nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của rừng ngập mặn tự nhiên tại khu dự trữ sinh quyển cần giờ, thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Hằng

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON
CỦA RỪNG NGẬP MẶN TỰ NHIÊN TẠI KHU
DỰ TRỮ SINH QUYỂN CẦN GIỜ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mộng Hằng

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON
CỦA RỪNG NGẬP MẶN TỰ NHIÊN TẠI KHU
DỰ TRỮ SINH QUYỂN CẦN GIỜ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VIÊN NGỌC NAM

chất để tôi hoàn thành luận văn này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2014

Nguyễn Thị Mộng Hằng


3

MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 9
Chương 1. TỔNG QUAN............................................................................................ 12
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn............................................................................. 12
1.1.1. Rừng ngập mặn và vai trò của rừng ngập mặn ........................................... 12
1.1.2. Phân bố rừng ngập mặn .............................................................................. 12
1.1.3. Các nghiên cứu tại rừng ngập mặn cần giờ ................................................ 16
1.2. Các nghiên cứu về tích tụ carbon ....................................................................... 17
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới ....................................................................... 17
1.2.2. Nghiên cứu tại việt nam .............................................................................. 25
1.3. Các phương pháp nghiên cứu............................................................................. 35
1.4. Phương pháp xây dựng phương trình sinh khối ................................................. 38
1.5. Nhận định tổng quan .......................................................................................... 41
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................... 43
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 43
2.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 44
2.2.1. Điều tra các nhân tố liên quan .................................................................... 44

3.5.1. Hệ số chuyển đổi phương trình sinh khối ................................................... 80
3.5.2. Hệ số chuyển đổi phương trình carbon ....................................................... 83
3.6. Tương quan giữa lượng carbon tích tụ với các nhân tố điều tra ........................ 85
3.7. Tính toán giá trị bằng tiền khả năng hấp thu CO2 .............................................. 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 90
PHỤ LỤC


5

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Đặc điểm sinh thái, phân bố các loài cây ngập mặn nghiên cứu tại rừng ngập
mặn Cần Giờ .............................................................................................. 43
Bảng 2.2. Hệ số chuyển đổi sinh khối theo đường kính .............................................. 51
Bảng 3.1. Thống kê các loài cây, số lượng cây của từng loài và các chỉ số đo đếm
trung bình (D1,3, Hvn, Vcây) ........................................................................ 55
Bảng 3.2. Chỉ số giá trị quan trọng IVI (%) của các loài trong ô đo đếm ................... 56
Bảng 3.3. Thống kê mô tả các yếu tố lâm phần (Đường kính, chiều cao, mật độ, trữ
lượng của 30 ô đo đếm ................................................................................ 57
Bảng 3.4. Tỉ trọng gỗ các loài nghiên cứu tại RNM tự nhiên Cần Giờ ....................... 59
Bảng 3.5. Các loài có chỉ số IVI cao và số cây cần lấy để xây dựng phương trình sinh
khối ........................................................................................................... 61
Bảng 3.6. Các phương trình tương quan giữa chiều cao và đường kính ..................... 61
Bảng 3.7. Thống kê các yếu tố của các cây cá thể ....................................................... 63
Bảng 3.8. Hệ số tương quan giữa AGB với chiều cao (Hvn) và đường kính (D1,3) ..... 65
Bảng 3.9. Phương trình tương quan giữa AGB và D1,3 ............................................... 65
Bảng 3.10. Phương trình sinh khối và độ sai lệch trung bình ...................................... 69
Bảng 3.11. Phương trình sinh khối của các loài nghiên cứu và độ sai lệch trung bình .... 69
Bảng 3.12. Phương trình sinh khối theo phương trình 3.4 và 3.4c .............................. 70

Hình 3.3. Sinh khối Mắm trắng theo các phương trình của các tác giả Komiyama
(3.4a), Chave (3.4b), Viên Ngọc Nam (3.4c) và phương trình 3.4 .............. 71
Hình 3.4. Sinh khối loài Cóc trắng theo các phương trình của các tác giả Komiyama
(3.4a), Chave (3.4b), Viên Ngọc Nam (3.4c) và phương trình 3.4 .............. 71
Hình 3.5. Sinh khối loài Đước đôi theo các phương trình của các tác giả Komiyama
(3.4a), Chave (3.4b), Viên Ngọc Nam (3.4c) và phương trình 3.4 .............. 72
Hình 3.6. Sinh khối loài Dà vôi theo các phương trình của các tác giả Komiyama
(3.4a), Chave (3.4b), Viên Ngọc Nam (3.4c) và phương trình 3.4 .............. 72
Hình 3.7. Sinh khối loài Dà quánh theo các phương trình của các tác giả Komiyama
(3.4a), Chave (3.4b), Viên Ngọc Nam (3.4c) và phương trình 3.4 .............. 73
Hình 3.8. Sinh khối cây trên mặt đất và chỉ số IVI của các loài trong ô đo đếm ......... 75
Hình 3.9. Tỉ lệ phần trăm lượng CO2 hấp thụ ở 30 ô đo đếm....................................... 78
Hình 3.10. Mối tương quan giữa phương trình 3.4 (AGBa) và các phương trình 3.5,
3.6, 3.7, 3.8 (AGBb)..................................................................................... 82


8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ABD

Above ground biomass density - Trữ lượng sinh khối trên mặt đất

AGC

Above ground Carbon density – Trữ lượng carbon trên mặt đất

AGB

Above ground biomass - Sinh khối trên mặt đất


Nước

IPCC

Intergovernmental Panel on Climate Change – Ban Liên Chính phủ
về Biến đổi khí hậu

PT

Phương trình

REDD

Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation Chương trình giảm phát thải do phá rừng và thoái hóa rừng

RNM

Rừng ngập mặn

TB

Trung bình

UNDP

Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc

UNFCCC


cầu đối với con người cũng như các hệ sinh thái đến nay vẫn còn chưa lường hết được.
Theo ước tính của IPCC (1996) cacbonnic (CO2) là một trong các khí nhà kính
hiện tại chiếm tới 60 % nguyên nhân nóng lên toàn cầu. theo tính toán, hiện nay nồng
độ CO2 tăng khoảng 10 % mỗi năm [35]. Chính vì vậy, để hạn chế sự biến đổi khí hậu
cần phải làm giảm lượng khí CO2 đang ngày càng gia tăng.
Trước tình trạng này người ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của các cánh rừng,
ngoài những lợi ích về kinh tế, giải trí, du lịch, cung cấp lâm sản, chống lại bão lụt,
điều hòa dòng chảy…. rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc hấp thụ CO2 tạo
thành sinh khối, làm giảm đáng kể lượng CO2 trên toàn cầu, từ đó làm chậm đi hoặc
ngăn chặn quá trình nóng lên toàn cầu.
Nhiều nỗ lực từ các chính sách quốc tế đã được thực hiện nhằm giải quyết các
vấn đề có liên quan đến biến đổi khí hậu. Hiện nay chương trình “Giảm thiểu khí phát
thải từ phá rừng và suy thoái rừng – REDD”, đang được tiến hành. Theo đó, các nước
phát triển sẽ đáp ứng một số mục tiêu giảm phát thải bằng cách mua các tín chỉ carbon
của các nước đang phát triển từ những cánh rừng tự nhiên.
Các báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007), Ngân
hàng thế giới (WB), chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc (UNDP) đều cảnh
báo Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động cao do biến đổi khí hậu.
Chính vì vậy Việt Nam cần nghiên cứu đưa ra phương pháp ước tính trữ lượng carbon
của rừng tự nhiên để tham gia vào chương trình REDD, làm cơ sở cho việc theo dõi,
giám sát mất, suy thoái rừng và chi trả các dịch vụ môi trường [36].


10

Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái rất đặc biệt, đây là hệ sinh thái
chuyển tiếp giữa biển và đất liền, ngoài sự đa dạng sinh học cao, sự thích nghi tuyệt
vời của sinh vật với điều kiện môi trường sống khắc nghiệt, rừng ngập mặn còn có một
đặc điểm là có cường độ quang hợp cao, điều đó chứng tỏ khả năng hấp thụ CO2 của
RNM là rất quan trọng trong việc làm giảm lượng khí CO2. Hiện nay đã có khá nhiều

4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đóng góp cơ sở cho phương pháp xác định khả năng tích tụ carbon ở thực vật
RNM tự nhiên theo phương pháp xác định tỉ trọng gỗ của từng loài và thể tích của cây.
- Xây dựng phương trình chung để xác định sinh khối của RNM tự nhiên cho một
số loài cây phổ biến ở RNM Cần Giờ.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp cơ sở dữ liệu về khả năng tích tụ cacbon của RNM tự nhiên tại Cần
Giờ cho việc chi trả dịch vụ môi trường.


12

Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ RỪNG NGẬP MẶN
1.1.1. Rừng ngập mặn và vai trò của rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (Mangrove) là hệ sinh thái phân bố ở những vùng chuyển tiếp
giữa đất liền và biển, thường gặp ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
RNM bao gồm những cây thân gỗ, cây bụi và cây thân thảo thuộc nhiều họ khác
nhau nhưng có đặc điểm chung là cây thường xanh, đặc điểm giống nhau và thích nghi
trong điều kiện sống có độ mặn cao, thường xuyên ngập triều, chịu tác động của gió
mạnh, nhiệt độ cao, thể nền chưa ổn định và yếm khí [4].
RNM là tài nguyên quý giá về nhiều mặt như cung cấp lâm sản cho con người, là
nơi cư trú và cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản thông qua vật rụng, hạn chế xói
mòn, chống bão lũ, giúp bảo vệ bờ biển. Mặt khác hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng là
nơi có sự đa dạng sinh học rất độc đáo [29]. Theo nghiên cứu, RNM được xem là hệ
sinh thái có tiềm năng hấp thụ và lưu trữ carbon cao nhất [28], [30].
Đặc biệt, trước tình hình biến đổi khí hậu, hàm lượng CO2 tăng cao gây sự mất
cân bằng của chu trình carbon toàn cầu, mà nguyên nhân là do các hoạt động khai thác
quá mức của con người (ví dụ như nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và các dự án ven
biển), sự nóng lên toàn cầu dẫn đến mực nước biển dâng cao đang đe dọa sự phát triển

biệt do quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát đã làm cho diện tích
RNM giảm đến mức báo động. Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn cho thấy diện tích RNM chỉ còn 156.000 ha vào năm 2000, giảm còn 39,1 % so
với năm 1943.
Do tình hình chặt phá RNM nuôi tôm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long,
Đông Nam bộ, đến nay các khu vực này đã được trồng tại nhiều rừng ngâp mặn với
loài chủ yếu là Đước đôi, ở khu vực đồng bằng sông Hồng là loài cây Bần chua, Trang
và Vẹt dù.
Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc 1999 (Quyết định số 286/ Ttg của Chính phủ
ngày 02/05/1997) và công bố vào tháng 11 năm 2000 thì tổng diện tích RNM ở nước
ta là 156.608 ha, trong đó rừng tự nhiên là 59.732 ha chiếm 38,1 %, rừng trồng là
98.876 ha chiếm 61,9 %.
Hiện nay một số khu vực RNM đã được chuyển qua thành vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên. Những khu rừng này thuộc quy chế quản lý là rừng đặc dụng,


14

không được tác động vào rừng, chủ yếu là tập trung bảo vệ. Một số khu rừng trồng
cũng thuộc rừng đặc dụng với mật độ cao, đã quá tuổi thành thục nhưng không được
tác động các phương pháp lâm sinh như tỉa thưa hay khai thác để trồng lại. Rừng trồng
không có cơ chế tự cân bằng như rừng tự nhiên, do đó một số khu rừng đặc dụng là
rừng trồng cần có những biện pháp kĩ thuật lâm sinh tác động kịp thời để cho rừng
sinh trưởng và phát triển tốt hơn.
Một số khu RNM đã chuyển sang xây dựng những khu du lịch, khu dân cư. Hiện
nay còn một số khu RNM với diện tích nhỏ nhưng là rừng nguyên sinh ở Phú Quốc và
Côn Đảo. Đây là nguồn tài nguyên quý cần được bảo vệ [5].
1.1.2.3. Rừng ngập mặn Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Trước năm 1976, RNM Cần Giờ có tên là Rừng Sát thuộc khu rừng Sát miền
Đông Nam với tổng diện tích là 66.611 ha (Lê Đức Thọ, 1973) trong đó có 18 khu

kinh độ Đông. Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu. Phía Tây
giáp với tỉnh Tiền Giang và tỉnh Long An. Phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè thành phố
Hồ Chí Minh. Phía Nam giáp với biển Đông.
- Về địa hình thổ nhưỡng
RNM Cần Giờ do đất phù sa bồi tụ, mặt đất không thật bằng phẳng, thấp dần từ
Bắc xuống Nam. Ở trung tâm hình thành các lòng chảo cao -0,5 m ± 0,5 m. Ngoài
dòng cát ven biển, Cần Giờ còn có núi Giồng Chùa (cao 10,1 m) và một số gò đất hoặc
cồn cát rải rác cao từ 1 - 2 m. Chia đất đai ở Cần Giờ thành 5 dạng: Đất ngập triều 2
lần trong ngày, một lần trong ngày, vài lần trong tháng; ngập vào cuối năm, dạng đất
cao rất ít ngập. Từ các thế đất khác nhau, nên độ ngập triều, độ mặn, phèn, tính chất lý
- hóa cũng khác nhau, cho nên việc phân bố các loại cây trồng cũng theo những quy
luật chặt chẽ.
- Về khí hậu
Khí hậu RNM Cần Giờ mang đặc tính nóng ẩm và chịu sự chi phối của qui luật
gió mùa cận xích đạo với 2 mùa nắng và mưa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ cao và ổn định. Cần Giờ là
huyện có lượng mưa thấp nhất TP. Hồ Chí Minh (130 mm/tháng).
Chế độ gió: Có hai hướng gió chính trong năm là Tây Tây Nam từ tháng 5 - 10
dương lịch và Bắc Đông Bắc từ tháng 11 - 4 âm lịch năm sau.
Độ ẩm và lượng bốc hơi: Độ ẩm cao hơn các nơi khác trung bình từ 80 - 85%
lượng bốc hơi trung bình là 1204 mm/tháng
Chế độ nhiệt và bức xạ: Nhiệt độ trung bình trong năm là 27° C lượng bức xạ


16

trung bình ngày trên 300 Calo/cm2. Số giờ nắng 7 - 9 giờ/ngày.
- Về đặc tính thủy văn
Hệ thống sông ngòi ở huyện Cần Giờ chằng chịt, nguồn nước từ biển đưa vào từ
hai cửa chính hình phễu là vịnh Đông Tranh và vịnh Gành Rai, nguồn nước từ sông đổ

phần loài thực vật, động vật (Vũ Văn Chương, Barry và cs, Viên Ngọc Nam và cs,
Nguyễn Bộ Quỳnh, Phạm Văn Ngọt, Hoàng Đức Đạt và cs); xây dựng khu rừng giống
để chủ động cung cấp giống ổn định với chất lượng cao, khoanh vùng chim thú tại
rừng phòng hộ (Viên Ngọc Nam và cs); nghiên cứu về vấn đề các phương pháp trồng
rừng và các biện pháp lâm sinh (Nguyễn Sơn Thụy, Viên Ngọc Nam và cs……). Gần
đây, một số nghiên cứu về sinh khối, khả năng tích tụ carbon cũng đã được thực hiện
tại RNM Cần Giờ (Viên Ngọc Nam và cs, 2001, 2009, 20010, 2011, 2012). Ngoài ra
còn nhiều nghiên cứu khác về khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái RNM Cần
Giờ thành phố Hồ Chí Minh (1978 – 2000) [17].
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍCH TỤ CARBON
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
RNM là một kiểu hệ sinh thái rất đặc biệt, là nơi chuyển tiếp giữa vùng đất liền
và bờ biển, nơi môi trường sống thường xuyên chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh
bất lợi đối với sự phát triển của thực vật như nền đất không ổn định, sóng, thủy triều,
độ mặn cao, thường xuyên ngập nước, cường độ ánh sáng cao… Nhưng cây RNM đã
dần thích nghi và mang nhiều đặc điểm giúp chúng có thể tồn tại và phát triển trong
môi trường khắc nghiệt ấy. Các đặc điểm thích nghi của thực vật ngập mặn đã được
nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu.
Ngày nay, hàm lượng CO2 tăng cao do các hoạt động sống, sinh hoạt, sản xuất và
khai thác của con người đã làm mất sự cân bằng của chu trình Carbon trong tự nhiên
được xem là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu, mà các hậu quả do
hiện tượng này gây ra đến nay các nhà khoa học vẫn chưa thể dự đoán hết được.
Chính trong bối cảnh của sự nóng lên toàn cầu, sự hấp thụ carbon của các hệ sinh
thái rừng đã và đang nhận được nhiều sự chú ý nghiên cứu của các nhà khoa học trên
thế giới, đặc biệt đối với RNM. Với các mối đe dọa của sự thay đổi mực nước biển,
yêu cầu cấp thiết cần phải thu thập các thông tin sinh khối RNM. Sinh khối RNM đã
được nghiên cứu trong 20 năm qua (Clough và Scott, năm 1989, Clough và cộng sự,
1997; Komiyama và cs. 1988, 2000, 2002; Ong và các cộng sự, 1995, 2004; Tamai và
cs, 1986) bằng cách sử dụng mối quan hệ tương quan sinh trưởng. Sau đây là một số


= 0,066*D2,59
Tham số a được xác định là a = 0,066, từ công thức a = r*ρ ta có r = a/ρ =
0,066/0,6 = 0,11. Từ đó tác giả đã đưa ra được phương trình chỉ ra mối tương quan


19

giữa sinh khối, tỉ trọng gỗ và đường kính chung cho các loài như sau:
B = 0,11*ρ*D2+0,62
Như vậy nếu sử dụng phương trình trên để tính được sinh khối của rừng hỗn giao
chỉ cần có dữ liệu về đường kính ngang ngực (D1,3) là chỉ tiêu dễ đo đếm nhất và tỉ
trọng gỗ của loài đó. Trong đó tỷ trọng gỗ được tra từ trang web của tổ chức Nông
Lâm kết hợp thế giới. Phương pháp này đã giảm được đáng kể sai số khi ước lượng
sinh khối tại các khu rừng hỗn giao nhiều loài [38].
Chave và cs (2005) đã nghiên cứu tại 27 khu vực khác nhau của rừng nhiệt đới
tại Mỹ, châu Á, châu Đại Dương, sử dụng một dữ liệu lớn gồm 2.410 cây, đường kính
> 5 cm để xây dựng phương trình thể hiện mối tương quan giữa sinh khối trên mặt đất
với tỉ trọng gỗ (ρ), đường kính (D) và chiều cao của cây (H). Các phương trình được
kiểm nghiệm trên rừng thứ sinh, rừng già khu vực khô, ẩm ướt và RNM. Các phương
trình đó là:
- Khu vực khô:
AGB = exp(-2,187+0,916*ln(ρD2H) = 0,112*(ρD2H)0,916
AGB = ρ*exp(-0,667+1,784*ln(D)+0,207*(ln(D))2-0,0281(ln(D))3
- Khu vực ẩm:
AGB = exp(-2,997+ln(ρD2H) = 0,0509*ρD2H
AGB = ρ*exp(-1,499+2,148*ln(D) + 0,207*(ln(D))2-0,0281(ln(D))3
- Khu vực ướt:
AGB = exp(-2,557+0,940*ln(ρD2H) = 0.0776*(ρD2H)0,940
AGB = ρ*exp(-1,239+1,980*ln(D)+0,207*(ln(D))2-0,0281(ln(D))3 [27].
Akira Komiyama, Sasitorn Poungparn và Shogo Kato (2005) đã nghiên cứu tại 5

(81,9 %), sau đó là gỗ chết (7%) và lần lượt các đối tượng khác thấp dần là cây gỗ
trung bình, cây nhỏ, cây con (DBH < 10 cm) chiếm khoảng 5,3 %, dây leo (2,1 %), rác
và vật rơi rụng (1,5 %) [33].
Trong một nghiên cứu được thực hiện tại 25 ô mẫu trên toàn vùng Ấn Độ - Thái
Bình Dương, kéo dài trên 30 vĩ độ tuyến và 70 kinh độ tuyến, nơi RNM có diện tích
lớn nhất và đa dạng nhất, nhóm nghiên cứu Daniel C. Donatoa, J. Boone Kauffmanb,
Daniel Murdiyarsoc, Sofyan Kurniantoc, Melanie Stidhamd và Markku Kanninene
(2011) đã tiến hành xác định trữ lượng carbon của toàn bộ hệ sinh thái bằng cách đo
sinh khối cây đứng và cây chết, hàm lượng carbon trong đất và độ sâu của đất. Kết quả
từ các số liệu thu được cho thấy RNM là một trong những kiểu rừng có trữ lượng và
carbon cao nhất tại vùng nhiệt đới, chứa bình quân 1.023 tấn carbon trên mỗi hecta.


21

Đất giàu chất hữu cơ phân bố tại độ sâu từ 0,5 m đến 3 m dưới mặt đất và chiếm tới 49
– 98% trữ lượng của carbon trong hệ sinh thái này. Đề tài cũng ước tính được việc phá
RNM sẽ phát thải 0,02 – 0,12 Pg carbon mỗi năm (chiếm khoảng 10 % lượng phát thải
do phá rừng toàn cầu dù diện tích RNM chỉ chiếm 0,7 % tổng diện tích rừng nhiệt đới
[28].
Tại Indonesia, Daniel Murdiyarso và cs (2009) đã nghiên cứu tích tụ carbon trên
và dưới mặt đất trong RNM và hệ sinh thái đất than bùn. Đề tài được thực hiện tại các
hệ sinh thái RNM tại Bắc Silawesi (vườn quốc gia Bunaken), RNM ở khu đồng bằng
miền Trung Kalimantan (Vườn quốc gia Tanjung) và đầm phá liên quan RNM ờ miền
Trung Java. Ngoài ra, một số hệ sinh thái đầm lầy than bùn ven sống tại Tanjung cũng
được nghiên cứu. Tác giả đánh giá sự khác biệt trữ lượng carbon dọc theo đường chạy
từ nội địa đến đại dương. Các phép tính toán và phân tích từ các số liệu cho thấy tổng
lượng carbon trong hệ sinh thái RNM đặc biệt cao so với hầu hết các loại rừng, với
trung bình là 968 tấn C/ha. Trữ lượng carbon được tích tụ là kết quả của một số lượng
cây rừng lớn, đất than bùn có độ sâu từ 5 m trở lên rất giàu chất hữu cơ [31].

Đối với sinh khối tích lũy trên sàn rừng, 27 mẫu rác trên sàn rừng được thu thập và cân
đo. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh khối trên mặt đất trung bình là 2.417 kg/bụi và
trung bình mỗi ha là 241,7 tấn/ha. Sinh khối tích lũy cao nhất là ở thân tươi (82 %)
tiếp theo là gai và lá (13 %), thân cây chết chiếm khoảng 5 % trong sinh khối. Tác giả
cũng đã xây dựng được phương trình tương quan giữa số lượng cây, sinh khối thân và
tổng sinh khối cụm với đường kính (DBH) như sau:
Y= -3225,8 + 1730,4*DBH (R2= 0,83; n=8; p < 0,001)
LnYl= 4,298 + 2,647*lnDBH (R2= 0,82; n=8; p < 0,001)
Yn = -12,23 + 37,281*DBH (R2= 0,80; n=106; p < 0,0001)
Trong đó: Y: Tổng sinh khối mỗi cụm, Yl: Sinh khối khô của thân, Yn: Số lượng cây.
Đối với sinh khối tích tụ trên vật rụng sàn rừng trung bình là 909 g/m2 [43].
Emanuelle A. Feliciano, Shimon Wdowinski, Matthew D. Potts (2014), đã tiến
hành đánh giá sinh khối trên mặt đất của một khu RNM lớn, nằm dọc theo bờ biển
phía Tây Nam của miền Nam Florida, thuộc Vườn quốc gia Everglades, bao gồm chủ
yếu là 3 loài cây ngập mặn: Rhizophora mangle L. (Red mangrove), Laguncularia
racemosa (L.) C. F. Gaertn và Avicennia germinans (L.) L. Bằng phương pháp sử
dụng công nghệ quét tia laser. Đề tài tiến hành bố trí 3 địa điểm để đo lường dọc theo
Shark River Slough theo chiều cao của RNM: SRS – 4, SRS – 5, SRS – 6. Sau đó sử
dụng công nghệ Leica – Scanstation C10 – Terrestrial Laser Sanner (TLS) để ước tính


23

sinh khối cho 40 cây ngập mặn phân bố trong 3 địa điểm. Sau đó mô hình hóa bề mặt
thân cây. Kết quả ước tính AGB cho các cây ngập mặn như sau: đối với vị trí SRS – 4
là 3,9 ± 0,3 - 31,3 ± 3,4 kg/cây; đối với vị trí SRS – 5 là 27,4 ± 3,0 - 119 ± 12,9
kg/cây; đối với SRS – 6 là 52,1 ± 6,7 - 1756,5 ± 189,7 kg/cây. Qua nghiên cứu đề tài
đã phát triển các mối quan hệ tương quan sinh trưởng cho từng địa điểm giữa đường
kính và AGB mặt khác cũng cho rằng TLS là một lựa chọn tốt nhất và cho độ chính
xác cao đối với các nghiên cứu về sinh khối mà không phép chặt hạ cây [32].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status