BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quang Cường
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THIẾT BỊ
DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quang Cường
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THIẾT BỊ
DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số:
60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐỨC DANH
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
CBQL
Cán bộ quản lí
CĐ
Cao đẳng
CSVC
Cơ sở vật chất
ĐH
Đại học
ĐHSP
Đại học Sư phạm
GD
Giáo dục
GD&ĐT
TBDH
Thiết bị dạy học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Nội dung
Trang
Hình 1.1
Mối quan hệ của các chức năng trong một chu trình quản lí
14
Nội dung
Trang
Bảng 2.1
Các đơn vị trực thuộc Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh
39
Bảng 2.2
Các cơ sở của Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh
41
Bảng 2.3
Danh mục máy tính và máy chiếu tại các đơn vị ở Trường
Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
41
Bảng 2.4
Bảng thống kê mẫu là CBQL
42
Bảng 2.5
46
Bảng 2.11 Thực trạng về kỹ năng sử dụng TBDH
47
Bảng 2.12 Thực trạng về hiệu quả sử dụng TBDH
48
Bảng 2.13 Thực trạng về bảo quản, duy tu, sửa chữa TBDH
50
Bảng 2.14 Thực trạng quản lí việc trang bị TBDH
51
Bảng 2.15 Thực trạng quản lí việc sử dụng TBDH
55
Bảng 2.16 Thực trạng quản lí việc bảo quản, duy tu, sửa chữa TBDH
62
Bảng 3.1
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 6
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước ................................................................................... 6
1.1.2. Nghiên cứu trong nước ................................................................................... 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................................ 10
1.2.1. Quản lí ........................................................................................................... 10
1.2.2. Chức năng quản lí ......................................................................................... 11
1.2.3. Quản lí giáo dục ............................................................................................ 14
1.2.4. Quản lí nhà trường ........................................................................................ 15
1.2.5. Thiết bị dạy học ............................................................................................ 17
1.2.6. Quản lí thiết bị dạy học ................................................................................. 18
1.3. Một số vấn đề về thiết bị dạy học ........................................................................... 19
1.3.1. Vai trò của TBDH ......................................................................................... 19
1.3.2. Chức năng của TBDH ................................................................................... 21
1.3.3. Phân loại thiết bị dạy học .............................................................................. 22
1.4. Nội dung quản lí TBDH ở trường học.................................................................... 23
1.4.1. Quản lí việc trang bị TBDH .......................................................................... 23
1.4.2. Quản lí việc sử dụng TBDH ......................................................................... 25
1.4.3. Quản lí việc bảo quản TBDH ....................................................................... 27
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác TBDH và quản lí TBDH ............................... 29
1.5.1. Cơ chế phân cấp quản lí ................................................................................ 29
1.5.2. Chế độ chính sách dành cho cán bộ quản lí TBDH ...................................... 30
1.5.3. Nguồn kinh phí dành cho trang bị TBDH..................................................... 31
1.5.4. Năng lực chuyên môn của đội ngũ chuyên trách .......................................... 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................................ 33
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................. 34
2.1. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Trường ĐHSP TP. HCM ......... 34
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................................ 34
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã chỉ rõ “Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn
dân. Trang bị cho giáo dục là trang bị phát triển, được ưu tiên đi trước trong các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội… Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện
bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến
hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình,
cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”
[15].
Thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong những năm qua
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang triển khai thực hiện công cuộc đổi mới giáo
dục. Cùng với việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, thì việc
trang bị cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phục vụ cho công cuộc đổi mới cũng
đồng thời tiến hành. Bởi vì, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong những
điều kiện quan trọng để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất
lượng dạy học góp phần thực hiện thành công cuộc đổi mới giáo dục.
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong những thành tố quan trọng của
hoạt động dạy học. Trong thời đại khoa học công nghệ, thiết bị dạy học ngày càng
phát triển nhiều về số lượng, đa dạng về mẫu mã và chủng loại, đáp ứng ngày càng
đầy đủ hơn cho các hoạt động dạy học. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là công tác tổ chức
quản lí việc sử dụng thiết bị dạy học phải hiệu quả góp phần nâng chất lượng giáo
dục. Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với các cấp quản lí giáo dục, mà trực tiếp là
những cán bộ quản lí thiết bị dạy học ở các cơ sở giáo dục.
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là một trong 14 trường Đại
học trọng điểm Quốc gia và là một trong hai trường ĐHSP trọng điểm của cả nước,
lượng dạy và học của nhà trường.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản
lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” để
nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên ngành quản lí giáo dục.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí thiết bị
dạy học ở trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lí thiết bị dạy học ở trường đại học.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh đã thực hiện hiệu quả các công tác: Lập kế hoạch và tổ chức nguồn lực
quản lý TBDH. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo và kiểm tra vẫn chưa được quan tâm
đúng mức. Nếu khảo sát đúng thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thì người nghiên cứu sẽ có cơ sở đề xuất được
các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí thiết bị dạy học cho Trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học.
Khảo sát thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí thiết bị dạy học
ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Mục đích điều tra: Khảo sát thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Có 3 loại phiếu khảo sát:
- Phiếu khảo sát 1 dành cho cán bộ quản lí bao gồm Trưởng, Phó Trưởng các
Khoa và các đơn vị: Phòng Quản trị Thiết bị, Phòng Sau Đại học, Phòng Công
nghệ Thông tin, Thư viện, Ký Túc xá.
- Phiếu khảo sát 2 dành cho giảng viên ở các Khoa ở trong trường và các
chuyên viên là trợ lý thiết bị, quản lí các phòng thí nghiệm, phòng máy tính… của
các đơn vị.
- Phiếu khảo sát 3 dành cho các sinh viên thường đại diện các lớp mượn và trả
5
thiết bị cho lớp học, căn cứ theo thông tin ghi trong sổ theo dõi việc mượn – trả
thiết bị ở các cơ sở của trường..
Phiếu khảo sát gồm những nội dung:
- Phần 1: Thông tin cá nhân
- Phần 2: Nội dung khảo sát bao gồm:
Thực trạng trang bị thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh.
Thực trạng sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh.
Thực trạng bảo quản thiết bị dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh.
Ngoài ra người nghiên cứu còn dùng phiếu khảo sát 4 để khảo sát Trưởng,
Phó Trưởng đơn vị về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí thiết bị
dạy học được đề xuất
b. Phương pháp phỏng vấn
Jan Amos Komensky (1592- 1670), nhà giáo dục Cộng hoà Séc được
7
coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới, chủ
trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc
với sự vật trong đời sống hàng ngày. Ông nhấn mạnh việc sử dụng các đồ dùng, các
phương tiện trực quan trong dạy học “…Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng.
Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo…lời nói mà không có sự vật là vỏ không có
nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” [28].
Nhà giáo dục Thụy Sĩ Johann Heinnich Pestalozzi (1746-1827) được thôi thúc
bởi các công trình của Jean-Jacques Rousseau – phát triển phương pháp dạy học
dựa trên thế giới tự nhiên và giác quan đã phát triển quan điểm dạy học trực quan
để đạt hiệu quả cao. Nội dung của quan điểm dạy học trực quan này là thay lối dạy
học cũ, kinh viện, nhồi nhét tri thức bằng lối dạy học mới có căn cứ khoa học,
thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được học viên chứng thực trên cơ
sở cảm nhận của các giác quan [35].
Lotx Klinbơ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết bị dạy học (còn được
gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, dụng cụ dạy học...), TBDH là tất cả những
phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp
lý, có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học [34].
Theo Xukhômlinxki đã đề cập đến tầm quan trọng của việc vận dụng đồ dùng
dạy học trong tổ chức hoạt động dạy học “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ
giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của
nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà
còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng
môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú
cuộc sống tâm hồn của học sinh” [13].
Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE
• Nghiên cứu về quản lí thiết bị dạy học (QL TBDH) ở cấp THCS và THPT
Theo tác giả Tô Xuân Giáp trong công trình “Phương tiện dạy học hướng dẫn
chế tạo và sử dụng”. Tác giả Tô Xuân Giáp đã đưa ra những cơ sở phân loại và
phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế chế tạo, sử dụng
phương tiện dạy học và một số điều kiện để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả
phương tiện dạy học. Như vậy tác giả Tô Xuân Giáp đã cho rằng “Phương tiện dạy
học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và
9
phương tiện dạy học lên rất nhiều” [17].
Trần Quốc Bảo với đề tài: “Các biện pháp quản lí của hiệu trưởng nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học ở
trường THPT công lập Thành phố Hồ Chí Minh” [3], qua đề tài tác giả khảo sát và
phân tích thực trạng quản lí cơ sở vật chất – kỹ thuật ở một số trường ở thành phố
Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lí của Hiệu trưởng nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học ở trường
THPT công lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
Trong tài liệu: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng
cơ sở vật chất và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” tác giả Trần Quốc Đắc đã
đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của
cơ sở vật chất TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu
trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản
nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có
hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này
đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử
dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng
chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử
dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí SV ra
[2].
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong
việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực
(nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối
ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.” [23].
Theo tác giả tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục đích đề ra” [19].
Mặc dù trình bày khác nhau, song các khái niệm trên có những dấu hiệu chủ
yếu sau đây:
- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Hoạt động quản lí là những tác động có tính hướng đích.
- Hoạt động quản lí là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm
thực hiện mục tiêu của tổ chức.
11
Tóm lại: Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể để quán lý đến đối tượng
quản lí nhằm điều khiển và hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của
con người để đạt tới mục tiêu phù hợp với quy luật khách quan và ý chí của người
quản lí.
1.2.2. Chức năng quản lí
Chức năng quản lí được hình thành từ quá trình chuẩn bị, phân công, hợp tác
lao động và chuyên môn hoá trong quản lí, thể hiện qua các tính chất tương đối độc
lập của những bộ phận quản lí.
Quản lí có 4 chức năng:
- Kế hoạch hoá.
- Tổ chức.
- Chỉ đạo (điều khiển).
của tổ chức. Người quản lí một khi tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức
không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lí.
Nội dung của chức năng tổ chức chủ yếu là:
- Xác định từng chủ thể quản lí tương ứng với các đối tượng quản lí.
- Xây dựng, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực.
- Thiết lập cơ chế hoạt động và các mối quan hệ.
- Tổ chức lao động một cách khoa học.
* Chỉ đạo (điều khiển)
Là quá trình tác động, tạo ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên
trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra với chất lượng cao nhất. Muốn
thế, các nhà quản lí phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục về các mục tiêu
bằng các biện pháp khác nhau.
Chức năng chỉ đạo cùng chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hoá các mục
tiêu của kế hoạch. Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và gây
ảnh hưởng của chủ thể quản lí tới những người khác nhằm biến những yêu cầu
chung của tổ chức thành những nhu cầu của mọi thành viên trong tổ chức, trên cơ
sở đó mọi người tích cực, tự giác mang hết khả năng để làm việc.
Nội dung của chức năng chỉ đạo chủ yếu là:
- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ.
- Thường xuyên đôn đốc, khen thưởng động viên.
- Giám sát công việc, uốn nắn kịp thời mọi lệch lạc trong hoạt động.
- Thúc đẩy các hoạt động được giao.
13
Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực góp phần tạo nên
chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động thực hiện mục tiêu quản lí.
* Kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh
Thông tin
Tổ chức
Chỉ đạo thực
Hình 1.1: Mối quan hệ của các chức năng trong một chu trình quản lí [23]
1.2.3. Quản lí giáo dục
Cũng như quản lí xã hội nói chung, quản lí giáo dục là hoạt động có ý thức
của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Chỉ có con người mới có
khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là thể hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của
tương lai được biểu hiện trong mục đích đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái
hiện thực. Chúng ta biết, mục đích giáo dục cũng chính là mục đích của quản lí (tuy
nó không phải là mục đích duy nhất của mục đích quản lí giáo dục). Đây là mục
đích có tính khách quan. Nhà quản lí, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, sinh
viên, các lực lượng xã hội … bằng hành động của mình sẽ thực hiện mục đích đó
trong hiện thực.
Thực tế, khái niệm “quản lí giáo dục” có nhiều cấp độ. Trong đó có hai cấp độ
chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Cấp quản lí vĩ mô tương ứng với việc quản lí một
đối tượng có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống. Nhưng trong hệ thống
này lại có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con có hoạt động quản lí vi
mô.
Quan niệm về quản lí vĩ mô và quản lí vi mô trong giáo dục, sẽ gồm hai nhóm
khái niệm tương ứng: quản lí một hệ thống giáo dục (quản lí vĩ mô) và quản lí một
nhà trường (quản lí vi mô). Ở đây, ta chỉ xem xét trên khía cạnh cấp quản lí vi mô.
Hình 1.2: Sơ đồ khái niệm quản lí [23]
Trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng
có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lí tạo ra những tác nhân tác
động lên đối tượng quản lí, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lí và cùng với
chủ thể quản lí hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ
chức. Khách thể quản lí nằm ngoài hệ thống hệ quản lí giáo dục. Nó là hệ thống
khác hoặc các ràng buộc của môi trường… Nó có thể chịu tác động hoặc tác động
trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống quản lí giáo dục. Vấn đề đặt ra đối với
chủ thể quản lí là làm như thế nào để những tác động từ phía khách thể quản lí đến
giáo dục là tích cực, cùng thực hiện mục tiêu chung.
1.2.4. Quản lí nhà trường
Quản lí nhà trường đồng nghĩa với quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô, là những
tác động quản lí diễn ra trong phạm vi nhà trường.
- Theo tác giả Trần Kiểm đã định nghĩa: “ Quản lí nhà trường là những hệ
16
thống những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân
viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà
trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
[24].
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục)
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất” [30].
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí giáo dục là quản lí trường học, thực
- Quản lí quá trình dạy học
- Quản lí CSVC, trang thiết bị nhà trường
- Quản lí tài chính trường học
- Quản lí mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
1.2.5. Thiết bị dạy học
Trong công tác dạy học, bên cạnh sách giáo khoa, trường lớp, sân bãi…thầy
trò còn phải dùng đến loại phương tiện được gọi học cụ, giáo cụ trực quan, đồ dùng
dạy học, thiết bị giáo dục. Ngày nay thuật ngữ thiết bị dạy học được coi là đại diện
cho các tên gọi trên. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học:
- Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ: “TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập
hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều
khiển hoạt động nhận thức của sinh viên, còn đối với sinh viên thì đó là nguồn tri
thức giúp sinh viên lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học,… hình thành
ở sinh viên các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học
và giáo dục” [33].
- Theo tác giả Thái Văn Thành: “TBDH bao gồm: vật liệu, mẫu vật mô hình,
tranh ảnh, bản đồ, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ lao động dạy nghề, hoá chất, vật
liệu, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học, vườn
trường,…” [37].
- Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: “TBDH là một vật thể hoặc một tập hợp
các vật thể mà giáo viên và sinh viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao