MỤC LỤC
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
LỜI GIỚI THIỆU
Cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay hoạt động
đấu thầu sẽ giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất
những yêu cầu của mình, nhờ đó họ có được những công trình có chất lượng
cao, giá cả hợp lý. Tuy nhiên, hoạt động đấu thầu đang còn rất mới mẻ ở nước
ta hiện nay, và trong cơ chế thị trường sự cạnh tranh rất khốc liệt và đó là một
trong những động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong hoạt động đấu
thầu: cạnh tranh đó là cạnh tranh về chất lượng công trình, cạnh tranh về giá
bỏ thầu, cạnh tranh về tiến độ thi công và sự cạnh tranh này giúp cho các nhà
thầu trưởng thành hơn về mọi mặt. Cùng với sự đòi hỏi ngày càng cao của các
chủ đầu tư về tiến độ thi công, chất lượng công trình...đòi hỏi các nhà thầu
phải luôn cố gắng nỗ lực để nâng cao năng lực của mình. Trong quá trình thực
tập tại công ty Cổ phần xây dựng công trình giao thông 872, tôi thấy để thu
hút được các dự án đầu tư một cách hiệu quả thì cần thiết phải nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng trở nên gay gắt thông qua hình thức đấu thầu. Chính từ thực
tế đó và qua quá trình thực tập tại công ty tôi thấy đấu thầu là hoạt động rất
quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ công ty xây dựng
nào. Do đó tôi đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu
của công ty Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao Thông 872” với mong
muốn góp một phần nào đó cho sự phát triển đi lên của công ty.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu.
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu ở công ty
Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao Thông 872.
Chương III : Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu
của công ty Cổ Phần Xây Dựng Công Trình Giao Thông 872.
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Lê Thị Anh Vân đã tận tình giúp đỡ tôi
“Đấu thầu”: thuật ngữ này đã được xuất hiện trên thế giới từ rất lâu
nhưng nó mới tồn tại ở nước ta hơn hai chục năm nay bởi nó chỉ xuất hiện
trong nền kinh tế thị trường. Theo quy chế đấu thầu hiện nay của nước ta:
“Đấu thầu đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời
thầu. Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc
đấu thầu. Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu
thầu. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà tư vấn trong
đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư,
nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hàng hóa”.
Bên cạnh đó đấu thầu còn được hiểu là quá trình thực hiện một hoạt
động mua bán đặc biệt nào đó mà bên mua yêu cầu bên bán cung cấp những
bản chào hàng cho một công trình, dịch vụ hoặc một hàng hóa cần mua nào
đó trên cơ sở những bản chào hàng, bên mua sẽ lựa chọn cho mình một hoặc
nhiều bên bán tốt nhất và phù hợp với mình nhất. Đấu thầu giúp cho bên mua
mua được dịch vụ, công trình hay hàng hóa mình cần một cách tốt nhất, sử
dụng ngân quỹ của mình một cách hiệu quả nhất.
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu.
Đấu thầu là một quá trình mà chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu
đáp ứng các yêu cầu của mình vì vậy trong đấu thầu có các đặc điểm sau:
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
2
Thứ nhất xét về bản chất sâu xa thì đấu thầu đó là một hoạt động mua
bán rất đặc biệt vì trong hoạt động đấu thầu người mua tức bên mời thầu có
quyền lựa chọn cho mình những người bán hay chính là nhà thầu tốt nhất cho
mình.
Thứ hai đấu thầu chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, cũng như
những đặc tính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường thì nó cũng mang
tính cạnh tranh gay gắt, người mua tổ chức đấu thầu để các nhà thầu (người
bán) ganh đua cạnh tranh với nhau, với mục tiêu của người mua là có được
Đấu thầu chọn lọc: trong hình thức này chỉ một số nhà cung cấp có đủ
điều kiện cần thiết mới được dự thầu. Các điều kiện này chỉ nhằm đảm bảo
nhà thầu có đủ năng lực kỹ thuật, tài chính để thực hiện hợp đồng chứ không
được nhằm dành ưu đãi cho một số nhà cung cấp nào đó.
Đấu thầu hạn chế: hình thức này có sự thương lượng trực tiếp với một
số nhà cung cấp được chỉ định, và chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc
biệt, khi không có đơn bỏ thầu trong đấu thầu mở và đấu thầu chọn lọc, hoặc
các đơn đều không áp ứng đủ điều kiện, hoặc khi mua sắm các phụ kiện bổ
sung, thay thế từ một nhà thầu đã được chọn.
1.2 Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu.
1.2.1 Khái niệm.
“Năng lực cạnh tranh” là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể
duy trì tồn tại ở vị trí của nó một cách lâu dài và có cơ hội phát triển lớn mạnh
lên trên thị trường cạnh tranh, phải đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít
nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra. Năng
lực cạnh tranh có thể chia thành ba cấp:
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
4
Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội,
nâng cao đời sống của nhân dân.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
và ngoài nước. Năng lực của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có được.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần
của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa
vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa
trong sản phẩm dịch vụ đó.
bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt khi chủ đầu tư tiến hành đánh giá chi tiết
hồ sơ dự thầu, trong đó năng lực tài chính là yếu tố được đánh giá xem xét
hàng đầu và cũng là yếu tố chủ đạo tạo ra sự khác biệt giữa các nhà thầu, còn
về năng lực kỹ thuật khi đã vào đến vòng này thì hầu hết các nhà thầu đều
đảm bảo rất tốt về mặt kỹ thuật, vì vậy “tài chính” chính là yếu tố trực tiếp
ảnh hưởng tới cuộc cạnh tranh trong lúc này.
Phần lớn các công trình xây dựng đều được tiến hành với số vốn rất
lớn, mà chủ đầu tư lại phải chi phần lớn số vốn đó cho việc tiến hành thi công
công trình, thường thì là chỉ tới khi hoàn thành được 80% công việc nhận thầu
thì chủ đầu tư mới thanh toán cho nhà thầu theo đợt hoặc theo thoả thuận từ
trước. Chính vì vậy mà chủ đầu tư xây dựng phải đảm bảo các điều kiện về
năng lực tài chính: “vốn tự có, lợi nhuận ba năm liên tiếp, vốn vay, thu nhập
bình quân của lao động trong doanh nghiệp…” theo đúng các yêu cầu mà chủ
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
6
đầu tư đưa ra. Đảm bảo được những điều này nhà thầu có thể tạo được niềm
tin với các đối tác là các chủ đầu tư, bên cạnh đó bên mời thầu cũng phải
được đảm bảo về mặt tiến độ, chất lượng, và chi phí để hoàn thành công trình.
Nếu như nhà thầu nào không thể đáp ứng những điều kiện mà chủ đầu tư đã
yêu cầu trong hồ sơ mời thầu thì sẽ không có tư cách tham gia đấu thầu. Và
đó là điều đương nhiên và những yêu cầu về năng lực tài chính chính là
những tiêu chí cơ bản cho thấy khả năng tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, nhà đầu tư cần hợp tác với một doanh nghiệp “đang sống” chứ không
cần hợp tác với một doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, nợ nần chồng
chất, đời sống công nhân viên người lao động không được đảm bảo thì thử hỏi
họ làm sao mà có thể yên tâm tận tâm tận lực với công việc được giao.
Bản chất của đầu tư chính là bỏ vốn và sinh lợi nhuận, vốn ít mà lợi
nhuận cao, đồng vốn bỏ ra luôn an toàn luôn là mong muốn lớn nhất và là mối
quan tâm hàng đầu của chủ đầu tư . “Chọn mặt gửi vàng” nên chủ đầu tư tất
nhiên phải quan tâm tới yếu tố tài chính của nhà thầu. Đó cũng là lí do khiến
1.2.3 Tiêu thức đánh giá.
Trong thực tế hiện nay chưa có một tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân
nào đưa ra một tiêu thức chuẩn để đánh giá năng lực cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, bởi để làm được điều đó đòi hỏi chúng ta phải chuyên nghiệp
hơn trong công tác đấu thầu, khảo sát thăm dò thị trường. Tuy nhiên để có thể
ước lượng được khả năng thắng đầu của doanh nghiệp mình, các doanh
nghiệp có thể dựa trên một số tiêu thức sau:
1.2.3.1 Các chỉ số về khả năng thanh toán nhanh
Phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán hiện hành: chỉ tiêu này là thước do khả năng có
thể trả nợ của tổ chức, nó chỉ ra phạm vi, quy mô và các yêu cầu của chủ nợ
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
8
sẽ được trang trải bằng những tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền
trong thời kỳ phù hợp với hạn trả nợ.
Tiền + chứng khoán ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện hành = ----------------------------------
Nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = ---------------------
Nợ ngắn hạn
Tổng tài sản lưu động – tài sản dự trữ
Khả năng thanh toán nhanh = ----------------------------------------------
Tổng nợ lưu động
Tài sản dài hạn
Khả năng thanh toán nợ dài hạn = ------------------
Nợ dài hạn
1.2.3.2 Tỷ suất sinh lời
Cho biết tỷ suất sinh lời trên một đồng doanh thu thu được, và trên một
đồng tài sản bỏ ra đầu tư.
Fax: 04.8614059
Email: [email protected].
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
10
Tiền thân của công ty CPXDCTGT 872 là tổng đội thanh niên xung
phong 572. Được thành lập vào tháng 5 năm 1972 với các tên là Tổng đội
Thanh niên Xung phong 572. Trong những năm đầu thành lập nhiệm vụ trọng
tâm của Tổng đội là cải tạo, sủa chữa đảm bảo thông thoáng những con đường
huyết mạch từ vùng căn cứ Lào ra mặt trận.
Đến năm 1975 mặc dù nước ta và nước bạn Lào hoàn toàn độc lập
nhưng những hậu quả của chiến tranh đã gây ra những tồn thất rất lớn mà
chưa giải quyết được hết. Ngày 29/9/1975 Bộ GTVT đã có quyết định số
2171/QĐ- TC chuyển Tổng đội Thanh niên 572 thành công trường 572 thuộc
Liên hiệp các Xí nghiệp Giao thông 8 với nhiệm vụ tiếp tục sang xây dựng
công trình giao thông vận tải giúp nước bạn Lào khôi phục và phát triển kinh
tế đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Cho đến ngày 30/11/1982 Bộ giao thông vận tải có quyết định số
1916/QĐ- TC ngày 30/11/1982 đổi tên thành Xí nghiệp Xây dựng đường 572
thuộc Liên hiệp các xí nghiệp giao thông 8.
Và đến năm 1989 căn cứ theo QĐ số 1968/ QĐ- TC ngày 2/10/1989
của Bộ giao thông vận tải Xí nghiệp Xây dựng đường 572 được đổi tên thành
Xí nghiệp Xây dựng Công trình giao thông 572 thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp
Giao thông 8.
Trong những năm xây dựng, suốt quá trình công tác, dù bất cứ hoàn
cảnh khó khăn nào, Xí nghiệp Xây dựng Công trình vẫn luôn nêu cao ý trí
quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sản lượng năm sau cao hơn năm
trước. Để góp phần làm tròn nhiệm vụ quốc tế vinh quang của Đảng trên đất
bạn Lào.
Đầu những năm 1990 được đổi thành công ty Xây Dựng Công Trình
872 theo quyết đinh số 69/QĐ- TCCB- LĐ ngày 09/01/1992 thời kỳ này đã
13
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
01 Chủ Tịch
01 Phó Chủ Tịch
05 Thành Viên
BAN KIỂM SOÁT
BỘ MÁY ĐIỀU HÀNH
01 Giám Đốc
03 Phó Giám Đốc
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
QUẢN TRỊ
PHÒNG
VẬT TƯ
THIẾT BỊ
PHÒNG KẾ
TOÁN TÀI
CHÍNH
PHÒNG KẾ
HOẠCH –
KINH
DOANH
PHÒNG DỰ
ÁN - KCS
PHÒNG TỔ
CHỨC CÁN
BỘ - LAO
ĐỘNG
ĐỘI KHẢO SÁT THIẾT
Minh
Chi
nhánh
công ty
tại tỉnh
Long An
Chi
nhánh
công ty
tại tỉnh
Thanh
Hóa
Xí
nghiệp
CT và
KD Tổng
hợp
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân
danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty
không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Gồm 01 chủ tịch HĐQT,
01 phó chủ tịch HĐQT và các ủy viên HĐQT. Chịu trách nhiệm quản lý toàn
bộ công ty, lãnh đạo điều phối hoạt động, quan hệ với cấp cùng ngành, với
tổng công ty, quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế
hoạch kinh doanh hàng năm của Công ty trên cơ sở các mục đích, chiến lược
do Đại hội đồng cổ Đông thông qua.
Ban kiểm soát: do hội đồng quản trị bầu ra và phải chịu trách nhiệm
trước hội đồng. Có chức năng giám sát HĐQT, giám đốc trong việc điều hành
quản lý công ty, chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện
các nhiệm vụ được giao. Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và
mức độ cẩm trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ
các chế độ chính sách tiền lương với công nhân viên. Lập kế hoạch theo dõi
khấu hao của tài sản cố định, các tài khoản của công ty, lập sổ sách theo dõi
các quỹ của xí nghiệp. Báo cáo quyết toán quý, năm theo quy định của cấp
trên. Hướng dẫn tổ, đội sản xuất về công tác hoạch toán và giao khoán, công
tác thu chi tài chính.
Phòng kế hoạch – kinh doanh: Căn cứ vào các biểu thiết kế công
trình lọc, tách khối lượng, lập các phương án tổ chức thi công, kiểm tra các
công trình theo đúng thiết kế, đảm bảo tiến độ công trình. Đồng thời lập kế
hoạch, lên các phương án kinh doanh sao cho phù hợp với các mục tiêu của
công ty, lập dự toàn công trình, lập các dự án đầu tư ngắn hạn, dài hạn, thống
kê tình hình hoạt động của công ty. Chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác kế
hoạch của công ty và lập các mô hình về quy mô sản xuất, kế hoạch tác
nghiệp, giao khoán cho các đơn vị trực thuộc.
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
15
Phòng dự án – KCS: là phòng tham mưu cho lãnh đạo công ty, trong
quản lý chất lượng, kỹ thuật, đôn đốc và thực hiện biện pháp tổ chức thi công
các công trình, giám sát thực hiện quy trình công nghệ sản xuất cảu các đơn vị,
tham gia công tác hoàn thiện định mức kinh tế nội bộ, lập hồ sơ đấu thầu, chọn
thầu và chịu trách nhiệm về nghiên cứu tìm hiểu về các dự án, tiến hành đấu thầu
để thu hút được các dự án, gói thầu cho công ty, và thống kê danh số các dự án
mà công ty đã hoàn thành, các dự án mà công ty dự định tiến hành thi công trong
thời gian tới. Bên cạnh đó phòng còn lập kế hoạch kinh doanh và thiết kế các
chương trình, chiến lược, dự án trong ngắn hạn và dài hạn cho công ty.
Phòng tổ chức cán bộ - lao động: Dựa trên cơ sở giá trị sản lượng kế
hoạch hàng năm, phòng tham mưu cho giám đốc trong việc lập kế hoạch lao
động tiền lương, sắp xếp định liên cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh
doanh của công ty. Lập báo cáo định kỳ về công tác tổ chức lao động và tiền
lương.
Các đội: với chức năng là xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi,
9 Đầu tư xây dựng các công trình GTVT theo hình
thức BT
10
10 Thi công các công trình dân dụng 24
(Nguồn:Phòng dự án KCS – Công ty CPXDCTGT 872 )
Từ bảng trên ta thấy số năm kinh nghiệm mà công ty đã trải qua tương
đối dày dặn, trong thi công các công trình dân dụng công ty có tới 24 năm
kinh nghiệm, trong khi đó các doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh như
công ty CPXDCTGT 873 mới chỉ có 16 năm kinh nghiệm như vậy cho thấy
trong lĩnh vực đấu thầu các công trình dân dụng thì công ty CPXDCTGT 872
có một lợi thế hơn bật so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh.
Đồng thời bên cạnh đó ngay sau khi được thành lập công ty đã bước
vào thi công nền, móng mặt đường đồng bằng và miền núi, và thi công mặt
đường nhựa, bê tông Asphalt, bê tông xi măng và đã có những công trình
được đánh giá cao về về số lượng, chất lượng công trình hoàn thành và tiến
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
17
độ thi công, như công trình như: “Thi công 60 Km Móng, Mặt đường theo
quy tình AASHTO, thuộc đoạn Ca Xi – Xa La Phu Khun, Đường 13, công
trình thắng thầu quốc tế của Cei 18 tại nước bạn Lào”, và đường Hồ Chí Minh
đoạn qua Thanh Hóa - Nghệ An Km144-Km154+772. . .. Sau đó theo thời
gian và kinh nghiệm công ty đã mở rộng ra các lĩnh vực thi công khác đa
dạng hơn đó là: Thi công cầu thép, cầu bê tông cốt thép thông thường.; Thi
công các công trình dân dụng.; Thi công sân bay.; Thi công các công trình
thủy lợi.; Thi công cảng sông, cảng biển.; Xử lý nề đất yếu.; Thi công cầu
theo quy trình AASHTO.; Đầu tư xây dựng các công trình GTVT theo hình
thức BT. Với sự cố gắng nỗ lực về mọi mặt trong suốt quá trình phát triển và
linh hoạt mở rộng lĩnh vực kinh doanh, công ty đã đạt được thành tích đáng
kể trong lĩnh vực đấu thầu. Tiêu biểu được thể hiện trên bảng “kết quả đấu
thầu qua các năm 2007 – 2009 của công ty CPXDCTGT 872”.
thắng được nhiều công trình. Trước tình hình thực tế khủng hoảng của cả nền
kinh tế nên số công trình mà tổng công ty chỉ định thầu và hoàn thành không
có nhiều thay đổi trong các năm. Tuy nhiên số công trình dự kiến hoàn thành
bàn giao tăng đều trong các năm từ năm 2007 đến năm 2009, trong khi những
biến động về giá cả nguyên vật liệu và những chi phí phát sinh trong quá trình
thực hiện đấu thầu và thi công công trình do tính toán không cẩn thận đã kiến
cho công ty phải chịu thêm những khoản kinh phí không đáng có, nhưng với
tổng hòa các năng lực, kinh nghiệm bao năm trong ngành mà công ty có được
thì việc đặt mục tiêu tăng dần càng thúc đẩy công ty cần nỗ lực hơn nữa trong
mọi lĩnh vực hoạt động và từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
tốt hơn so với các doanh nghiệp khác trên thương trường.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng vậy, những tháng đầu năm luôn là thời
điểm bận rộn của toàn thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, công ty
CPXDCCTGT 872 cũng vậy, để có thể chắc chắn có một kết quả tốt khi tham
gia dự thầu đòi hỏi tất cả các thành viên trong công ty phải nỗ lực cố gắng hết
mình trong công việc. Hoạt động đấu thầu cần phải kết hợp nhiều loại kiến
thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nó là cả một công đoạn khảo sát, thăm dò,
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
19
tìm kiếm chứ không đơn giản là mua một bộ hồ sơ mời thầu xong đem về
công ty ngồi tại chỗ soạn thảo mọi điều theo như hướng dẫn và đem đi dự
thầu. Nếu như vậy thì làm sao có thể vui vẻ tham gia dự thầu được, làm sao
có thể dám chắc nếu thắng thầu công ty sẽ không bị thua lỗ được. Tất nhiên
trong mọi cuôc chơi đều có người thắng, người thua, và trên lĩnh vực đấu thầu
xây dựng của công ty CPXDCTGT 872 cũng vậy, đã có rất nhiều công trình
thắng thầu, nhưng bên cạnh đó công ty không ít lần bại dưới các nhà thầu
khác, tuy nhiên những lần thất bại đó lại là cơ hội cho công ty nhận ra những
điểm yếu hiện công ty mình đang còn tồn tại, và là cơ hội cho việc khắc phục
những điểm yếu đó, đồng thời công ty đã rút ra được rất nhiều bài học quý
báu cho mình, và đương nhiên vào những lần đấu thầu sau công ty sẽ tự tin
<5 >=5 >=10 >=15
I Đại học và trên đại học 76
1 Kỹ sư cầu đường 37 12 8 9 8
2 Kỹ sư xây dựng 10 3 4 2 1
3 Kỹ sư khảo sát thiết kế 4 1 2 1 0
4 Kỹ sư cơ khí, máy xây dựng 5 1 1 2 1
5 Kỹ sư kinh tế - xây dựng 4 0 1 2 1
6 Cử nhân kế toán tài chính 6 0 4 1 1
7 Cử nhân QTKD 6 2 2 2 0
8 Kỹ sư tin học 1 1 0 0 0
9 Kỹ sư điện 2 0 1 1 0
10 Bác sĩ 1 0 0 0 1
II Cao đẳng và trung cấp 66
1 Cao đẳng cầu đường 15 6 5 4 0
2 Cao đẳng TC – KT 6 3 2 1 0
3 Cao đẳng mỏ địa chất 5 2 2 1 0
4 Trung cấp cầu đường 17 6 4 1 6
5 Trung cấp kế toán 14 5 3 4 2
6 Trung cấp cơ khí 1 0 1 0 0
7 Trung cấp xây dựng 4 4 3 1 0
(Nguồn:Phòng tổ chức cán bộ lao động – Công ty CPXDCTGT 872 )
Giáp Thị Mai Kinh tế và quản lý công 48
21
Vấn để tổ chức quản lý của công ty có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi hoạt
động, mọi cá nhân trong công ty, nó có thể là ưu thế thúc đẩy công ty phát triển
như: trình độ của ban lãnh đạo, và sự quan tâm của lãnh đạo công ty đến hoạt
động đấu thầu; cơ cấu tổ chức phải linh hoạt; mối quan hệ tốt của công ty với
các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp chính quyền,. . . Nhưng bên cạnh đó
cũng có thể là yếu điểm gây cản trở việc hoạch định và thực hiện các chiến
lược cạnh tranh trong khi tham gia đấu thầu trên thị trường như: vẫn còn ảnh