thực trạng nhận thức về tình dục ở học sinh một số trường thpt tại tp hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trịnh Văn Điềm

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ
TÌNH DỤC Ở HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG THPT TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trịnh Văn Điềm

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ
TÌNH DỤC Ở HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG THPT TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành

: Tâm lý học

Mã số

: 60 31 04 10


Trịnh Văn Điềm


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
T
1

Lời cảm ơn
T
1

1T

1T

Mục lục
T
1

Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
T
1

1T

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................ 5
T

T
1

1.2.1. Một số vấn đề về nhận thức ..................................................................... 12
T
1

1T

1T

T
1

1.2.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT ...................................................... 19
T
1

T
1

1.3. Các vấn đề lý luận liên quan tới tình dục ........................................................... 21
T
1

T
1

1.3.1. Khái niệm về tình dục, QHTD ................................................................. 21
T

1

1.5. Nhận thức về TD của học sinh THPT ................................................................ 37
T
1

T
1

1.5.1. Nhận thức về TD ...................................................................................... 37
T
1

1T

1.5.2. Một số vấn đề về TD ở tuổi học sinh THPT ............................................ 38
T
1

T
1

1.5.3. Hậu quả khi QHTD tuổi HS THPT .......................................................... 39
T
1

T
1

1.5.4. Tiêu chí đánh giá nhận thức về các vấn đề TD của học sinh THPT .............. 42

1

2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .................................................... 45
T
1

T
1

2.1.3. Phương pháp thống kê toán học: .............................................................. 55
T
1

T
1

2.2. Thực trạng nhận thức về tình dục của học sinh một số trường THPT tại
T
1

TP.HCM ......................................................................................................... 55
1T

2.2.1. Nhận thức của học sinh THPT về khái niệm tình dục ................................ 55
T
1

T
1


T
1

T
1

2.2.7. Quan điểm về QHTD của học sinh THPT ............................................. 123
T
1

T
1

2.2.8. Khảo sát thực trạng hành vi mức độ tình dục tuổi học sinh .................. 124
T
1

T
1

2.3. Nguyên nhân của thực trạng nhận thức về tình dục của học sinh một số
T
1

trường THPT tại Tp.HCM............................................................................ 125
T
1

2.4. Một số biện pháp nhằm cải thiện thực trạng nhận thức của học sinh một số
T

T
1

T
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 135
T
1

PHỤ LỤC
T
1

1T

1T


BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
1.

BLTQĐTD

:

Bệnh lây truyền qua đường tình dục

2.


6.

QHTD

:

Quan hệ tình dục

7.

SKSS

:

Sức khỏe sinh sản

8.

TB

:

Trung bình

9.

TD

:


Phân bố mẫu nghiên cứu ..................................................................... 53

Bảng 2.1.

Nhận thức của học sinh về khái niệm tình dục tình dục .................... 55

Bảng 2.2.

Nhận thức của học sinh về khái niệm tình dục .................................. 57

Bảng 2.3.

Nhận thức của học sinh về khái niệm tình dục ................................... 58

Bảng 2.4.

Nhận thức của học sinh về khái niệm tình dục ................................... 59

Bàng 2.5.

Nhận thức về mức độ hành vi tình dục, mức độ biết ......................... 61

Bàng 2.6.

Nhận thức về mức độ hành vi tình dục, mức độ hiểu ......................... 63

Bảng 2.7.

Nhận thức về mức độ hành vi tình dục, mức độ vận dụng ................. 65


So sánh thực trạng hành vi thủ dâm học sinh các khối lớp ................. 85

Bảng 2.16.

So sánh thực trạng hành vi thủ dâm học sinh nội thành và ngoại thành ..... 86

Bảng 2.17.

So sánh thực trạng hành vi thủ dâm học sinh nam và nữ .................... 87

Bảng 2.18.

Mức độ nhận biết của học sinh về xu hướng HVTD khác giới .......... 88

Bảng 2.19.

Mức độ thông hiểu của học sinh về HVTD khác giới ........................ 90

Bảng 2.20.

Mức độ vận dụng nhận thức của học sinh … ..................................... 92

Bảng 2.21.

Mức độ biết về xu hướng HVTD đồng giới ........................................ 94

Bảng 2.22.

Mức độ thông hiểu của học sinh về HVTD đồng giới ........................ 96



T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1


T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1


T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1


Bảng 2.27.


Bảng 2.35.

Mức độ thông hiểu về hậu quả QHTD ở tuổi học sinh .................... 120

Bảng 2.36.

Nhận thức mức vận dụng về hậu quả QHTD ở tuổi học sinh ........... 121

Bảng 2.37.

Quan điểm về QHTD của học sinh ................................................... 123

Bảng 2.38.

Thực trạng hành vi tình dục tuổi học sinh ......................................... 124

Bảng 2.39.

Nguyên nhân của thực trạng nhận thức về tình dục còn hạn chế ...... 125

Bảng 2.40.

Thứ tự ưu tiên các biện pháp nâng cao nhận thức về TD ................. 129

T
1

T
1


T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

T
1

bước, còn sự trưởng thành về mặt tâm lý, về xã hội, kinh nghiệm sống thì chậm hơn
rất nhiều.
1.2. Dưới tác động của cơ chế thị trường, một nền văn hóa mở, cùng với đó là
sự phát triển bùng nổ của internet, điện thoại, sách báo các loại đã tác động mạnh
mẽ đến đạo đức lối sống của thanh thiếu niên. Bên cạnh mặt tích cực nó mang lại
thì vẫn còn đó mặt tiêu cực, đó là lối sống buông thả của giới trẻ hiện nay, mà đặc
biệt là các em học sinh lứa tuổi THPT bị ảnh hưởng nặng nề mặt tiêu cực này. Các
em có quản điểm khá thoáng về vấn đề tình yêu và tình dục. Xét về mặt sinh học,
lứa tuổi học sinh THPT đang ở độ phát triển mạnh về mặt tính dục. Các chức năng
bộ máy sinh sản và hoóc môn sinh dục phát triển và đi vào dần hoàn thiện. Cùng
với đó là sự phát triển về mặt tâm lý, tâm lý thích tò mò thích khám phá cũng phát
triển mạnh ở giai đoạn này. Vì vậy mà vấn đề các em ở lứa tuổi này có những đòi
hỏi theo bản năng là điều đễ hiểu. Maslow từng nói: “nhu cầu bản năng là một quy
luật, nó như dòng chảy ta không thể ngăn chặn mà chỉ nên uốn dòng sông theo một
hường khác”
1.3. Thực tiễn trong công tác tham học đường vấn tại trường THPT Bình
Khánh, huyện Cần Giờ của bản thân cũng như trên sách báo thông tin đại chúng thì
vấn đề học sinh có quan hệ tình dục không còn là vấn đề xa lạ. Nhiều trường hợp
học sinh đặt câu hỏi với nhà tham vấn “có nên quan hệ tình dục tuổi này”? Nhiều
em tự nhận là đã có quan hệ tình dục và cho rằng ngày nay đây là điều bình thường,


2

đã yêu thì phải quan hệ tình dục, quan hệ tình dục mới chứng tỏ là tình yêu. Tuy
nhiên cũng có những em lại cho rằng đây điều không thể chấp nhận, không thể xảy
ra ở tuổi học trò. Theo số liệu của trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em – kế
hoạch hóa gia đình. Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 có 142.884 ca nạo phá
thai trong đó có 1.423 ca mẹ dưới 18 tuổi. Năm 2009 có 2.423 ca nạo phá thai mẹ
dưới 18 tuổi.

nhận thức của học sinh THPT ở một số trường tại TP.HCM về vấn đề TD
- Khách thể nghiên cứu: 155 học sinh khu vực ngoại thành và 207 học sinh
khu vực nội thành
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT tại địa bàn Tp.HCM
7. Phương Pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài, tôi lựa chọn và sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Thu thập, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu khoa học có liên
quan tới đề tài làm cơ sở lý luận định hướng cho việc tìm hiểu thực tiễn.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài. Dựa trên cơ sở lý luận, các
đề tài tham khảo có liên quan, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu
mức độ nhận thức của học sinh THPT về TD ở tuổi học sinh.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Phương pháp này dùng để hỗ trợ cho phương pháp điều tra nhằm
tìm hiểu những vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc hơn, những giải thích rõ ràng
hơn mà trong các phiếu điều tra không thể thể hiện rõ.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê
SPSS 11.5
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có các phần sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu


4


T
0

tình dục của con người.
Tình dục học (human sexuality studies) là một môn khoa học xã hội bao gồm
nhiều bộ môn khoa học khác nhau: xã hội học, văn hóa học, nhân học, lịch sử, phụ
nữ học, giới học, triết học, sinh học, v.v. Khoa học tình dục được ra đời từ khoảng
giữa thế kỷ 20 nhằm nghiên cứu hành vi tình dục của loài người nhằm giải thích cho
nhiều hiện tượng, hành vi tình dục khác nhau chẳng hạn như nhận dạng, định
hướng,sở thích tình dục dưới khía cạnh của những phân tích văn hóa, các định kiến
xã hội, quyền lực, bất bình đẳng giới, phân biệt chủng tộc... nhằm hướng tới sự
công bằng xã hội. Tuy khoa học về tình dục ra đời muộn nhưng trước đó đã có
nhiều tác phẩm văn học đề cập tới vần đề này.
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới
- Kama Sutra là một cuốn sách Ấn độ cổ, biên khảo về tình dục được viết
0T

0T

bằng tiếng Phạn. Tác phẩm gồm 7 phần, với khoảng 1.250 khổ thơ được cho là do
T
0

1
T
0

1T

thiền sư Bà la môn Mallanaga Vatsyayana, sống ở Pataliputra, phía bắc Ấn Độ, viết

T
0

0
1T

0T

0T

1
0T

0
1T

0T

được hiểu là những luận bàn về tình yêu thể xác. Những luận bàn đó có nguồn gốc
từ nhiều thế kỷ trước công nguyên và đến thế kỷ thứ III, thì được Vatsyayana tập
hợp lại thành tuyển tập với nhiều tranh minh hoạ, nhiều lời khuyên và nhiều hình
ảnh mô tả tư thế tình dục.


6

Kama Sutra đề cập đến nhiều khía cạnh trong đời sống tình dục, như mô tả các
tư thế giao hợp, những gì đôi bạn tình chờ đợi ở nhau và đưa ra lời khuyên hữu ích.
Các vấn đề tình dục được Kama Sutra đề cập rất chi tiết, cụ thể, như vấn đề "kích
thước" vấn đề hoà hợp tình dục; “lệch pha” thời điểm, lệch pha ham muốn; vai trò

tâm sinh lý. Ông nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện bệnh thần kinh có thể là do khi còn
bé, bệnh nhân được giáo dục quá kém, do những chấn động tâm lý thời thơ ấu, thời
dậy thì, hoặc do những xung đột có tính xã hội khác. Năm 1905, ông cho xuất bản
một cuốn sách rất có ý nghĩa: “Ba bài thảo luận về tình dục”. Một số quan điểm của
ông cho tới nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Tuy nhiên, do chỉ dựa vào những
quan sát y học, ông đã đưa ra nhiều quan điểm cực đoan, không đủ sức đứng vững
trước sự phát triển của khoa học ngày nay. Trong hàng chục năm liền, lý thuyết
thăng hoa (Sublimace) của S. Freud đã hấp dẫn nhiều giới khoa học. Theo lý thuyết
này, chỉ một phần của năng lượng tình dục được tiêu hao trong hoạt động tình dục;
số năng lượng còn lại được chuyển hóa vào các lĩnh vực hoạt động khác như văn
hóa, nghệ thuật, chính trị, tôn giáo… Cũng theo lý thuyết này, xã hội sẽ tốt hơn lên
nếu con người hạn chế hoặc ngăn ngừa được năng lượng và bản năng tình dục,
chuyển những năng lượng đó vào những lĩnh vực hoạt động khác. Từ lý thuyết
thăng hoa của Freud, có thể rút ra kết luận: người nào “mạnh mẽ” trong đời sống
tình dục thì ít thành công trong lao động và những hoạt động khác, cho dù anh ta
khỏe mạnh và hoàn toàn sáng suốt. Điều đó cũng có nghĩa là người nào phung phí
quá nhiều sức lực vào những lĩnh vực “phi tình dục”, đầu tư năng lượng của mình
vào những hoạt động xã hội khác thì sẽ yếu đuối trong chuyện tình dục. [41]
- Tại Thụy Điển lần đầu tiên vào năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết
định thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trườngvà đến năm 1965 thì dạy phổ cập
cho tất cả các bậc học từ tiểu học đến trung học. [34]
- Sau Thụy Điển là các nước Đông Âu như: Đức, Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc
… và các nước Tây Âu và Bắc Âu khác. Hầu hết các nước này đều coi giáo dục tình
dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì thế họ quan niệm: Cần
nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục. [34]
- Tình dục học toàn thư, tập hồ sơ về tình dục do bác sĩ Willy và C.Jamont
thu tập được tác giả Thụ Nhân và Trần Xuân Tiến dịch thuật năm 1969 chia thành


8



9

Sigmund Freud và Iwan Bloch đã khẳng định việc nghiên cứu những vấn đề tình
dục là những công việc hoàn toàn xứng đáng.
- Ivan Bloch (1872-1922) là người đầu tiên đặt tên cho khoa học này - tiếng
Đức là "Sexualwissenschaft" - nhgual khi dịch ra tiếng Anh thì gây tranh cãi vì
tiếng Đức "Wissenschaft" vừa bao hàm cả nội dung khoa học tự nhiên và khoa học
nhân văn. Thuật ngữ Sexology được chấp nhận hơn vì gốc Hy Lạp "Logos" hàm ý
năng lực lý trí hiểu biết cho nên Sexology được hiểu là khoa học nghiên cứu tình
dục trên phương diện lý thuyết với những phân tích khách quan chứ không phải là
khoa học nghiên cứu tình dục trên phương diện thực hành (Erotology) như một số
sách viết về tình dục của Ần Độ xưa kia (Kama Sutra) hay của phương Tây gần đây,
chủ yếu đề cập đến kỹ thuật làm tình [41]
+ Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu và thuần túy lý thuyết về tình dục có trước
cả Bloch vài thập niên. Ngay từ năm 1834, một thầy thuốc Nga tên là Heinrich
Kaan đã cho xuất bản cuốn sách Tâm lý bệnh tình dục (Psychopathia sexualis) đưa
ra phân loại mới về các bệnh tâm thần do nguyên nhân tình dục [41].
+ Iwan Bloch đã vượt ra khỏi giới hạn y học và sinh học để giải thích về
những biểu hiện tình dục bị coi là suy đồi. Bloch cho rằng rất nhiều hành vi tình dục
bị cho là bệnh hoạn và suy đồi đều đã từng có ở nhiều nơi trên trái đất và ở cả
những dân tộc "nguyên thủy" cũng như văn minh. Từ đó, Bloch đi đến kết luận rằng
quan điểm y học thuần túy để giải thích về hành vi tình dục là hạn hẹp và cần phải
được chỉnh lý bằng những công trình nghiên cứu lịch sử và nhân học.
+ Bloch đã viết trong công trình nghiên cứu Đời sống tình dục của thời đại
chúng ta (1907) đại ý rằng: "Do tầm quan trọng của tình yêu trong đời sống của mỗi
cá nhân và trong xã hội với mối liên quan của nó trong sự phát triển của nền văn
minh nhân loại thì bộ môn khoa học đặc biệt này phải được coi là một bộ phận của
"khoa học về loài người" - một khoa học tổng hợp của sinh học, nhân học, dân tộc

thời bấy giờ vì đã chữa rất thành công cho nhiều cặp vợ chồng bị rối loạn chức năng
tình dục. Chính Maxter là người đầu tiên khẳng định rằng, quá trình giao tiếp tình
dục diễn ra qua 4 giai đoạn.
- Năm 1968, hai nhà nghiên cứu Phordo và Bach (Tiệp Khắc) công bố cuốn
sách nổi tiếng "Những hình thái tình dục". Hai ông đã tiến hành so sánh hoạt động
tình dục của từng dân tộc và chủng tộc khác nhau, bổ sung thêm những thông tin


11

mới về dịch học và sinh lý học. Hai ông đã khẳng định rằng, các hình thức hoạt
động tình dục không đơn thuần nảy sinh từ trạng thái hoóc môn của cơ thể mà còn
từ những yếu tố tâm lý xã hội [34].
- Giới tính theo cuộc đời, Tác giả tiến sĩ Gilbert Tordjman người Pháp. Ông
nghiên cứu các vấn đề liên quan tới giới tính con người từ lúc sinh ra đến tuổi già.
Đặc biệt ông rất chú ý tới vấn đề tình dục tuổi thanh thiếu niên. Theo ông thì: Hoạt
động tình dục tăng lên một cách đáng ghi nhận(tính từ năm 1965 đến nay). Ngày
nay có 55% học sinh nam THPT ở độ tuổi 17 đã có những hành vi quan hệ tình dục
so với 40% các học sinh nữ cùng độ tuổi. Ở năm 1965 con số này chỉ có 25% ở học
sinh nam và 10% đối với học sinh nữ [10].
1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vần đề ở Việt Nam
Do đặc điểm văn hóa Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng: nam nữ
thụ thụ bất thân của Nho Giáo, diệt dục của Phật Giáo nên các vần đề về giáo dục
giới tính, sức khỏe sinh sản nói chung và vấn đề tình dục nói riêng hầu như bị “né
tránh”, “lãng quên” hay “thả nổi”. Gần đây do sự phát triển về văn hóa theo lối Âu
hóa nên tư tưởng một bộ phận thế hệ trẻ nhìn nhận về tình dục cũng có phần thoáng
hơn. Vì vậy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng cũng chỉ tập
trung vào vấn đề sức khỏe sinh sản hoặc giáo dục giới tính chứ chưa có đề tài nào
nghiên cứu cụ thể nhận thức về tình dục của học sinh THPT. Có một số đề tài
nghiên cứu nhận thức về tình yêu và quan hệ tình dục trước hôn nhưng lại tập trung

Trong nghiên cứu của mình tác giả đề cập đến với đề tình dục tuổi VTN (15-19
tuổi) thông qua dự án “Ngiên cứu sức khỏe sinh sản VTN” tại thành phố Hạ Long
tỉnh Quảng Ninh và huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình của trung tâm nghiên cứu
khoa học về gia đình và phụ nữ. Công trình nghiên cứu này chỉ ra có sự khác biệt về
QHTD của VTN giữa thành thị và nông thôn và tình dục VTN đang có xu hướng
ngày càng gia tăng cùng với sự phát triền đời sống xã hôi. [21]
1.2. Một số vấn đề lý luận về nhận thức và đặc điểm tâm lý học sinh THPT

1.2.1. Một số vấn đề về nhận thức
1.2.1.1. Tổng quan về quá trình nhận thức
Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con
người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, con đường và phương pháp nhận


13

thức....Hiện nay, vấn đề nhận thức nhất là nhận thức khoa học vẫn đang được tiếp
tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp con người càng hoàn thiện hơn khả
năng nhận thức của mình trong việc hình thành bức tranh chung của thế giới hiện
thực và tiến gần đến chân lý.
Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình
cảm, hành động). Nó có quan hệ mật thiết với hai mặt kia nhưng có điểm khác biệt
về đối tượng, tính chất, nội dung, phương thức phản ánh và sản phẩm.
Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nhận thức.
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái
tạo thực tiễn vào trong tư duy của con người” và “...sự tác động qua lại giữa nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con người càng chính xác
hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn chân lý khách quan [16,tr.303-304].
Theo Nicky Hayes: “Nhận thức là tất cả cách hiểu thông tin tiếp nhận qua các
giác quan của cơ thể”[25,tr.37].

thực tiễn hướng đến việc làm phong phú nhận thức của con người trong việc cảo tạo
hiện thực và bản thân.
Trong quá trình nhận thức có tác giả còn nêu lên hai loại quá trình nhận thức
đó là: “....nhận thức khoa học của các nhà bác học nhằm tìm tòi sáng tạo ra cái mới
cho nhân loại và hoạt động nhận thức của học sinh, sinh viên nhằm lĩnh hội những
kinh nghiệm văn hóa lịch sử của loài người” [14,tr.66]. Vì vậy, theo cách hiểu này
trong chừng mực nào đó có thể hiểu quá trình nhận thức có hai loại cơ bản là nhận
thức khoa học và nhận thức thông thường. Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng:
...nhận thức khoa học không chỉ có cấu trúc phức tạp mà còn có những đặc
trưng riêng so với nhận thức thông thường và được thể hiện ở các dấu hiệu sau:
- Thứ nhất: Mang tính khách quan, thông qua một quá trình được định hướng
tự giác, tích cực, sáng tạo nhằm tiếp cận chân lý.
- Thứ hai: Mang tính hệ thống, có luận cứu và sự sáng tạo tri thức khoa học
mới.
- Thứ ba: Luôn đòi hỏi yêu cầu cao về tính trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ
thể hóa.
- Thứ tư: Đặt ra yêu cầu cao trong sử dụng ngôn ngữ, phương pháp và
phương tiện.


15

- Thứ năm: Có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và thực nghiệm [18]
1.2.1.2. Các mức độ nhận thức
Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia hoạt động nhận thức thành hai mức
độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
a. Nhận thức cảm tính :
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận
thức của con người. Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh
những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào

Như vậy, hoạt động nhận thức giúp con người nhận biết được những thuộc
tính bề ngoài và những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng. Nói cách khác
hoạt động nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong thế
giới khách quan. Sự hiểu biết ấy có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau như đã
nêu trên.
Như vậy, nhận thức của con người diễn ra từ đơn giản đến phức tạp; từ chưa
biết đến biết, hiểu, vận dụng; từ thấp đến cao; từ phản ánh các thuộc tính bề ngoài
cụ thể, đơn lẻ, một cách trực tiếp các sự vật hiện tượng đến các thuộc tính bản chất,
bên trong, có quy luật trừu tượng và khái quát hàng loạt sự vật hiện tượng một cách
gián tiếp. Theo đó, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có những đặc điểm
khác biệt nhau về chất ở các mặt nội dung phản ánh, phương thức phản ánh, sản
phẩm. Trong hoạt động nhận thức, hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. V.I.Lênin đã tổng kết quy luật
của hoạt động nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức
chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [22,tr.189].
Trong thực tế, về mặt lý luận người ta thường ít vận dụng các mức độ của quá
trình nhận thức gồm giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính ở trên trong
nghiên cứu hay đánh giá kết quả học tập của người học. Hiện nay, ở Việt Nam,
người ta vận dụng thang đo các mức độ nhận thức của Bloom để đánh giá kết quả
học tập của học sinh cũng như trong nghiên cứu khoa học khi nghiên cứu các đề tài
đề cập đến mức độ nhận thức. Thang nhận thức của Bloom có sáu cấp độ là nhận
biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Có thể khái quát nguyên
tắc phân loại mục tiêu giáo dục – lĩnh vực nhận thức theo Bloom như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status