Header Page 1 of 50.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trịnh Văn Điềm
THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ
TÌNH DỤC Ở HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG THPT TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Footer Page 1 of 50.
Header Page 2 of 50.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trịnh Văn Điềm
THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ
TÌNH DỤC Ở HỌC SINH MỘT SỐ
TRƯỜNG THPT TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành
: Tâm lý học
Chí Minh, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Tâm lý giáo dục cùng toàn thể thầy cô
đã tận tình truyền đạt những kiến thức, tạo điều kiện và giúp đỡ trong quá trình học
tập.
Đặc biệt, xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Bùi Ngọc Oánh đã
tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cám ơn các bạn học sinh tại các trường THPT Bình Khánh, THPT Củ Chi,
THPT Gia Định, THPT Nguyễn Hữu Cảnh đã nhiệt tình điền phiếu điều tra trong
quá trình thu thập số liệu cho đề tài.
Xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ trong
quá trình thực hiện đề tài.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013
Trịnh Văn Điềm
Footer Page 4 of 50.
Header Page 5 of 50.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
T
1
Lời cảm ơn
T
1
1T
1
T
1
1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vần đề ở Việt Nam ....................................... 11
T
1
T
1
1.2. Một số vấn đề lý luận về nhận thức và đặc điểm tâm lý học sinh THPT .......... 12
T
1
T
1
1.2.1. Một số vấn đề về nhận thức ..................................................................... 12
T
1
1T
1T
T
1
1
1T
1.4.1. Tình dục an toàn (safe sex)....................................................................... 35
T
1
T
1
1.4.2. Tình dục lành mạnh .................................................................................. 36
T
1
T
1
1.5. Nhận thức về TD của học sinh THPT ................................................................ 37
T
1
T
1
1.5.1. Nhận thức về TD ...................................................................................... 37
T
1
1T
1
MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI TP.HCM ....................................... 45
2.1. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 45
T
1
Footer Page 5 of 50.
T
1
Header Page 6 of 50.
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết ........................................................... 45
T
1
T
1
2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .................................................... 45
T
1
T
1
2.1.3. Phương pháp thống kê toán học: .............................................................. 55
xu hướng hành vi tình dục ....................................................................... 67
T
1
2.2.4. Nhận thức về tình dục an toàn của học sinh .......................................... 104
T
1
T
1
2.2.5. Nhận thức về tình dục lành mạnh của học sinh ..................................... 110
T
1
T
1
2.2.6. Nhận thức về hậu quả QHTD ở tuổi học sinh ....................................... 115
T
1
T
1
2.2.7. Quan điểm về QHTD của học sinh THPT ............................................. 123
T
1
T
1
2.4.2. Một số biện pháp nhằm cải thiện thực trạng nhận thức về tình dục của
T
1
học sinh ở một số trường THPT tại Tp.HCM........................................ 127
T
1
2.4.3. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp nhằm cải thiện thực trạng
T
1
nhận thức của học sinh một số trường THPT tại Tp.HCM về TD ........ 129
T
1
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 132
T
1
T
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 135
T
1
Độ lệch chuẩn
3.
f
:
Tần số
4.
HĐGH
:
Hành động giao hợp
5.
HS
:
Học sinh
6.
QHTD
:
Trung học phổ thông
11. Tp.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
12. VTN
:
Vị thành niên
13. WHO
:
Tổ chức y tế thế giới
Header Page 8 of 50.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Phân bố mẫu nghiên cứu ..................................................................... 53
Nhận thức về xu hướng hành vi tình dục (người khác giới) ............... 67
Bảng 2.9.
Nhận thức về xu hướng hành vi tình dục (người cùng giới) .............. 70
Bảng 2.10.
Nhận thức về xu hướng hành vi tình dục (cả hai giới) ....................... 72
Bảng 2.11.
Nhận thức về hành vi tình dục (thủ dâm) ........................................... 74
Bảng 2.12.
Mức độ biết của học sinh về HVTD thủ dâm ..................................... 76
Bảng 2.13.
Mức độ thông hiểu của học sinh về HVTD thủ dâm .......................... 79
Bảng 2.14.
Thực trạng hành vi thủ dâm của học sinh THPT ................................ 82
Bảng 2.15.
So sánh thực trạng hành vi thủ dâm học sinh các khối lớp ................. 85
Mức độ nhận biết của học sinh về xu hướng HVTD với cả hai giới ........ 98
Bảng 2.24.
Mức độ thông hiểu của học sinh về xu hướng HVTD với cả hai giới .... 100
Bảng 2.25.
Thực trạng xu hướng tình dục của học sinh ...................................... 102
Bảng 2.26.
Mức độ nhận biết của học sinh về tình dục an toàn .......................... 104
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
Header Page 9 of 50.
Bảng 2.27.
Mức độ thông hiểu của học sinh về tình dục an toàn ........................ 105
Bảng 2.28.
Mức độ vận dụng của học sinh về tình dục an toàn .......................... 108
Bảng 2.29.
Mức độ nhận biết của học sinh về tình dục lành mạnh ..................... 110
Bảng 2.30.
Mức độ thông hiểu của học sinh về tình dục lành mạnh ................... 112
Bảng 2.31.
Mức độ vận dụng của học sinh về tình dục lành mạnh ..................... 114
Bảng 2.32.
Mức độ nhận biết về hậu quả QHTD ở tuổi học sinh ....................... 116
Bảng 2.33.
Mức độ thông hiểu về hậu quả QHTD ở tuổi học sinh .................... 118
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
Header Page 10 of 50.
1
MỞ ĐẦU
Header Page 11 of 50.
2
đã yêu thì phải quan hệ tình dục, quan hệ tình dục mới chứng tỏ là tình yêu. Tuy
nhiên cũng có những em lại cho rằng đây điều không thể chấp nhận, không thể xảy
ra ở tuổi học trò. Theo số liệu của trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em – kế
hoạch hóa gia đình. Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 có 142.884 ca nạo phá
thai trong đó có 1.423 ca mẹ dưới 18 tuổi. Năm 2009 có 2.423 ca nạo phá thai mẹ
dưới 18 tuổi.
1.4. Nghiên cứu nhận thức về tình dục ở học sinh là vấn đề khó khăn và phức
tạp, là một thách thức lớn đối với bản thân. Bởi đây là một vấn đề không dễ nói ra,
nói thật đối với các em học sinh ở lứa tuổi này.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
nhận thức về tình dục ở học sinh một số trường THPT tại TP.HCM”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nhằm khảo sát thực trạng nhận thức về tình dục của học sinh THPT
ở một số trường tại TP.HCM. Từ đó hướng tới việc giúp các em học sinh có nhận
thức đúng đắn về vấn đề quan hệ tình dục, góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách
của các em.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nhận thức, nhận thức về vấn đề TD
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức về TD của học sinh THPT. So sánh nhận
thức về TD giữa học sinh nam và học sinh nữ, giữa học sinh nội thành và ngoại
thành, giữa học sinh khối 10 và 11, giữa khối 11 và khối 12.
- Đề xuất những biện pháp giúp học sinh nhận thức đúng về tình dục
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về TD ở tuổi học sinh THPT
4.2. Khách thể nghiên cứu: Học sinh THPT ở một số trường THPT tại
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Phương pháp này dùng để hỗ trợ cho phương pháp điều tra nhằm
tìm hiểu những vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc hơn, những giải thích rõ ràng
hơn mà trong các phiếu điều tra không thể thể hiện rõ.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê
SPSS 11.5
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có các phần sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Footer Page 12 of 50.
Header Page 13 of 50.
4
Chương 2: Thực trạng nhận thức về tình dục ở học sinh một số trường THPT
tại Tp.HCM
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
Footer Page 13 of 50.
5
giữa thế kỷ 20 nhằm nghiên cứu hành vi tình dục của loài người nhằm giải thích cho
nhiều hiện tượng, hành vi tình dục khác nhau chẳng hạn như nhận dạng, định
hướng,sở thích tình dục dưới khía cạnh của những phân tích văn hóa, các định kiến
xã hội, quyền lực, bất bình đẳng giới, phân biệt chủng tộc... nhằm hướng tới sự
công bằng xã hội. Tuy khoa học về tình dục ra đời muộn nhưng trước đó đã có
nhiều tác phẩm văn học đề cập tới vần đề này.
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trên thế giới
- Kama Sutra là một cuốn sách Ấn độ cổ, biên khảo về tình dục được viết
0T
0T
bằng tiếng Phạn. Tác phẩm gồm 7 phần, với khoảng 1.250 khổ thơ được cho là do
T
0
1
T
0
1T
thiền sư Bà la môn Mallanaga Vatsyayana, sống ở Pataliputra, phía bắc Ấn Độ, viết
0T
1
0T
T
1
0T
1
0T
0
1T
0T
được hiểu là những luận bàn về tình yêu thể xác. Những luận bàn đó có nguồn gốc
từ nhiều thế kỷ trước công nguyên và đến thế kỷ thứ III, thì được Vatsyayana tập
hợp lại thành tuyển tập với nhiều tranh minh hoạ, nhiều lời khuyên và nhiều hình
ảnh mô tả tư thế tình dục.
Footer Page 14 of 50.
Header Page 15 of 50.
6
Kama Sutra đề cập đến nhiều khía cạnh trong đời sống tình dục, như mô tả các
tư thế giao hợp, những gì đôi bạn tình chờ đợi ở nhau và đưa ra lời khuyên hữu ích.
Các vấn đề tình dục được Kama Sutra đề cập rất chi tiết, cụ thể, như vấn đề "kích
thước" vấn đề hoà hợp tình dục; “lệch pha” thời điểm, lệch pha ham muốn; vai trò
của trí tưởng tượng; những tư thế, kiểu vuốt ve, ôm ấp; cách sửa chữa thất bại khi
không làm cho phụ nữ được thoả mãn ...
Vatsyayanna đã đưa sự ân ái giữa người nam và người nữ trở thành một nghệ
sống, lý giải những hành vi con người bằng những vận động thầm kín của đời sống
tâm sinh lý. Ông nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện bệnh thần kinh có thể là do khi còn
bé, bệnh nhân được giáo dục quá kém, do những chấn động tâm lý thời thơ ấu, thời
dậy thì, hoặc do những xung đột có tính xã hội khác. Năm 1905, ông cho xuất bản
một cuốn sách rất có ý nghĩa: “Ba bài thảo luận về tình dục”. Một số quan điểm của
ông cho tới nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Tuy nhiên, do chỉ dựa vào những
quan sát y học, ông đã đưa ra nhiều quan điểm cực đoan, không đủ sức đứng vững
trước sự phát triển của khoa học ngày nay. Trong hàng chục năm liền, lý thuyết
thăng hoa (Sublimace) của S. Freud đã hấp dẫn nhiều giới khoa học. Theo lý thuyết
này, chỉ một phần của năng lượng tình dục được tiêu hao trong hoạt động tình dục;
số năng lượng còn lại được chuyển hóa vào các lĩnh vực hoạt động khác như văn
hóa, nghệ thuật, chính trị, tôn giáo… Cũng theo lý thuyết này, xã hội sẽ tốt hơn lên
nếu con người hạn chế hoặc ngăn ngừa được năng lượng và bản năng tình dục,
chuyển những năng lượng đó vào những lĩnh vực hoạt động khác. Từ lý thuyết
thăng hoa của Freud, có thể rút ra kết luận: người nào “mạnh mẽ” trong đời sống
tình dục thì ít thành công trong lao động và những hoạt động khác, cho dù anh ta
khỏe mạnh và hoàn toàn sáng suốt. Điều đó cũng có nghĩa là người nào phung phí
quá nhiều sức lực vào những lĩnh vực “phi tình dục”, đầu tư năng lượng của mình
vào những hoạt động xã hội khác thì sẽ yếu đuối trong chuyện tình dục. [41]
- Tại Thụy Điển lần đầu tiên vào năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết
định thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trườngvà đến năm 1965 thì dạy phổ cập
cho tất cả các bậc học từ tiểu học đến trung học. [34]
- Sau Thụy Điển là các nước Đông Âu như: Đức, Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc
… và các nước Tây Âu và Bắc Âu khác. Hầu hết các nước này đều coi giáo dục tình
dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì thế họ quan niệm: Cần
nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục. [34]
- Tình dục học toàn thư, tập hồ sơ về tình dục do bác sĩ Willy và C.Jamont
thu tập được tác giả Thụ Nhân và Trần Xuân Tiến dịch thuật năm 1969 chia thành
Footer Page 16 of 50.
nạn nhân mãn, và tâm lý bệnh tình dục và về đạo đức xã hội suy thoái đã ra đời khái
niệm tình dục (sexuality) và khoa học tình dục được nghiên cứu toàn diện và sâu
sắc hơn. Những nghiên cứu của các nhà khoa học về sinh học, y học, lịch sử, và
nhân học đã đặt nền móng cho những nghiên cứu về tình dục trên cơ sở hiện đại.
Bước sang thế kỷ 20, những công trình nghiên cứu tiên phong của Havelock Ellis,
Footer Page 17 of 50.
Header Page 18 of 50.
9
Sigmund Freud và Iwan Bloch đã khẳng định việc nghiên cứu những vấn đề tình
dục là những công việc hoàn toàn xứng đáng.
- Ivan Bloch (1872-1922) là người đầu tiên đặt tên cho khoa học này - tiếng
Đức là "Sexualwissenschaft" - nhgual khi dịch ra tiếng Anh thì gây tranh cãi vì
tiếng Đức "Wissenschaft" vừa bao hàm cả nội dung khoa học tự nhiên và khoa học
nhân văn. Thuật ngữ Sexology được chấp nhận hơn vì gốc Hy Lạp "Logos" hàm ý
năng lực lý trí hiểu biết cho nên Sexology được hiểu là khoa học nghiên cứu tình
dục trên phương diện lý thuyết với những phân tích khách quan chứ không phải là
khoa học nghiên cứu tình dục trên phương diện thực hành (Erotology) như một số
sách viết về tình dục của Ần Độ xưa kia (Kama Sutra) hay của phương Tây gần đây,
chủ yếu đề cập đến kỹ thuật làm tình [41]
+ Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu và thuần túy lý thuyết về tình dục có trước
cả Bloch vài thập niên. Ngay từ năm 1834, một thầy thuốc Nga tên là Heinrich
Kaan đã cho xuất bản cuốn sách Tâm lý bệnh tình dục (Psychopathia sexualis) đưa
ra phân loại mới về các bệnh tâm thần do nguyên nhân tình dục [41].
+ Iwan Bloch đã vượt ra khỏi giới hạn y học và sinh học để giải thích về
những biểu hiện tình dục bị coi là suy đồi. Bloch cho rằng rất nhiều hành vi tình dục
- Giới tính theo cuộc đời, Tác giả tiến sĩ Gilbert Tordjman người Pháp. Ông
nghiên cứu các vấn đề liên quan tới giới tính con người từ lúc sinh ra đến tuổi già.
Đặc biệt ông rất chú ý tới vấn đề tình dục tuổi thanh thiếu niên. Theo ông thì: Hoạt
động tình dục tăng lên một cách đáng ghi nhận(tính từ năm 1965 đến nay). Ngày
nay có 55% học sinh nam THPT ở độ tuổi 17 đã có những hành vi quan hệ tình dục
so với 40% các học sinh nữ cùng độ tuổi. Ở năm 1965 con số này chỉ có 25% ở học
sinh nam và 10% đối với học sinh nữ [10].
1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vần đề ở Việt Nam
Do đặc điểm văn hóa Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng: nam nữ
thụ thụ bất thân của Nho Giáo, diệt dục của Phật Giáo nên các vần đề về giáo dục
giới tính, sức khỏe sinh sản nói chung và vấn đề tình dục nói riêng hầu như bị “né
tránh”, “lãng quên” hay “thả nổi”. Gần đây do sự phát triển về văn hóa theo lối Âu
hóa nên tư tưởng một bộ phận thế hệ trẻ nhìn nhận về tình dục cũng có phần thoáng
hơn. Vì vậy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng cũng chỉ tập
trung vào vấn đề sức khỏe sinh sản hoặc giáo dục giới tính chứ chưa có đề tài nào
nghiên cứu cụ thể nhận thức về tình dục của học sinh THPT. Có một số đề tài
nghiên cứu nhận thức về tình yêu và quan hệ tình dục trước hôn nhưng lại tập trung
vào lứa tuổi sinh viên hoặc Thanh Niên lớn.
Vào thập niên 90 của thế kỉ trước, hòa vào chương trình quỹ dân số Liên hợp
quốc (UNEPA) về vấn đề bùng nổ dân số, bùng nổ căn bệnh thế kỉ AIDS/HIV.
Đảng và nhà nước ta coi chiền lược dân số, giáo dục dân số là chiến lược con người.
Vì vậy vấn đề giới tính và tình tục, tình dục an toàn được trú trọng nhiều hơn.
- Một nghiên cứu trên 1.464 học sinh tuổi từ 15-19 ở Bệnh Viện Từ Dũ năm
1996 ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 2,5% những người trả lời đã từng có quan
hệ tình dục [23].
- Một nghiên cứu khác do Viện nghiên cứu Thanh niên (1998) cho thấy trẻ vị
Footer Page 20 of 50.
1.2.1.1. Tổng quan về quá trình nhận thức
Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con
người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, con đường và phương pháp nhận
Footer Page 21 of 50.
Header Page 22 of 50.
13
thức....Hiện nay, vấn đề nhận thức nhất là nhận thức khoa học vẫn đang được tiếp
tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp con người càng hoàn thiện hơn khả
năng nhận thức của mình trong việc hình thành bức tranh chung của thế giới hiện
thực và tiến gần đến chân lý.
Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình
cảm, hành động). Nó có quan hệ mật thiết với hai mặt kia nhưng có điểm khác biệt
về đối tượng, tính chất, nội dung, phương thức phản ánh và sản phẩm.
Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nhận thức.
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái
tạo thực tiễn vào trong tư duy của con người” và “...sự tác động qua lại giữa nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con người càng chính xác
hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn chân lý khách quan [16,tr.303-304].
Theo Nicky Hayes: “Nhận thức là tất cả cách hiểu thông tin tiếp nhận qua các
giác quan của cơ thể”[25,tr.37].
Theo Robert. S. Feldman: “nhận thức là quá trình tinh thần bậc cao qua đó
chúng ta hiểu thế giới, xử lý thông tin, phán đoán, quyết định, và chia sẻ hiểu biết
với người khác” [33,tr.308].
Xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động liên quan đến các hiện tượng tâm lý của
các nhà tâm lý Xô viết cũ, các nhà tâm lý học Việt Nam đã đưa ra các khái niệm
hiện thực và bản thân.
Trong quá trình nhận thức có tác giả còn nêu lên hai loại quá trình nhận thức
đó là: “....nhận thức khoa học của các nhà bác học nhằm tìm tòi sáng tạo ra cái mới
cho nhân loại và hoạt động nhận thức của học sinh, sinh viên nhằm lĩnh hội những
kinh nghiệm văn hóa lịch sử của loài người” [14,tr.66]. Vì vậy, theo cách hiểu này
trong chừng mực nào đó có thể hiểu quá trình nhận thức có hai loại cơ bản là nhận
thức khoa học và nhận thức thông thường. Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng:
...nhận thức khoa học không chỉ có cấu trúc phức tạp mà còn có những đặc
trưng riêng so với nhận thức thông thường và được thể hiện ở các dấu hiệu sau:
- Thứ nhất: Mang tính khách quan, thông qua một quá trình được định hướng
tự giác, tích cực, sáng tạo nhằm tiếp cận chân lý.
- Thứ hai: Mang tính hệ thống, có luận cứu và sự sáng tạo tri thức khoa học
mới.
- Thứ ba: Luôn đòi hỏi yêu cầu cao về tính trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ
thể hóa.
- Thứ tư: Đặt ra yêu cầu cao trong sử dụng ngôn ngữ, phương pháp và
phương tiện.
Footer Page 23 of 50.
Header Page 24 of 50.
15
- Thứ năm: Có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và thực nghiệm [18]
1.2.1.2. Các mức độ nhận thức
Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia hoạt động nhận thức thành hai mức
độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
a. Nhận thức cảm tính :
16
tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bỏ sung, hỗ trợ cho nhau. Lênin cũng đã tổng kết
mối quan hệ này thành quy luật của hoạt động nhận thức “ từ trực quan sinh động
đến tư dy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [ 11,
tr.98].
Như vậy, hoạt động nhận thức giúp con người nhận biết được những thuộc
tính bề ngoài và những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng. Nói cách khác
hoạt động nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong thế
giới khách quan. Sự hiểu biết ấy có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau như đã
nêu trên.
Như vậy, nhận thức của con người diễn ra từ đơn giản đến phức tạp; từ chưa
biết đến biết, hiểu, vận dụng; từ thấp đến cao; từ phản ánh các thuộc tính bề ngoài
cụ thể, đơn lẻ, một cách trực tiếp các sự vật hiện tượng đến các thuộc tính bản chất,
bên trong, có quy luật trừu tượng và khái quát hàng loạt sự vật hiện tượng một cách
gián tiếp. Theo đó, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có những đặc điểm
khác biệt nhau về chất ở các mặt nội dung phản ánh, phương thức phản ánh, sản
phẩm. Trong hoạt động nhận thức, hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. V.I.Lênin đã tổng kết quy luật
của hoạt động nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức
chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [22,tr.189].
Trong thực tế, về mặt lý luận người ta thường ít vận dụng các mức độ của quá
trình nhận thức gồm giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính ở trên trong
nghiên cứu hay đánh giá kết quả học tập của người học. Hiện nay, ở Việt Nam,
người ta vận dụng thang đo các mức độ nhận thức của Bloom để đánh giá kết quả
học tập của học sinh cũng như trong nghiên cứu khoa học khi nghiên cứu các đề tài
đề cập đến mức độ nhận thức. Thang nhận thức của Bloom có sáu cấp độ là nhận
biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Có thể khái quát nguyên