thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đỗ chu - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Tuyết Lan

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Tuyết Lan

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số

: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 6
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................................. 7
4. Đóng góp của luận văn ................................................................................................. 15
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 16
6. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 16

CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT
CỦA ĐỖ CHU............................................................................................................ 17
1.1. Xác định khái niệm Thế giới nghệ thuật ................................................................. 17
1.1.1. Khái niệm .............................................................................................................. 17
1.1.2. Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ............................................... 17
1.2. Đỗ Chu - con người và hoạt động văn chương ........................................................ 19
1.2.1. Con người .............................................................................................................. 19
1.2.2. Hoạt động văn chương .......................................................................................... 22
1.3. Khái quát về truyện ngắn Đỗ Chu ........................................................................... 34
1.3.1. Những chặng đường phát triển của truyện ngắn Đỗ Chu...................................... 34
1.3.2. Khái quát thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu ..................................... 40
1.3.3. Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam những năm
1960 - 1980 ...................................................................................................................... 41

CHƯƠNG 2: ĐỀ TÀI, TƯ TƯỞNG, CẢM THỨC CON NGƯỜI TRONG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU ...................................................................................... 46


4


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình vận động và phát triển, văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Góp phần tạo nên sự phát triển của văn học Việt Nam trong mỗi giai đoạn phải
nhắc đến lực lượng những người cầm bút có tài, có tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với
dân tộc. Những sáng tác của họ không chỉ kết tinh vẻ đẹp của tư tưởng, tình cảm, định hình
phong cách mỗi cá nhân mà còn làm nên diện mạo của các thời đại văn học.
Nhìn lại những nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, hiện tượng Đỗ
Chu là một hiện tượng đáng chú ý. Tuy sáng tác không nhiều nhưng chỗ đứng của ông trong
làng văn thật vững. Phác thảo diện mạo của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975,
Bùi Việt Thắng đã rất tinh tế khi nhận định “Không ham hố, viết ít nhưng găm lại được
nhiều ở bạn đọc, đấy là thành công của Đỗ Chu” [24, tr.13]. Có thể nói, Đỗ Chu đã hòa vào
dòng chảy của cảm hứng ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt Nam bằng một lối
văn mượt mà, sâu lắng, trữ tình, đầy chất thơ để khẳng định vị trí của mình như ông từng
nói “bề dày của một tác giả là uy tín văn học, là những đóng góp đáng kể cho văn học từng
đất nước” [6]. Trong một đời cầm bút, Đỗ Chu đã từng bước chinh phục đồng nghiệp, độc
giả bằng một số giải thưởng cao quý như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
năm 2001 với tập truyện Hương cỏ mật, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002 với
tập tùy bút Tản mạn trước đèn, Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2004 với tập truyện Một
loài chim trên sóng, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2012 với các tác
phẩm Một loài chim trên sóng, Tản mạn trước đèn.
Đỗ Chu thử sức ở nhiều thể loại. Mỗi thể loại mang nét độc đáo riêng. Đến với những
bài tùy bút, người đọc thật sự bị cuốn hút bởi vốn kiến thức sâu rộng, khả năng suy ngẫm,
chiêm nghiệm, đúc kết thành những triết lí sâu sắc của một cái tôi tài hoa, uyên bác. Từ cõi
tâm tư của mình, nhà văn đã làm phong phú hơn cõi tâm tư của độc giả. Từ chuyện đời,
chuyện người gắn với bao biến động của lịch sử, bao đổi thay, tác động cuả thời cuộc, người

chúng tôi tập trung nghiên cứu các truyện ngắn của Đỗ Chu đã thu thập được qua các tập
truyện đã xuất bản như:


Phù sa (1967)



Gió qua thung lũng (1971)



Trung du (1977)



Tháng hai (1985)



Tuyển tập truyện ngắn Đỗ Chu (2003)

6


Ngoài ra, chúng tôi tiếp cận thêm các tác phẩm thuộc các thể loại khác của Đỗ Chu để
có được cái nhìn trọn vẹn hơn về tác giả:


Đám cháy trước mặt (Tiểu thuyết, 1973)

trên các báo, tạp chí, các sách hợp tuyển, một số luận văn Thạc sĩ. Chúng tôi đặc biệt chú ý
một số nhận định về những khía cạnh nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu.
3.1. Đề tài
Đọc những truyện ngắn của Đỗ Chu, ngay từ những sáng tác đầu tay, Nhật Vũ nhận
thấy đề tài chính là những vấn đề thời sự của đất nước, của cốt cách, bản sắc văn hóa của
dân tộc “Từ những trang viết đầu tiên khi 17, 18 tuổi, ông đã bộc lộ nhiều suy tư, khi đó
dường như ông đã vượt qua những vấn đề thời sự chiến tranh đang nóng bỏng để nghĩ xa
hơn đến vấn đề cốt cách văn hóa dân tộc” [98].
Còn Lê Hương Thủy khi nghiên cứu Đặc trưng truyện ngắn Đỗ Chu đã khẳng định
rằng hiện thực đời sống chính là gốc rễ, là điểm tựa cho nhà văn khi viết truyện ngắn “Đỗ
7


Chu đã có lần nói rằng: “Cái chân đế của một tác phẩm chính là sự gắn bó với đời sống”.
Cũng bởi chính ý thức đó, cho nên, dù được xếp vào loại “tác giả truyện ngắn nghiêng về
trữ tình” sáng tác của ông vẫn luôn có sự bám rễ sâu xa vào hiện thực đời sống. Đọc truyện
ngắn Đỗ Chu, người đọc có thể thấy được bức tranh của lịch sử - một quá khứ dù có đau
thương và mất mát nhưng rất đỗi hào hùng trong những năm tháng chiến tranh và cả hiện
thực của ngày hôm nay với không ít ngổn ngang, bề bộn” [61, tr.117].
Nguyễn Văn Thọ trong Lão Mai - quế hương đời không những nhận ra được nét chung
của Đỗ Chu trong dòng văn học phản ánh hiện thực cách mạng, phục vụ nhân dân, mà còn
thấy được nét riêng trong truyện ngắn Đỗ Chu “Văn chương Việt Nam không thể thiếu ông,
nhất là khi nói đến Một nền văn học hiện đại, đồng hành với từng bước đi của nhân dân.
Nói như thế không có nghĩa văn Đỗ Chu phỏng hiện thực, mà là Văn ông không tách rời đời
sống dân tộc, có trách nhiệm với các cuộc xoay đổi lịch sử cách mạng. Lại một cách chả
giống ai, có sắc diện đặc biệt” [94].
3.2. Cảm hứng
Điểm nổi bật khác trong truyện ngắn Đỗ Chu là cảm hứng. Điều đó thể hiện qua cách
nhìn cuộc sống của nhà văn. Vương Trí Nhàn cho rằng “cảm hứng chủ đạo trong anh
thường chân tình, đầm ấm. Đó là một cái nhìn cuộc sống trong trẻo, yêu thương. Trải qua

“muốn sống có trách nhiệm và xứng đáng, cao quý và tế nhị” [31, tr.437]. Ông còn thấy
rằng nhân vật trong truyện Đỗ Chu còn là lớp người lớn tuổi “đã tham gia cuộc kháng chiến
lần trước, bây giờ lại tiếp tục hoạt động say mê và sáng tác trên cương vị mới” [31, tr.438],
là những em bé “thông minh, lanh lợi, biết đùm bọc, thương yêu nhau, ngây thơ cũng dũng
cảm, nghĩa khí như cha anh” [31, tr.438]. Từ đó, ông khẳng định “nhân vật của Đỗ Chu
đều có một cái lõi tính cách giống nhau. Tất cả đều trưởng thành hoặc được nuôi dưỡng
trong không khí cách mạng, đều có những phẩm chất tốt đẹp và rất đáng yêu” [31, tr.437].
Nhân vật của Đỗ Chu thuộc loại nhân vật “ít hành động, mà nặng yêu thương, tâm sự, hồi
tưởng” [31, tr.443].
Vương Trí Nhàn trong bài viết Đỗ Chu như là một nhà văn của những vùng quê chiến
sĩ chỉ rõ nét nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu là thế giới nhân vật. Ông gọi đó là “một thứ
nhân vật riêng”. Họ là “những con người của làng xóm, nông thôn, của thị xã, phố huyện,
có học hành, nhưng còn nguyên dáng dấp của những đứa con gia đình nghèo, chăm chỉ lao
động, yêu cuộc sống, nhanh chóng thích hợp với cuộc chiến đấu hiện nay”. Trên trang sách,
họ hiện ra thật sống động “trong nhiều công việc khác nhau, ở nhiều ngả đường khác nhau
trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”, với vẻ đẹp của “tâm hồn thật trong trẻo”, “đi vào
9


cuộc chiến đấu gian khổ một cách thanh thản, thoải mái”, “âm thầm chịu đựng mọi khó
khăn” [88] đóng góp sức mình cho sự nghiệp chung với một niềm tin phơi phới.
Theo ông, dù nhân vật khá đông nhưng Đỗ Chu đã “hiểu biết” và xây dựng thành
“những nhân vật độc đáo, có cuộc sống riêng”, thể hiện được cái “chất Đỗ Chu”. Thành
công ấy có được là bởi nhà văn có khả năng quan sát, nắm bắt, thể hiện đối tượng của mình
“Đỗ Chu đã cảm thấy họ, và cảm xúc của tác giả là gần với họ, lấy họ làm nền cho những
điều định nói”, hay nói cách khác “Đỗ Chu nắm bắt được tinh chất trong con người anh
gặp, cuộc sống anh trải qua, và anh biết quy nó vào đúng cái điều mà anh thường săn sóc”.
Dường như giữa tác giả và nhân vật không có một ranh giới nào “nhân vật chính trong
truyện, ký của Đỗ Chu bao giờ cũng là chính Đỗ Chu” [88].
Nguyễn Văn Thọ cũng nhận thấy “nhân vật của ông đa phần xoay quanh người lính

Trong phần giới thiệu của Tuyển tập Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Truyện ngắn 1945 1975, quyển 2, tập V, Bùi Việt Thắng cũng đã nhắc đến Đỗ Chu với tư cách là một nhà văn
thành công ở thể loại truyện ngắn, bên cạnh một số nhà văn khác như: Nguyễn Kiên,
Nguyễn Khải , Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi, Phan Tứ... Bùi Việt Thắng
gọi Đỗ Chu là một nhà văn “tài hoa”, “lãng tử”, với quan niệm “mỗi truyện ngắn là một
mảnh phân thân” thấm đến tận “chân tơ kẽ tóc” trên từng trang văn, với mong muốn viết
những “áng văn xuôi mọc cánh”, đã tạo nên những tác phẩm “có vẻ như là tất cả mà vẫn
không có gì” [50, tr.13], định hình phong cách văn xuôi đầy chất thơ, kế tục phong cách trữ
tình của dòng văn học trước đó với đại diện tiêu biểu là Thạch Lam “Trong văn học hiện
đại Việt Nam, có thể nói Thạch Lam là nhà văn tiêu biểu cho phong cách tự sự - trữ tình.
Truyện ngắn Thạch Lam giúp ta “cảm” được đời sống hơn là “hiểu” được nó. Văn xuôi
Thạch Lam giàu chất thơ, một thứ văn xuôi có nhạc tính. Sau năm 1945, phong cách trữ
tình trong truyện ngắn được kế tục bởi Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu, Lý Biên Cương” [50,
tr.17].
Nhật Tuấn trong bài viết Uy lực già làng Đỗ Chu có dẫn lại ý kiến của nhà thơ Trần
Mạnh Hảo viết trên Dân luận ngày 08/09/2011 “Đỗ Chu mê “Bông hồng vàng”, “Lẵng quả
thông” của Pautopxki (do Vũ Thư Hiên dịch đầu những năm sáu mươi của thế kỉ trước).
Giọng văn đầy chất thơ, lãng mạn và tươi mát như suối nguồn, như ánh trăng của nhà văn
Nga này mê hoặc Đỗ Chu và các nhà văn trẻ thời đó. Đỗ Chu đã viết các truyện đầu tay
như “Phù sa”, “Hương cỏ mật”, “Thung lũng cò”... khá hấp dẫn như một ông Pautopxki
con con” [97].
Văn Chinh đã thấy được chất trữ tình, chất thơ bàng bạc là điểm nổi bật trong truyện
ngắn Đỗ Chu. Ông cho rằng “Một chút lãng mạn Pháp, một chút cổ điển Nga và một chút lý
11


tưởng hóa Nga Xô Viết đã như những đám mây lạ được làn gió chuyển mùa làm nên mùa
xuân trên vùng quê văn hóa màu mỡ là Kinh Bắc, khiến hạt mầm nghệ sĩ vẫn còn phong kín
trong lòng đứa con rồi ra sẽ làm vinh dự cho quê hương, một đứa trẻ buồn nỗi con côi pha
lẫn niềm bâng khuâng vị thành niên, đã bật lên truyện Hương cỏ mật” làm văn đàn ngỡ
ngàng [6].

“chẳng cốt truyện, chỉ đột khởi từ một nguyên cớ rất không đâu, mỗi truyện ngắn của Đỗ
Chu ngày ấy đều đã đi rất ngọt ngào vào lòng người đọc, quyến luyến dăng dện mãi không
thôi trong tâm hồn họ” [62, tr.94].
3.4.2. Văn phong lịch lãm, sâu sắc
Cầm bút từ khi còn là học sinh, nhưng ngay từ những sáng tác đầu tay, Nguyễn Văn
Thọ đã nhận thấy một lối viết rất chững chạc, tinh tế “đem đến cho người đọc nhiều suy
nghĩ rốt ráo về tình người và trách nhiệm làm Con Người”, “Sự chín, sâu sắc tới mức, các
nhà văn đàn anh như Nguyễn Minh Châu hay Nguyễn Khải đều nhầm lẫn, cứ tin đấy là một
người già cầm bút. Sau này càng viết càng đẹp, Đỗ Chu như cây mai già đến độ mãn khai,
cho Văn chương Việt những áng văn khó trộn vào bất cứ tác giả nào. Ăm ắp tinh thần Việt,
thuần Việt, gánh theo triết luận Á Đông” [94]. Bởi vậy, văn Đỗ Chu “không bao giờ dành
cho kẻ đọc nhanh, thời thượng. Nó là sự nhẩn nha sống chậm, soi kỹ vào đáy thẳm tâm hồn
từng giai tầng, ở từng cảnh huống đời sống, buộc người đọc phải sống chậm lại, nhẩn nha
cùng tác giả; như ăn chậm, nhai kỹ để thụ hưởng tới kiệt cùng khi tận hưởng khoái lạc...”
[94].
Còn Nguyễn Việt Chiến khẳng định “Đỗ Chu là một trong số các văn tài đặc biệt của
xứ Bắc hà, một số truyện ngắn và bút ký của ông được xếp vào hạng “đặc sản” truyền kỳ
của dòng văn chương lịch lãm, thâm thúy suốt mấy chục năm qua” [73].
3.5. Kết cấu
Ngũ Nhị Song Hiền nhận thấy truyện của Đỗ Chu có nhiều kiểu kết cấu, mỗi kiểu có
một phương thức thể hiện riêng. Với kiểu “truyện không có cốt truyện”, “những trang văn
của ông chủ yếu để diễn tả cảm xúc, sự cảm nhận đời sống tinh tế của nhân vật” [34, tr.51].
Kiểu “truyện lồng trong truyện” có “điểm nối giữa các câu chuyện là những lời dẫn
chuyện” [34, tr.54] làm cho không gian, thời gian, sự kiện được mở rộng. Những truyện có
kiểu “cốt truyện đơn tuyến” thường “ít nhân vật, ít thoại, ít hành động, nhưng nhiều hồi
tưởng, nhiều độc thoại nội tâm, nhiều giọng điệu trần thuật tạo nên các bè giọng khác nhau
làm sinh động cho chuyện kể”, “tạo nên những mạch ngầm tư tưởng”, “thể hiện sự lột xác
của Đỗ Chu khỏi lối mòn trước đây” [34, tr.56-57].
3.6. Giọng điệu
13

là “những cuộc hội ngộ: chiến tranh đẩy các nhân vật vốn cùng gốc gác đi theo những

14


chặng đường khác nhau, rồi chiến tranh lại đưa họ về một con đường, họ lại gặp nhau và
nhận ra nhau vẫn như xưa. Họ chưa kịp sống chung với nhau thì truyện đã chấm dứt” [88].
Theo Nguyễn Văn Hạnh, trong truyện ngắn Đỗ Chu, nhân vật xuất hiện chưa đa dạng,
tính cách chưa rõ ràng. Phần lớn là “nhân vật chính diện”, “tuy khác nhau về tuổi tác, về
môi trường sinh hoạt, nhưng tính cách lại rất giống nhau và ít biến đổi trong tác động qua
lại đối với hoàn cảnh” [31, tr.442]. Do đó, “khi phải đề cập đến những đối tượng khác,
chuyển sang cung bậc khác, anh tỏ ra lúng túng, bất lực” [31, tr.442].
Về khả năng phản ánh hiện thực, do ngòi bút thiên về “những khía cạnh tích cực của
cuộc sống”, nên “Đỗ Chu ít có những trang viết miêu tả trực tiếp chiến tranh” [31, tr.437].
Tác phẩm của Đỗ Chu “chưa đặt ra được những vấn đề lớn, chưa nói được cái rắn rỏi, ác
liệt, cái bề bộn của cuộc sống” [31, tr.443].
Về tình huống truyện, Giáo sư cũng cho rằng “Đỗ Chu ít phân tích xã hội, không nhìn
thấy, hoặc né tránh những tình huống phức tạp” nên tình huống còn rất đơn giản [31,
tr.443]. Sự giản dị và tự nhiên vừa là ưu điểm “Một nét rất đáng qúy trọng trong sáng tác
của Đỗ Chu là tính chất giản dị và tự nhiên. Giản dị và tự nhiên trong kết cấu, trong nghệ
thuật dẫn dắt câu chuyện, trong giọng văn, trong lời văn” [31, tr.445], vừa là hạn chế, làm
cho tác phẩm có “sức khái quát nói chung còn yếu” [31, tr.443], “không cân đối, lỏng lẻo,
dàn trải” [31, tr.449].
Nhìn chung, qua các tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy những phương diện
trong truyện ngắn Đỗ Chu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Song ở cấp độ luận văn
Thạc sĩ, chưa có luận văn nào đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu.
Bởi thế, chúng tôi mong muốn được góp thêm một góc nhìn để thấy rõ hơn sự thành công
của nhà văn Đỗ Chu ở thể loại truyện ngắn. Những ý kiến của những người đi trước sẽ là
định hướng quý giá cho việc nghiên cứu của chúng tôi.


Ngoài Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1:

Thế giới nghệ thuật và hành trình nghệ thuật của Đỗ Chu

Chương 2:

Đề tài, tư tưởng, cảm thức con người trong truyện ngắn

Đỗ Chu
Chương 3:

Nghệ thuật viết truyện ngắn của Đỗ Chu.

16


CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH NGHỆ
THUẬT CỦA ĐỖ CHU
1.1. Xác định khái niệm Thế giới nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán chủ biên Thế giới nghệ thuật là khái
niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm,
sáng tác của tác giả, một trào lưu) [29, tr.302]. Thế giới ấy không trùng khít với thế giới
thực tại bên ngoài, cũng không giống y như thế giới tâm hồn con người. Đó là “một thế giới
riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng”, “có không gian riêng, thời gian
riêng, quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị
riêng... chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [29, tr.303]. Trong sự đa
dạng của thế giới văn chương, mỗi một tác giả là một thực thể có tư tưởng, quan điểm, cá
tính, dụng ý nghệ thuật riêng, mỗi một tác phẩm là một đơn vị sáng tác trong hệ thống các

tư tưởng nghệ thuật, người nghiên cứu phải căn cứ vào “tác động của hoàn cảnh khách
quan” tới sự vận động ấy để lí giải [45, tr.55].
Để nắm bắt được tư tưởng của nhà văn - yếu tố chi phối thế giới nghệ thuật của họ người nghiên cứu có thể căn cứ vào nhiều yếu tố. Trước hết là đề tài. Hiện thực cuộc sống
rất phong phú. Chất liệu từ đời sống rất đa dạng, không phải nhà văn nào khi viết cũng phải
bao quát, sử dụng hết những chất liệu ấy. Mỗi nhà văn tùy thuộc vào khả năng quan sát,
nắm bắt, tùy thuộc vào độ nhạy và độ rung của tâm hồn, tùy thuộc vào nhu cầu thể hiện,
mục đích viết, tùy thuộc vào tài năng và sở thích, họ sẽ lựa chọn “những nguồn chất liệu
phù hợp để dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của mình” [45, tr.12]. Qua nhiều tác phẩm,
mỗi nhà văn sẽ có được một hệ thống đề tài riêng, mà khi căn cứ vào đó, chúng ta sẽ hiểu
được tư tưởng của tác giả “các nhà văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích
nhất và ông ta chỉ có thể viết hay về đề tài ấy” [45, tr.12].
Sau khi xem xét nhà văn “viết cái gì ?”, với “tư tưởng ra sao?”, người nghiên cứu
phải chú ý đến việc nhà văn “viết như thế nào ?”. Tạo nên thế giới nghệ thuật, thể hiện tư
tưởng của mỗi nhà văn có rất nhiều yếu tố. Xét trong chỉnh thể văn bản, các yếu tố phải kết
hợp chặt chẽ với nhau “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó, là một
chỉnh thể. Đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất”,
có nghĩa là “quan hệ giữa các yếu tố trong chỉnh thể có tính quy luật” [45, tr.34] . Các yếu
tố ấy là hình tượng nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật... Người nghiên
cứu phải chú ý phân tích hình tượng nghệ thuật trong “quan hệ với toàn bộ tác phẩm như
18


một chỉnh thể nghệ thuật” [45, tr.16 ]. Cũng tương tự như đề tài, mỗi một nhà văn thường
có “một số hình tượng tâm huyết nhất, cứ trở đi trở lại nhiều lần như một “ám ảnh” đối với
nhà văn” [45, tr.23]. Thông qua những hình tượng ấy, người đọc hiểu rõ hơn tư tưởng, tình
cảm của tác giả.
Bên cạnh đó, những yếu tố ngoài văn bản cũng cần được lưu ý. Có chi phối đến tư
tưởng nghệ thuật, thế giới nghệ thuật của nhà văn, đó là hoàn cảnh lớn (hoàn cảnh lịch sử xã hội - văn hóa - tâm lí của thời đại tác giả sống và viết) và hoàn cảnh nhỏ (hoàn cảnh gia
đình, các mối quan hệ của nhà văn, đặc điểm con người, môi trường sống...). Trong đó,
“hoàn cảnh lớn tác động đến chiều hướng và tầm cỡ chung của tư tưởng nghệ thuật nhà

“Có con sông Thương chảy vào đời tôi, lại có dòng sông Cầu đi qua đời tôi, và có những
trang sách hay nâng bước tôi đi theo năm tháng” [18, tr.91]. Kinh Bắc đi vào các tác phẩm
của Đỗ Chu một cách tự nhiên như hơi thở, làm nên diện mạo một nhà văn, làm nên bản sắc
của một miền quê đất nước “Quê nhà chính là đôi cánh để tôi bay qua những tháng năm
hiểm nghèo về sau. Bay lên từ một truyền thống lâu đời, từ một vùng đất, vùng người như
thế, bảo tôi chỉ làm một nhà văn tầm tầm sao được chứ” [70]. Mối duyên phận giữa Đỗ Chu
và Kinh Bắc được bắt đầu rất đỗi nhẹ nhàng “tôi là một nhà văn đã được thở bằng một nền
văn hóa dân tộc trong đó miền Kinh Bắc là sự bắt đầu đầy duyên phận”, và ngày càng gắn
bó, nồng đượm, dày nghĩa, nặng tình theo suốt một đời cầm bút “càng về già trong lòng
càng thương nhiều hơn, yêu nhiều hơn. Từ nội lực ấy, không một người cầm bút nào là lại
không thèm được nghĩ, được viết tiếp như con chim cuối đời muốn gửi lại cho mai sau
những tiếng hót cuối cùng. Đó là những âm thanh trân trọng, gửi gắm” [72].
Tình yêu tha thiết ông dành cho quê hương, đất nước được biểu hiện ở niềm tự hào về
vẻ đẹp của cảnh vật, của con người, ở ý thức giữ gìn và phát huy khả năng biểu đạt của
ngôn ngữ nước nhà “Tổ quốc của tôi, những thiếu nữ mắt đen tóc đen, biển xanh, trời xanh,
đất nâu và gió mùa. Nhưng yêu quý hơn cả là những mái tóc điểm sương của các bà các
chị. Tôi nhìn vào những mái tóc ấy để sống, để nghĩ ngợi, để viết và để vẽ. Người tôi biết ơn
hơn hết là mẹ. Nơi gần gũi nhất với tôi là Hà Nội. Tiếng tôi hiểu nhất là tiếng Việt. Cảm ơn
cha mẹ đã cho tôi sinh ra để làm một nhà văn của xứ sở này” [50, tr.161].
Tình yêu quê, yêu nước hiện diện trong ông như một lẽ thật tự nhiên, hòa quyện thành
lí tưởng của kẻ làm trai thời binh biến. Học hết trung học, cuộc chiến chống Mỹ bước vào
giai đoạn đầy cam go, khốc liệt, ông đầu quân, trở thành “anh bộ đội”, thành “người chiến
sĩ”. Khi ấy, cậu học trò Chu Bá Bình cảm thấy “hởi lòng hởi dạ”, vì ngay từ nhỏ đã được
dạy rằng “mấy từ người chiến sĩ có mang một ý nghĩa cao quý, vì nhân dân mà phục vụ vì
Tổ quốc mà hi sinh” [76]. Để rồi đi gần hết đời người, trải nghiệm nhiều, xông pha nhiều,
20


vất vả, cay đắng cũng nhiều, tự đáy lòng mình, ông nhận thấy “Tổ quốc một tình yêu lớn
hơn mọi tình yêu đứng trên tất cả những gì đúng sai khôn dại, để ta phải có những đêm dài

Điều mà Đỗ Chu khiến chúng ta kính trọng là sự uyên bác. Với vốn kiến thức phong
phú, sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực: văn chương, lịch sử, triết học, tôn giáo, những trang
viết của ông thật sự cuốn hút người đọc.
1.2.1.3. Con người giản dị, khiêm nhường mà nghiêm túc, sâu sắc
Đỗ Chu từng chia sẻ “tôi sống cũng giản dị như viết, không có gì là cầu kỳ. Văn là
người. Viết về những cái quanh mình, về mình và sống cùng mọi người” [89]. Đó không
phải là sự giản dị theo kiểu xuề xòa, hời hợt, mà là sự khiêm nhường, hướng đến lối sống
tĩnh lặng. Với ông “Lặng lẽ, âm thầm, cô đơn được thì càng tốt. Và đôi khi mình phải chấp
nhận để người ta quên mình đi. Nhà văn không phải diễn viên” [90]. Trong con mắt đồng
nghiệp, ông là một người “đọc nhiều, sức nhớ tốt, trí thông minh hơn người, lại biết khái
quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của mình”, nổi trội ở khả năng “quan
sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác
phẩm” [82], lại “có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì. Trí tưởng
tượng ấy lại được phù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao
với từng con chữ, từng dòng viết” [80], nên Đỗ Chu khiến người đọc không ít lần phải dừng
lại để cùng ngẫm nghĩ với những điều ông đã chiêm nghiệm, đúc kết về chuyện đời, chuyện
nghề.
1.2.2. Hoạt động văn chương
1.2.2.1. Quan niệm sáng tác
Đỗ Chu xem việc cầm bút là hạnh phúc “Tôi xem việc được cầm bút viết những trang
văn gửi tới nhân dân mình vừa là một sứ mệnh lại vừa là một hạnh phúc” [96]. Bởi thế,
trong quá trình lao động nghệ thuật, ông hướng mình vào những suy nghĩ đúng đắn, những
nguyên tắc khắt khe về nghề viết và trách nhiệm của một người cầm bút.
Ông coi trọng sứ mệnh của văn chương “Văn học dẫu là quan trọng đến đâu thì mãi
mãi nó vẫn chỉ có một việc bồi đắp cho đời sống tinh thần của con người giàu có thêm
những giá trị thuộc về chân - thiện - mỹ ” [89]. Quá trình cầm bút là hành trình tự nhận
thức, tìm kiếm, sáng tạo, lưu truyền, tôn vinh cái đẹp, nâng cao nhận thức, làm phong phú
tâm hồn con người “Tôi nghĩ rất nhiều và viết cũng không ít. Với tôi, viết vừa là sáng tạo
vừa phải là nhận thức. Nó như là một sự tu thân, tự dạy mình trong sống trong nghĩ. Sống
22

Ông khinh lối viết văn theo kiểu vội vàng, tính toán của con buôn, chạy theo những
ham hố tầm thường “Cái đáng sợ là ở sự chuẩn bị thiếu chu đáo trong bản lĩnh, trong trí

23


Trích đoạn Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam những năm Lời văn đa giọng điệu Xây dựng ngoại hình nhân vật Khắc họa ngôn ngữ và hành động nhân vật Miêu tả nội tâm nhân vật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status