sự kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong truyền kỳ mạn lục - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Tô Kim Yến

SỰ KẾT HỢP
PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Tô Kim Yến

SỰ KẾT HỢP
PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số

: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Tô Kim Yến


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG .......................................................... 16
1.1. Thể loại truyền kỳ .................................................................................... 16
1.1.1. Khái niệm “truyền kỳ” ...................................................................... 16
1.1.2. Nguồn gốc thể loại truyền kỳ ............................................................ 16
1.1.3. Đặc trưng thể loại .............................................................................. 18
1.1.4. Truyền kỳ trung đại Việt Nam .......................................................... 24
1.2. Truyền kỳ mạn lục ................................................................................... 28
1.2.1. Tác giả Nguyễn Dữ và thời đại của ông ........................................... 28
1.2.2. Nguồn gốc ......................................................................................... 30
1.2.3. Nội dung ............................................................................................ 32
1.2.4. Nghệ thuật ......................................................................................... 42
1.2.5. Liên hệ với “Tiễn đăng tân thoại” ................................................... 47
1.3. Những phương thức sáng tác trong tác phẩm văn học............................. 50
1.3.1. Phương thức tự sự ............................................................................. 50
1.3.2. Phương thức trữ tình ......................................................................... 51
1.3.3. Hiệu quả sự kết hợp các phương thức trong sáng tác văn học ......... 52
Chương 2. PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC – NHỮNG DẠNG THỨC KẾT
HỢP VÀ TÁC DỤNG NGHỆ THUẬT..................................... 54
2.1. Phương thức tự sự trong Truyền kỳ mạn lục ............................................ 54


: Truyền kỳ mạn lục

TĐTT

: Tiễn đăng tân thoại

LNCQ

: Lĩnh Nam chích quái

VĐUL

: Việt điện u linh

TTDT

: Thánh Tông di thảo

NÔML

: Nam Ông mộng lục

TKTP

: Truyền kỳ tân phả

LTKVL : Lan Trì kiến văn lục
VTTB


Nguyễn Dữ là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại, ngày
càng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, càng chiếm được cảm tình
của bạn đọc. Càng ngày, người ta càng phát hiện và khẳng định vị trí, vai trò của
tác phẩm bởi sự ra đời của tác phẩm đã đánh dấu sự trưởng thành của truyện
ngắn Việt Nam trung đại, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính


2

chức năng sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật. Mặc dù, khi khai thác những đề
tài dân tộc, tác giả chú ý đến những truyền thuyết dân gian nhưng đồng thời
cũng đã vươn lên và có những bước đột phá trên cách ghi chép của lối biên soạn
truyện cổ. Tác phẩm biểu hiện một xu hướng thoát dần khỏi sự ảnh hưởng thụ
động của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử để bước sang giai đoạn mới, giai
đoạn của văn xuôi tự sự, của truyện ngắn nghệ thuật.
Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục phần nào giúp ta ứng dụng vào
việc tìm hiểu loại hình truyện ngắn trung đại Việt Nam. Đặc biệt hơn hết, sự ra
đời của Truyền kỳ mạn lục đã khẳng định một cách đầy đủ sự ra đời của thể loại
truyền kỳ cho nền văn xuôi trung đại Việt Nam. Sở dĩ tác phẩm được đánh giá
cao, được quan tâm như vậy là vì ngoài giá trị nội dung tư tưởng còn có những
thành tựu đặc sắc về phương diện nghệ thuật. Mặc dù viết theo thể loại truyền
kỳ, một thể loại ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc, chuyên dùng hình thức kỳ
ảo, hoang đường làm phương tiện nghệ thuật nhưng tập truyện đã có nhiều đóng
góp đáng kể về nghệ thuật dựng truyện, xây dựng nhân vật, kết hợp hài hòa giữa
ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca
trong một lời văn trau chuốt, sinh động, giàu sức hấp dẫn. Đặc biệt tác phẩm còn
có sự kết hợp tinh tế, linh hoạt giữa phương thức tự sự và trữ tình, điều này đã
làm nên sự khác biệt rõ rệt với các tác phẩm trước nó như Việt điện u linh và
Lĩnh Nam chích quái. Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục về phương diện
nghệ thuật, cụ thể là sự kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, là một công việc

phần vào việc xem xét, phân tích và đánh giá tác phẩm ở một số phương diện
nghệ thuật đặc sắc, điều này đã mang lại những thành tựu đáng ghi nhận cho tập
truyện. Sau khi giải quyết được thoả đáng những vấn đề đã đặt ra trong đề tài,
người viết sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về giá trị của tác phẩm. Từ
đó, bổ sung những kiến thức mới, cần thiết trong việc giảng dạy tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục ở các cấp học, giúp người học nhìn nhận đầy đủ những nét
đặc sắc nghệ thuật của tập truyện nói riêng và của cả văn xuôi trung đại Việt
Nam nói chung. Qua đó, đề tài cũng góp phần bồi dưỡng tinh thần trân trọng và


4

giữ gìn những tinh hoa của dân tộc trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật văn
chương của tiền nhân.
3. Lịch sử vấn đề
Truyền kỳ mạn lục ra đời vào cuối thế kỉ XVI. Ngay từ khi ra đời, tác phẩm
đã được người đọc quan tâm và giới nghiên cứu đánh giá rất cao. Nhiều vấn đề
trong Truyền kỳ mạn lục là đối tượng, là đề tài của các công trình nghiên cứu từ
trước đến nay không chỉ ở trong nước mà còn ở ngoài nước, chẳng hạn ở Nga,
Trung Quốc, Nhật Bản… Chúng tôi xin được lược dẫn về những công trình,
những bài viết có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu:
* Các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục trước thế kỉ XX:
Trước hết, cần kể đến Lời đề tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết
năm Vĩnh Định sơ niên 1547:
- Trong lời đề tựa, tác giả đã cho ta thấy xuất thân và con đường làm quan
của Nguyễn Dữ, chỉ ra lí do Nguyễn Dữ cáo quan về ở ẩn “Tập lục này là trứ
tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Sau khi đậu Hương tiến,
nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền.
Mới được một năm ông cáo quan về nuôi mẹ, thế rồi viết ra tập lục này để ngụ
ý”.

- Vũ Phương Đề (1697 - ?) trong Công dư tiệp kí coi Truyền kỳ mạn lục là
“thiên cổ kỳ bút”.
Như vậy, các học giả thế kỉ XVIII – XIX, đã chú ý nhiều tới mặt văn
phong, tới nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật xây dựng nhân vật nhưng họ chỉ cho
thấy cái nhìn tổng thể về tác phẩm, chưa thực sự chú ý một cách thích đáng tới
khía cạnh sự kết hợp giữa các phương thức sáng tác, chẳng hạn như mối quan hệ
giữa hai phương thức tự sự, trữ tình và tác dụng nghệ thuật của sự kết hợp
những phương thức ấy trong việc chuyển tải nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
* Các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục từ đầu thế kỉ thứ XX
đến nay:


6

Bước vào thế kỉ XX, Truyền kỳ mạn lục đã tiếp tục được khảo cứu trên
nhiều phương diện cả về nội dung và nghệ thuật. Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn
lục của Bùi Kỷ được Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch ra quốc ngữ in năm 1941:
- Khi đánh giá về phương diện nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục, Bùi Kỷ
viết: “Nguyễn Dữ học rất rộng, lại có tài viết văn dùng nhiều điển tích. Lối viết
nào cũng hay, về phần uyên bác có thể ngang với Bồ Tùng Linh, về phần vận
dụng các văn thể vượt hơn Đặng Trần Côn”.
- Về phương diện nội dung, tác giả bài viết cũng cho rằng Truyền kỳ mạn
lục đã đề cập đến vấn đề có liên quan trong cuộc sống của người phụ nữ xã hội
Việt Nam thời kì trung đại.
Ngoài một số công trình nghiên cứu chủ yếu về nghệ thuật viết truyện
ngắn, về thể loại của tác phẩm như công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Dân
Loại hình văn xuôi huyễn tưởng (Tạp chí Văn học, số 5, năm 1984), công trình
của Nguyễn Hữu Sơn Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỉ XVI – các bước nối tiếp
và phát triển (Tạp chí Văn học, số 5 và số 6, năm 1988), còn có khá nhiều bài
viết khác trong đó đáng lưu ý là các bài viết Truyền kỳ mạn lục một thành tựu

phụ nữ có đảm đang bao nhiêu, chung thuỷ và tình nghĩa bao nhiêu thì cũng phải
chịu số phận oan nghiệt trước cuộc đời dâu bể. Chuyện Lệ Nương là một câu
chuyện đầy bi kịch về sự chung thuỷ của tình vợ chồng trong cảnh đất nước bị
ngoại xâm. Ngoài đề tài tình vợ chồng, Truyền kỳ mạn lục còn đề cập khía cạnh
khác của đời sống con người lúc bấy giờ. Các câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn:
Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện nàng Thuý Tiêu, Chuyện cây gạo,
Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây miêu tả những mối tình vụng trộm, trái hẳn với đạo lí
Nho gia “nam nữ thụ thụ bất tương thân”. Các tác giả trong bộ sách này cho
rằng Nguyễn Dữ đã táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu đương
không lành mạnh giữa Trình Trung Ngộ và Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo,
giữa Hà Nhân và hai nàng họ Đào, họ Liễu trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây và
họ đã kết luận: đối với truyện này Nguyễn Dữ đã có lời phê bình để phê phán
những quan niệm đồi truỵ và khẳng định lại những giáo điều về “đức hạnh tiết


8

nghĩa” và bình luận thêm “tuy thông cảm với khát vọng yêu đương của con
người nhưng quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ nét tích cực của
lễ giáo nho phong. Điều đó phản ánh thái độ đầy mâu thuẫn trong tư tưởng và
tình cảm của Nguyễn Dữ”.
* Song song đó, còn có các bài viết, công trình đã nghiên cứu về một số
khía cạnh chuyên biệt của Truyền kỳ mạn lục có ý nghĩa trực tiếp đối với việc
thực hiện đề tài, chẳng hạn như:
Bài viết Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ (Tạp chí Văn học, số 1, năm 1987) của Nguyễn Phạm Hùng. Đây là
bài viết mà chúng tôi quan tâm nhất, nội dung bài viết có ý nghĩa định hướng
cho việc triển khai đề tài. Theo tác giả, Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm đã
đặt ra những vấn đề về người phụ nữ. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý nhận xét của
tác giả: “Niềm khát khao hạnh phúc gia đình là chủ đề chính của nhiều truyện.

trong tác phẩm cũng chưa được quan tâm đúng mức mà tác giả chỉ khái quát về
các phương thức thể hiện số phận người phụ nữ trong tác phẩm.
Luận văn thạc sĩ Loại hình các nhân vật trong truyền kỳ trung đại Việt Nam
qua ba tác phẩm tiêu biểu: Thánh tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Lan trì kiến
văn lục của Trương Thị Hoa (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm
2011) đã tiếp cận và khai thác Truyền kỳ mạn lục theo loại hình nhân vật và
cũng chưa đề cập đến vấn đề mà luận văn đã đề ra.
Luận văn thạc sĩ Vị trí của thể loại truyền kỳ trong tiến trình phát triển của
văn học Việt Nam của Trần Nghi Dung (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2012) đã tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn thể loại để đi đến đánh giá vị
trí quan trọng của Truyền kỳ mạn lục nói riêng và tất cả những tác phẩm thuộc
thể loại truyền kì nói chung trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.
Tác giả cũng không đặt ra vấn đề tiếp cận Truyền kỳ mạn lục theo phương thức
sáng tác nghệ thuật.
Như vậy, nhìn một cách tổng thể, các học giả, các công trình nghiên cứu đã
có những nhận xét tương đối thống nhất về những đóng góp đáng kể về mặt
nghệ thuật của tập truyện. Tuy nhiên, do những mục đích khác nhau mà các tác


10

giả chưa quan tâm cụ thể và đi sâu vào sự biểu hiện cũng như hiệu quả quan
trọng của việc kết hợp hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn
lục.
Với mong muốn kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu Truyền
kỳ mạn lục của các thế hệ đi trước, chúng tôi chọn vấn đề sự kết hợp phương
thức tự sự, trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục nhằm cố gắng hoàn chỉnh và làm
nổi rõ hơn vấn đề đã nêu, hy vọng góp thêm ý kiến vào việc nghiên cứu một tác
phẩm văn học lớn và có giá trị nhiều mặt này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Truyện thứ tám: Chuyện chức Phán sự đền Tản viên (Tản Viên từ phán sự
lục)
- Truyện thứ chín: Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức tiên hôn lục)
- Truyện thứ mười: Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào (Phạm Tử Hư
du thiên tào lục)
- Truyện mười một: Chuyện yêu quái ở Xương Giang (Xương Giang yêu
quái lục)
- Truyện mười hai: Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Nưa (Na sơn
tiều đối lục)
- Truyện mười ba: Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Trào (Đông Trào
phế tự lục)
- Truyện mười bốn: Chuyện nàng Tuý Tiêu (Tuý Tiêu truyện)
- Truyện mười lăm: Chuyện bữa tiệc ở Đà Giang (Đà Giang dạ ẩm kí)
- Truyện mười sáu: Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử
lục)
- Truyện mười bảy: Chuyện Lý tướng quân (Lý tướng quân truyện)
- Truyện mười tám: Chuyện Lệ Nương (Lệ Nương truyện)
- Truyện mười chín: Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (Kim Hoa thi thoại kí)
- Truyện hai mươi: Chuyện tướng Dạ Xoa (Dạ Xoa bộ soái lục)


12

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm của Nguyễn Dữ, được viết bằng chữ Hán,
ra đời vào thế kỉ XVI, đến nay đã nhiều lần tái bản. Khi thực hiện đề tài này,
chúng tôi đã dùng bản Truyền kỳ mạn lục do Trúc Khê Ngô Văn Triện (1943)
dịch, Nhà xuất bản Văn nghệ, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học thành phố Hồ
Chí Minh, in lại 1988, bởi vì Trúc Khê Ngô Văn Triện được giới nghiên cứu văn
học đánh giá rất cao về tài dịch thuật và vốn Hán học, đặc biệt là Văn Tâm trong

- Để làm rõ hơn nét độc đáo của việc kết hợp phương thức tự sự và trữ tình
trong Truyền kỳ mạn lục nói riêng và trong các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ
hoặc những tác phẩm có những đặc trưng gần với thể loại truyền kỳ của văn học
trung đại Việt Nam nói chung, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình.
- Cuối cùng phương pháp so sánh cũng được sử dụng nhằm so sánh sự kết
hợp hai phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục và các tác phẩm
khác trước và sau khi Truyền kỳ mạn lục xuất hiện. Bên cạnh đó, so sánh giữa
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại của Cù
Hựu (Trung Quốc) cũng làm nổi bật sự độc đáo của Truyền kỳ mạn lục, một lần
nữa khẳng định giá trị nhiều mặt của “thiên cổ kỳ bút” này.
Ngoài ra, trong bài viết, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác
để bổ trợ cho việc tìm hiểu kỹ và sâu tác phẩm.
6. Đóng góp của luận văn
Trên tinh thần của thế hệ đi sau học hỏi, kế thừa và phát huy những thành
tựu nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục của các thế hệ đi trước, chúng tôi mong
muốn góp thêm một phần nhỏ vào kho tri thức liên quan đến tác phẩm bằng việc
bổ sung thêm một số thành tựu về mặt nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục, từ đó
có thể vận dụng những kiến thức thiết thực này một cách cụ thể, linh hoạt vào
thực tế giảng dạy Truyền kỳ mạn lục trong nhà trường.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có ba phần cơ bản: mở đẩu, nội dung và kết luận.
Mở đầu, người viết trình bày cụ thể về lí do chọn đề tài, mục đích nghiên
cứu, đối tượng và phạm nghiên cứu, phương pháp, những đóng góp của luận


14

văn, cấu trúc luận văn. Phần này, người viết chủ yếu là trình bày những vấn đề
chung diễn giải quá trình hình thành và thực hiện triển khai đề tài nghiên cứu sự
kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục.

Từ đó, người viết có thể khẳng định thành công vượt bậc về cả nội dung lẫn
nghệ thuật của tác phẩm vang bóng một thời này trong nền văn học trung đại
của Việt Nam.
Kết luận, người viết tổng hợp và khẳng định lại một lần nữa những kết quả
đạt được của đề tài. Đồng thời cũng trình bày lập trường, suy nghĩ và đánh giá
riêng của bản thân về tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” trong lịch sử văn học nước
nhà.


16

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Thể loại truyền kỳ
1.1.1. Khái niệm “truyền kỳ”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “truyền kỳ” có nghĩa là “thể loại tự
sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường. Tên gọi này
cuối đời Đường mới có. Kỳ có nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư
cấu” [20, tr.230]. Trong Từ điển Văn học (bộ mới) thì khẳng định rằng: Truyền
kỳ là “một hình thức văn xuôi tự sự Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân
gian, sau các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng các môtip kỳ
quái, hoang đường lồng vào trong cốt truyện có ý nghĩa trần thế” [32, tr.447].
Và theo tác giả Đoàn Lê Giang, chữ “kỳ” trong “truyền kỳ” có nguồn gốc từ tác
phẩm “Truyền kỳ” của Bùi Hình, cũng có nghĩa là kỳ lạ, hoang đường. Trong
tác phẩm Đường Tống truyền kỳ, Lỗ Tấn cho rằng “kỳ” trong khái niệm không
phải hiểu theo nghĩa là sự kỳ ảo, kỳ dị mà phải hiểu như một quan niệm văn học,
một phương pháp sáng tác, cách hiểu này bắt buộc các tác giả phải có sự coi
trọng yếu tố “lạ” trong khi sáng tác.
Nhìn chung, khái niệm “truyền kỳ” được hiểu khá thống nhất. Đó là một
thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, dùng những yếu tố hoang đường, kỳ lạ để
phác hoạ và phản ánh đời sống hiện thực, thể hiện quan điểm sống của bản thân

những chuyện được truyền trong dân gian mà nó còn là phương tiện ngôn ngữ
để tác giả thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc, những trăn trở trước cuộc
đời. Thể loại truyền kỳ tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên (1279 - 1368).
Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh (thế kỉ XIV), có sự xuất hiện Tiễn đăng tân
thoại của Cù Hựu (1341 - 1427), đây là tác phẩm truyền kỳ nổi tiếng, tiêu biểu
cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh hưởng lớn đến truyền kỳ các
nước trong khu vực, tiêu biểu như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Sang đời
nhà Thanh (1644 - 1911), Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (1640 - 1715) ra đời
đã làm rạng danh cho thể loại truyền kỳ của nền văn học Trung Quốc.
Trong nền văn học Việt Nam, những mầm mống của “truyền kỳ” đã có mặt
từ rất sớm ở Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo. Đến


18

Truyền kỳ mạn lục thì khái niệm “truyền kỳ” mới chính thức xuất hiện và thật sự
phát triển đến đỉnh cao về nội dung lẫn hình thức.
Nhìn tổng quát, ta thấy truyền kỳ là một thể loại văn xuôi xuất hiện khá
sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc. Lúc đầu truyền kỳ chưa phải là một thể
loại độc lập, nó chỉ là loại chí quái xuất hiện thời Lục triều, về sau loại này phát
triển độc lập thành thể loại truyền kỳ và du nhập vào nhiều nước trên thế giới,
trong đó có Việt Nam. Bằng ý thức tự hào và giữ gìn tinh hoa của dân tộc, người
Việt Nam đã sáng tác truyện truyền kỳ theo cách riêng của mình. Những tác
phẩm luôn có sự kết hợp giữa sự tiếp thu và sáng tạo, gắn liền với các nền văn
hoá dân tộc (chủ yếu là văn hoá dân gian và văn xuôi lịch sử). Truyền kỳ của
văn học Việt Nam có đóng góp lớn cho thể loại truyền kỳ trong nền văn học
toàn khu vực đồng văn thời trung đại.
1.1.3. Đặc trưng thể loại
Đặc trưng của mỗi thể loại trong sáng tác văn học là một trong những vấn
đề quan trọng trong lý luận văn học. Người đọc có thể tiếp cận tác phẩm với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status