chức ấy.
Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc phá tan 29 vạn quân Thanh, Lê Chiêu
Thống bỏ nước chạy theo đám tàn quân của giặc. Lúc này các anh em cùng mẹ với
Nguyễn Du là Nguyễn Đề và Nguyễn Ức chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không
kịp. Nguyễn Du từ giã Nguyễn Đề và Nguyễn Ức để trở về quê vợ ở huyện Quỳnh
Đôi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Khi
người vợ họ Đoàn mất, ông về quê Hà Tĩnh làm “người đi săn ở núi Hồng” (Hồng
Sơn liệp hộ), “người câu cá ở biển Nam” (Nam Hải điếu đồ).
Năm 1796, Nguyễn Du có ý định vào Nam giúp Nguyễn Ánh nhưng bị trấn
tướng của Tây Sơn ở Nghệ An là Nguyễn Thận bắt giam. Sau vì Nguyễn Thận nể
anh ruột của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ làm quan cho Tây Sơn cũng là bạn của
mình, lại mến tài của Nguyễn Du nên tha. Từ đó Nguyễn Du về ở hẳn Tiên Điền
trong một thời gian dài. Đây là những năm Nguyễn Du ở “dưới chân núi Hồng”.
Chiến tranh loạn lạc xảy ra, ông tận mắt chứng kiến cảnh thay đổi sơn hà, gia

người yêu quý và cảm thấy gần gũi ông.
Khi làm quan dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du ít nói năng đến nỗi có lần ông bị
vua quở rằng: “Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người
Bắc, người Nam. Khanh (Nguyễn Du) với Ngô Vị đã được trẫm biết tài mà bổ dụng,


14

làm quan đến chức Tham tri, biết điều gì cứ nói, để làm hết chức trách của mình,
sao lại cứ rụt rè, chỉ dạ dạ vâng vâng thế thôi?” [48; 19]. Dường như ông luôn
mang trong mình nỗi buồn không thể nói cùng ai. Nỗi buồn ấy ông đành chôn chặt
tận đáy lòng ngay cả khi xuống dưới tuyền đài: “Đến khi ốm nặng, ông không chịu
uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi, ông nói: “Được”
rồi mất, không trối lại một lời” [48; 19].
Những năm tháng thăng trầm, lưu lạc và sống gần gũi với quần chúng đã đem lại
cho ngòi bút Nguyễn Du sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc với thân phận những con
người bé nhỏ, những kiếp tài hoa bạc mệnh.
1.2. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng
chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập,
Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục với tổng số 250 bài. Về chữ Nôm, xuất
sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn
chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài Thác lời trai phường nón.
1.2.1. Thanh Hiên thi tập
Đây là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du sáng tác gồm 78 bài được chia
thành ba giai đoạn:
• Mười năm gió bụi: (1786 - khoảng cuối 1795 đầu năm 1796) tức năm Tây
Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng
Lĩnh.
• Dưới chân núi Hồng (1796 -1802): quãng thời gian ông về ẩn tại quê nhà

Nguyễn Du được nhà Nguyễn cử làm chánh sứ sang Trung Quốc tuế cống. Nguyễn
Du đã ghi lại những địa danh, hình ảnh, nhân vật, cảnh vật và hoàn cảnh mà ông
đã quan sát, cùng những hoài niệm riêng tư trong hành trình sứ bộ sang Trung Hoa.
Tập thơ Bắc hành tạp lục, bên cạnh những bài thơ viết về Thăng Long như
Thăng Long - kỳ nhất, Ngộ gia đệ cựu ca cơ, Long Thành cầm giả ca... thì tất thảy
đều viết về chuyến đi sứ Trung Quốc nối dài suốt một năm trời. Những bài thơ
Nguyễn Du viết trên đường đi sứ được chia thành hai loại: phản ánh những điều tai
nghe mắt thấy và đề vịnh lịch sử.
Tập thơ Bắc hành tạp lục cho thấy ở Nguyễn Du một khả năng quan sát chi tiết,
kiến thức thâm sâu về địa lý và lịch sử Trung Hoa cũng như một hệ thống suy tư


16

đặc thù, sâu sắc về nhân sinh.
Khái quát cả ba tập thơ, Nguyễn Hữu Sơn nhận xét rằng: “Ba tập thơ cho thấy
những chặng đường sáng tác phù hợp với các chặng đường đời và tư tưởng tác giả.
Xuyên suốt nội dung thơ chữ Hán là tiếng nói trữ tình, tiếng nói nhân văn giữa một
thời tao loạn, tiếng nói khắc khoải tìm về ý nghĩa đích thực của cuộc sống con
người” [34; 20].
1.3. Nét đẹp nhân văn
1.3.1. Thuật ngữ “nhân văn”
Nhân văn là thuật ngữ khá phổ biến trong nghiên cứu văn học và văn hoá.
Hiểu theo nghĩa từng từ tố, nhân là người, văn là vẻ đẹp; nhân văn là vẻ đẹp của
con người. Thuật ngữ này ra đời trong văn hoá phương Tây như một sự tôn vinh
những trào tư tưởng đứng về phía con người, khẳng định sức mạnh trần thế của con
người trong sự đối lập với thần linh, khẳng định hạnh phúc trần thế của con người
trong sự đối lập với thiên đường hạnh phúc xa xôi phi trần thế. Thông thường, nhân
văn được xem như một trào lưu tư tưởng, trào lưu văn hoá hoặc một thứ thế giới
quan. Vì vậy mà có các cách nói quen thuộc: chủ nghĩa nhân văn / tư tưởng nhân

khẳng định mình như một thứ thế giới quan và một trào lưu văn hoá lấy con người
làm trung tâm thế giới.
Trong văn học, thuật ngữ chủ nghĩa nhân văn thường được dùng để chỉ những
giai đoạn, trào lưu hoặc tác gia tôn vinh con người, ca ngợi những giá trị thuộc về
con người, đấu tranh cho hạnh phúc của con người và thể hiện lòng thương yêu con
người sâu sắc.
Có một thuật ngữ gần nghĩa với nhân văn, đó là nhân đạo. Theo nghĩa gốc Hán,
nhân là lòng thương yêu con người. Khổng Tử viết: nhân ái nhân dã (nhân là lòng
yêu người vậy). Đạo là con đường, là đạo lí. Trong văn học, nói đến chủ nghĩa nhân
đạo là nói đến lòng yêu thương con người. Ở nước ta, chủ nghĩa nhân đạo trong văn
học dân gian và bác học thường phát triển đến đỉnh cao khi chế độ phong kiến đã
trở nên thối nát, đời sống nhân dân lầm than, số phận con người bị khinh rẻ. Trong
một chừng mực nhất định, thuật ngữ nhân văn bao gồm trong nó những nội dung
của thuật ngữ nhân đạo.
Cái vĩ đại nhất của Nguyễn Du, theo chúng tôi là ông hết lòng yêu thương con
người. Lòng yêu thương con người của Nguyễn Du bắt nguồn từ sự cảm thông sâu


18

sắc đối với số phận của con người trong một xã hội mục ruỗng, nhiều bất công. Ông
chia sẻ với những nỗi đau của nhiều thân phận. Yêu thương con người, bế tắc trước
câu hỏi về hạnh phúc của con người, Nguyễn Du trăn trở về trách nhiệm, về bản
thân mình với tư cách một nhà nho. Nguyễn Du nhận ra những giá trị tốt đẹp của
con người cũng như căm ghét những thế lực chống lại con người. Tất cả điều này
đều được thể hiện trong các sáng tác của Nguyễn Du.
Tìm hiểu nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi giới hạn ở:
một, sự trăn trở về bản thân của nhà thơ; hai, lòng yêu thương và cảm thông sâu sắc
của nhà thơ đối với số phận con người; ba, sự tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con
người và căm ghét những thế lực xấu xa chống lại con người (qua thái độ đối với

lúc bấy giờ. Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng là tư tưởng giải
phóng nhân cách độc lập của con người đã phát triển chín muồi. Đối tượng miêu tả
chủ yếu của văn học là con người trong sự năng động và biến đổi trong cuộc sống,
là con người trần thế với những nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần, xác thịt và trí tuệ
với tất cả những khát vọng chính đáng, với tất cả những khả năng và triển vọng to
lớn của nó. W. Shakespeare cho rằng: “Con người là một công trình tuyệt mỹ của
tạo hóa, là vàng ngọc của vũ trụ”.
Một tác phẩm văn học có tính nhân văn là tác phẩm thể hiện con người với
những nét đẹp của nó, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình
cảm, phẩm cách… Tác phẩm đó nhất định phải hướng đến khẳng định, đề cao vẻ
đẹp của con người bởi vì Văn học là một nghệ thuật nhân văn cao cả, người ta có
thế nói nhà văn đều là những nhà nhân văn do nghề nghiệp của mình, những người
sản sinh ra chủ nghĩa nhân văn (M. Gorki).
Chủ nghĩa nhân văn đã xuất hiện từ trong văn học dân gian. Hoàng Tiến Tựu cho
rằng ca dao, dân ca không phải lúc nào cũng phát triển như nhau. Ca dao, dân ca
thường phát triển mạnh mẽ nhất vào lúc chế độ phong kiến trong giai đoạn thối nát.
Càng chịu nhiều áp bức, chịu nhiều đau khổ dưới chế độ mục nát thì người dân càng
có ý thức đấu tranh và vươn lên mạnh mẽ. Tất cả điều đó được thể hiện trong ca
dao, dân ca. Nguyễn Du sống vào thời đại chủ nghĩa nhân văn bùng phát và ca dao,
dân ca đang ở giai đoạn phát triển nhất. Nguyễn Du được trời phú cho bản chất tài
hoa, lại có vốn sống phong phú, am hiểu sâu sắc về văn hóa dân gian. Trong bài
“Thanh Minh ngẫu hứng”, nhà thơ từng viết:


Trích đoạn Thời gian hoài niệm Thời gian đời người Thời gian tâm trạng Ngôn ngữ nghệ thuật Những biểu tượng nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status