BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-oOo-
TRẦN ĐÌNH KHIÊM
TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU DƯỚI
GÓC NHÌN NHẠC HOẠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2003
MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 8
1.Lý do chọn đề tài mục đích nghiên cứu:.............................................................................. 8
2.Phạm vi đề tài và tư liêu nghiên cứu: .................................................................................. 9
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề: .................................................................................................. 9
4.Phương pháp nghiên cứu:.................................................................................................. 13
5.Đóng góp của luận án : ...................................................................................................... 14
6.Cấu trúc của luận văn: ....................................................................................................... 14
Chương 1: Những vấn đề lý luận .................................................................................. 17
1.1.Thi trung hữu nhạc: ........................................................................................................ 17
1.1.1.Thơ và nhạc: .............................................................................................................. 17
1.1.2.Sư gặp gỡ giữa thơ và nhạc: ...................................................................................... 17
1.1.3.Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều: .......................................................................... 18
1.1.3.1.Ngôn ngữ Tiếng Việt:.......................................................................................... 18
2.1.2.3.Dùng điệp từ, điệp ngữ: ..................................................................................... 47
2.1.2.4.Đối: .................................................................................................................... 53
2.1.2.5.Kết cấu tác phẩm: .............................................................................................. 55
2.1.3.Tính nhạc thể hiện qua những âm hưởng âm nhạc: .................................................. 57
2.1.3.1.Tiếng đàn của Thuý Kiều: .................................................................................. 57
2.1.3.2.Âm hưởng âm nhạc trong ngày họ Mã rước dâu : ............................................. 65
2.1.3.3.Tiếng nhạc của vũ trụ:........................................................................................ 65
4
2.2.Tác phẩm nhạc về Truyện Kiều trong cảm hứng của người đời sau: .......................... 67
2.2.1.Nhạc: .......................................................................................................................... 68
2.2.1.1.Nhạc sĩ Vũ Đình Ẩn và đàn hợp xướng Kiều: .................................................... 68
2.2.1.2.Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam với bản giao hưởng số 7-Truyện nàng Kiều: ........... 69
2.2.1.3.Nhạc Phạm Duy: ................................................................................................ 69
2.1.2.4.Nhạc của Trương Thìn: ...................................................................................... 70
2.2.2.Sân khấu: ................................................................................................................... 72
2.2.2.1.Ca vũ nhạc kịch của Đan Phú: .......................................................................... 72
2.2.2.2.Chèo: .................................................................................................................. 73
2.2.2.3.Ca kịch cải lương: .............................................................................................. 73
2.2.2.4.Kịch: ................................................................................................................... 74
Chương 3: Truyện Kiều - chất hoạ và tác phẩm hoạ trong cảm hứng của người đời
sau. ................................................................................................................................... 76
3.1.Tính chất "Thi trung hữu họa" trong tác phẩm Truyền Kiều: ..................................... 76
3.1.1.Chất họa trong những bức chân dung nhân vật: ........................................................ 76
3.1.1.1.Nhân vật chính diện: .......................................................................................... 76
3.1.1.2.Nhân vật phản diện: ........................................................................................... 87
3.1.1.3.Nhân vật trung tính: ........................................................................................... 93
3.1.2.Chất họa trong những bức tranh phong cảnh: ........................................................... 95
3.2.2.2.Ảnh Nguyễn Quốc Phẩm: ................................................................................. 130
Kết luận ......................................................................................................................... 131
6
Thư mục tham khảo ..................................................................................................... 134
7
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài mục đích nghiên cứu:
Mặc dù phải trải qua đời sống thăng trầm nhưng cuối cùng Truyện Kiều đã được mọi
người thừa nhận là tập đại thành, hòn ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam, xứng danh
với tên gọi "Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ"(Lời văn hay để lại nghìn năm nước Việt) (Phan
Thạch Sơ). Gần hai trăm năm qua "Người Việt đã tắm gội trong dòng suối Hồng Lĩnh kia, để tự
nuôi dưỡng và khám phá những châu ngọc còn ẩn giấu, mỗi người theo một cách riêng"[ 85,1].
Có người đi tìm cái hay cái đẹp trong văn chương Truyện Kiều, có người đi tìm những tư
tưởng giá trị tiềm ẩn trong tác phẩm, có người đi tìm phong cách riêng của thi hào, có người
mượn Truyện Kiều để đố Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều, song cũng có người xem Truyện Kiều là
nguồn cảm hứng, đề tài sáng tác: sáng tác nhạc, sáng tác thơ, xây dựng một dàn hợp xướng,
soạn ca vũ nhạc kịch, vẽ tranh minh hoa, dàn dựng vở diễn đưa lên sân khấu.
Với một mảnh đất lắm người khai phá thì việc khám phá thêm những điều mới mẻ chắc
không phải là dễ. Nhưng với lòng say mê Truyện Kiều, trân trọng một kiệt tác văn học, người
viết luận văn cố gắng tiếp cận Truyện Kiều ở một góc nhìn khác, góc nhìn nhạc-hoạ với hy
vọng tìm ra vài điều có ích. Việc làm đó có thể xem như một nén hương xin được cắm trên mộ
người đã khuất, là một hí nh động hướng về cội nguồn, trân trọng vốn quí của văn hoá dân tộc.
Ngoài ra, để giảng dạy sâu sắc Truyện Kiều, một trong những nội dung chủ lực của
về âm nhạc và hội họa.
Do hạn chế tư liệu về những vỡ tuồng viết về Truyện Kiều, người viết luận văn cố gắng
tham khảo những ý kiến của các nghệ sĩ nhà hát tuồng, nhà hát ca kịch cải lương hoặc những
đạo diễn sân khấu.
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Truyện Kiều vốn là một hiện tượng văn học độc đáo. Nó đã làm tiêu tốn không biết bao
nhiêu bút mực của những người nghệ sĩ, nhữ ng cây bút thẩm bình văn chương trên nhiều bình
diện. Và không biết đến bao giờ việc thẩm bình Kiều đặt dấu chấm hết ? Trong những lời thẩm
bình đó có không ít những ý kiến thẩm bình về tính chất “Thi trung hữu họa, thi trung hữu
nhạc".
9
+ Về tính chất 'Thi trung hữu nhạc":
*Những bài nghiên cứu dưới góc nhìn phong cách học:
-Phan Ngọc trong công trình "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều", đã
nghiên cứu rất khoa học về nhịp điệu, cách tạo nên từng khổ độc lập, biện pháp lặp từ, phương
pháp hiệp vần tìm ra mặt mạnh và mặt yếu của thể thơ lục bát, so sánh lục bát trong Truyện
Kiều với những tác phẩm viết bằng thể lục bát hoặc song thất lục bát cùng thời. Cuối cùng, ông
cho rằng "Phương pháp đem đến tính âm nhạc của Nguyễn Du là tạo nên một tính đa dạng tối
đa về nhịp điệu, về sự trùng lặp, về hài âm trong khuôn khổ của tính đều đặn của nhịp điệu, vận
luật vav âm hưởng trong thơ lục bát. Ông là nhà thơ đạt đến trình độ âm nhạc cao nhất trong
lục bát." [63, 253].
*Những bài nghiên cứu dưới dạng phê bình lịch sử:
- Đào Duy Anh, có thể là người đầu tiên nghiên cứu khá kỹ về hiện tượng đối ngẫu trong
lục bát Kiều. Theo ông, nhờ sử dụng đối ngẫu mà những câu Kiều có "âm điệu nhịp nhàng câu
văn biến hoá"[61,49]
-Trong công trình nghiên cứu về Nguyễn Du, Lê Trí Viễn đã nghiên cứu rất kỹ thể thơ lục
bát dưới ngòi bút của thi hào. Cuối cùng ông đã kết luận"Nguyễn Du nghiên cứu rất kỹ loại cân
thơ lên cao đến nỗi nhiều khi người ta không hiểu nội dung của câu thơ, nhưng người ta cứ tìm
đọc Truyện Kiều như tìm đến một nhạc phẩm, trong đó âm thanh được sắp đặt một cách phù
hợp hoàn toàn với nhịp điệu của lòng người"[22, l18].
Ngoài những tác giả trên, "Phạm Quỳnh, cũng như Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Quảng Tuân,
Phạm Thị Nhung, Đặng Quốc Cơ ai cũng đồng thanh ca tụng Truyện Kiều là một bản giao
hưởng tuyệt mỹ." [22,117]
+ Về tính chất" Thi trung hữu họa" trong tác phẩm Truyện Kiều:
So với nội dung trên, nội dung này ít có những bài nghiên cứu mang tính chất riêng biệt.
Các tác giả trong quá trình phân tích tính cách nhân vật, những đoạn thơ đặc sắc thường lồng
vào những nhận định hoặc đưa ra một số dẫn chứng minh hoa.
-Trong bài viết "Vài nét về bút pháp của Nguyễn Du" Lê Trí Viễn đã chỉ rõ những nét nổi
bật trong văn tả cảnh, tả người và đưa ra kết luận"Nếu kể luôn nét bút tả thân hình Thúy Kiều
nữa thì phải nói rằng Nguyễn Du có một ngòi bút tạo hình hết sức sắc sảo. Không có truyền
11
thống hội hoa Trung Quốc, của văn học dân gian Việt Nam, không có ảnh hưởng của nền nghệ
thuật tạo hình Việt Nam bấy giờ thì không sao có được" [27,193]
-Dương Quảng Hàm khi bàn về văn chương Truyện Kiều có nói lướt qua chất họa “Tả
cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt khiến cho người đọc cảm thấy cái thi vị
của mỗi cảnh và cái tâm hồn của mỗi vai trong cảnh ấy. Tả người thì vai nào rõ ra tích chất vai
ấy, chỉ một vài nét mà như vẽ thành bức truyền thần của mỗi vai, khám phá được tâm lý của vai
ấy, khiến cho nhiều vai đã trở thành mô dạng cho đời sau.." [6, 374].
-Hà Như Chi khi đánh giá về văn tả người của cụ Nguyễn Du, ông cho rằng có ba đặc
điểm nổi bật trong văn tả người: Tính cách hoạt họa, tính cách ước lệ, tính cách đồng nhất giữa
hình dung, tướng mạo và tính tình nhân vật. Theo ông, những bức chân dung của cụ "Bao giờ
cũng có tính cách hoạt họa, nét bút chỉ phớt qua nhưng vô cùng linh động, nét bút của một nghệ
sĩ tài hoa mà cũng là một nhà tâm lý sâu sắc, trong phút chốc phơi bày trên mặt giấy những vẻ
đặc biệt của tâm hồn"[14,478]
-Nguyễn Lộc khi viết về ngôn ngữ Truyện Kiều có nhận xét "Dường như ngôn ngữ thơ lý
những chỗ thiếu sót trong một số bức tranh của Nguyễn Hữu Nhiêu, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi
Xuân Phái.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu Truyện Kiều ở nhiều góc độ, đã góp phần
không nhỏ trong việc khám phá những giá trị nổi bật của tác phẩm. Những tác giả trên đã giúp
ta cố cái nhìn chính xác và tòan diện hơn về một kiệt tác.
4.Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của luận
văn, chứng tôi thực hiện đề tài theo những phương pháp sau:
-Chất nhạc, chất họa trong tác phẩm Truyện Kiều thuộc lãnh vực mỹ học tiếp nhận.
Người nghiên cứu không thể không khảo sát kỹ tác phẩm trên nền tảng đặc điểm của ngôn ngữ
Tiếng Việt và thể thơ truyền thống để tìm ra một cách có hệ thống và khoa học về chất họa và
tính nhạc trong tác phẩm.
-Để có thể qui kết một vấn đề, một khái niệm, tạo chỗ đứng vững chắc cho những kết luận
khoa học, người nghiên cứu phải tiến hành thống kê những tần số xuất hiện của những hiện
13
tượng như hiện tượng sử dụng từ láy âm, điệp từ, điệp âm, sự biến đổi nhịp điệu. Như vậy,
phương pháp thống kê rất cần thiết cho người nghiên cứu.
-Không riêng gì tác phẩm Truyện Kiều mới sử dụng thể thơ truyền thống, rất nhiều tác
phẩm có giá tri khác được viết bằng thể thơ này, muốn tìm hiểu giá trị hơn hẳn về tính nhạc
chất hoa người viết phải sử dụng đến phương pháp so sánh.
-Cũng là chất họa nhưng tính chất ở mỗi bức tranh có khác nhau, nhân vật chính khác với
nhân vật phụ, nhân vật chính diện khác nhân vật phản diện, miêu tả nhân vật khác với tả cảnh
sinh hoạt và tả phong cảnh. Để thấy rõ điều này, người nghiên cứu không chỉ dùng phương
pháp so sánh mà còn sử dụng đến phương pháp phân loại.
-Những tác phẩm hội họa và những tác phẩm nhạc trong cảm hứng của người đời sau về
tác phẩm Truyện Kiều được đăng tải rải rác ưên nhiều tài liệu ở nhiều thời điểm khác nhau, vì
3)Cơ sở chất hoa trong tác phẩm Truyện Kiều
III)Lý thuyết tiếp nhận và cắc hình thức tiếp nhận:
1)Lý thuyết tiếp nhận.
2)Các hình thức tiếp nhận.
Chương hai:Truyện Kiều - tính nhạc và tác phẩm nhạc trong cảm hứng của người
đời sau
I)Tính chất thi trung hữu nhạc trong tác phẩm Truyện Kiều.
1)Tính nhạc thể hiện qua luật thơ.
2)Tính nhạc thể hiện qua hiện tượng phối âm, sử dụng từ láy, điệp ngữ, đối, kết cấu tác
phẩm.
3)Tính nhạc thể hiện qua những âm hưởng âm nhạc.
II)Tác phẩm nhạc về Kiều trong cảm hứng của người đời sau:
1)Nhạc
2)Sân khấu
Chương III: Truyện Kiều chất hoạ và tác phẩm hoạ trong cảm hứng của người đời
sau.
I)Tính chất "Thi trung hữu hoạ"trong tác phẩm Truyện Kiều.
15
1)Chất họa qua những bức chân dung nhân vật.
2)Chất họa trong những bức tranh phong cảnh.
3)Chất họa trong những bức tranh cảnh sinh hoạt.
4)Chất họa trong chính một bức họa- bức tranh tùng.
II)Tác phẩm họa về Kiều trong cảm hứng của người đời sau:
1)Tranh minh họa.
2)Tranh và ảnh dùng trong trang trí.
16
17
vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa âu cũng là sự tương tác giữa nội dung và hình thức, giữa
cái biểu đạt và cái cần biểu đạt, giữa nhạc tính và các tầng nghĩa.
Rõ ràng điểm gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và nhạc đó là nhịp điệu tiết tấu. Nhưng cần thấy
thêm rằng nhịp trong thơ và nhịp trong nhạc vẫn có khoảng cách. Nhịp trong một bản nhạc tồn
tại thường mang tính chất ổn định còn nhịp trong thơ thường được các nhà thơ sử dụng rất biến
hoá linh hoạt. Điều này xảy ra ngay cả đối với những tác phẩm được sáng tác dựa trên nền tảng
của một thể thơ có những qui định rõ ràng về nhịp.
1.1.3.Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều:
1.1.3.1.Ngôn ngữ Tiếng Việt:
Từ trong cội nguồn, qua các giai đoạn phát triển, Tiếng Việt tạo ra được bản sắc riêng.
1.1.3.1.1.Về mặt loại hình: Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn lập. Đặc điểm này bộc lộ rõ
rệt ở các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
1.1.3.1.2.Về mặt ngữ âm: Mỗi tiếng là một âm tiết. Hệ thống âm vị Tiếng Việt phong phú
và có tính cân đối tạo ra tiềm năng to lớn của ngữ âm Tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị
có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người
viết rất chú ý đến sự hài hòa về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn.
1.1.3.1.3.Về đặc điềm từ vựng : Mỗi tiếng nói là một yếu tố có nghĩa. Từ tiếng, người ta
tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng nhờ phương thức ghép, phương
thức láy. Phương thức láy là một phương thức góp phần rất lớn trong việc tạo ra tính nhạc.
1.1.3.1.4.Về đặc điềm ngữ pháp : Từ Tiếng Việt không biến đổi hình thái. Đặc điểm này
chi phổi các đặc điểm ngữ pháp khác. Khỉ kết hợp từ thành các két câu như ngữ, câu, tiếng Việt
rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ. Nếu một nhà văn nhà thơ có ý thức sử dụng trật tự
từ cũng có thể tạo nên tính nhạc.
Đặc biệt so với ngôn ngữ Ấn Âu, ngôn ngữ Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu. Trong
hệ thống thanh điệu của Tiếng việt có thanh cao - ngang, ngã, sắc; có thanh thấp - huyền, hỏi,
nặng ; có thanh không bằng phảng - ngã , hỏi, sắc, nặng; có thanh đổi hướng - ngã, hỏi; có
thanh không đổi hướng, kết thúc bằng một nét tắc họng - sắc, nặng. Đặc điểm này không những
Đến thế kỷ XVIII hiện tượng này ít thấy xuất hiện. Đặc biệt khi Nguyễn Du sử dụng thể
lục bát để viết Truyện Kiều thì lục bát đã đạt đến đỉnh cao.
1.1.3.2.2.Những nguyên tắc của thể thơ lục bát:
+Về số chữ trong thể thơ lục bát:
Lục bát theo nghĩa đen là sáu tám. Vì theo thể này cứ lần lượt đặt một câu sáu chữ lại đến
một câu tám chữ, muốn đặt dài ngắn bao nhiêu cũng được, miễn là phải dừng lại ở cuối câu
tám.
+Về luật bằng trắc, thể thơ lục bát được qui định như sau:
Câu sáu: Ob Otr Ob
20
Câu tám: Ob Otr Ob Ob.
Ví dụ:
Thân em như hài mưa sa,(b-tr-b)
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.(b-tr-b-b)
Trong đó b -bằng; tr- trắc; 0-tự do (bằng hoặc trắc). Trong câu tám, tuy chữ thứ sáu và
chữ thứ tám đều là tiếng bằng nhưng không được cùng một thanh, nghĩa là chữ thứ sáu thuộc
phù bình thanh thì chữ thứ tám phải trầm bình thanh và ngược lại.
Ví dụ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Trường hợp câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng nhau thì chữ thứ hai có thể đổi bằng
thành trắc.
Ví dụ: Dù mặt lạ, đã lòng quen (Bích Câu kỳ ngộ)
+Vần và cách hiêp vần :
nào câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng nhau:
Chồng gì anh/ vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây! (Ca dao)
Ngoài ra, còn có lục bát biến thể. Thể này cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có xen
vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác thể lục bát nói trên. Thể này thường
dùng để viết các truyện có tính cách bình dân như Quan Thế Âm, Phạm Công Cúc Hoa, Lý
Công ...
+Ưu và nhược điểm trong thể thơ lục bát:
Ưu điểm:
Với số lượng thanh bằng nhiều trong một cặp lục bát- tối thiểu là 5 thanh bằng trong một
cặp, tối đa là 12 thanh bằng trong một cặp, thể thơ lục bát cố khả năng diễn tả cao đời sống tình
cảm của người dân lao động .
Đối với những thể thơ khác, người làm thơ phải dùng nhiều câu mới tạo thành tác phẩm ít nhất là 4 câu, còn lục bát chỉ cần một cặp câu cũng cố thể tạo ra một chỉnh thể hoàn chỉnh. "
Cái kỳ lạ của thơ lục bát và song thất lục bát là nó được cấu trúc ở đơn vị câu thơ, và đây là cấu
trúc vừa khép vừa mở. Khép, vì nó liên hệ ràng buộc bên trong về thanh điệu, về nhịp, về vần
làm cho mỗi câu thơ trở thành một cấp độ chỉnh thể (....). Mở, vì câu thơ lục bát và song thất
lục bát luôn mở ra cấu trúc hoa với những câu thơ lục bát và song thất lục bát khác, một cách
liền mạch và có thể nói là không giới hạn" [57,87]
Hạn chế của thơ lục bát:
22
Theo Nguyễn Khuyên thơ lục bát là một thể thơ rất khó viết dài, khó viết hay. Cụ là một
nhà thơ lớn, nhưng không làm thơ lục bát. Người ta hỏi vì sao, cụ trả lời rằng "Thể thơ lục bát
với những cái ngọt ngào tình tứ thì cụ Nguyễn Du vớt hết cả rồi. Nay có làm cũng chỉ vớt lấy
những cái vẫn cặn " [63,216]
Thể thơ lục bát hiếm có vần trắc. Vì thế nó khó tạo ra những âm hưởng mạnh mẽ, khổ
phác hoa ra bức tranh hoành tráng, hùng vĩ nhif ng cảnh tượng đồ sộ. Nó nặng về diễn tả đời
sống tình cảm.
Tính tạo hình trong hình tượng văn học là một phẩm chất không thể thiếu được của hình
tượng, không có tạo hình thì hình tượng không có cơ sở để tồn tại. Tạo hình bao gồm việc tạo
cho hình tượng một không gian, thời gian, những sự kiện và những mối quan hệ giàu cảm xúc.
Nhờ tạo hình mà hình tượng hiện lên một cách cụ thể qua chất liệu."Trong hội họa tạo hình
biểu hiện trực tiếp qua đường nét, màu sắc, trong điêu khắc tạo hình biểu hiện qua đường nét
hình khối, trong văn học, tính tạo hình được xác lập gián tiếp qua ngôn từ".[13,30]. Ngôn từ có
tính hình tượng là ngôn từ giàu hình ảnh có màu sắc, âm thanh, nhạc điệu có khả năng gây ấn
tượng mạnh mẽ. tác động sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc. Như vậy tính
hình tượng, một đặc điểm của ngôn ngữ vãn học có khả năng phản ảnh, thể hiện các yếu tố của
ngôn ngữ hội họa. Vận dụng tính chất này, các nhà văn, nhà thơ đã tạo ra không ít những chân
dung về nhân vật, những bức tranh phong cảnh lấp lánh những sắc màu, đa dạng về đường nét.
Trong bài thơ “Thuật hứng XXIV" của Nguyễn Trãi hai câu luận "Kho thu phong nguyệt đầy
qua nóc, Thuyền chở yên hà nặng vạy then" là hai câu thơ đầy sắc màu hội họa. Bức tranh có
gam màu vàng, thực và ảo được kết hợp hài hòa ấn tượng.
Gió thu vận động êm nhẹ, trăng thu tràn ngập, không gian mùa thu êm ả, yên bình. Trong
một không gian mênh mông ngập tràn sương khói, con thuyền thơ nhỏ bé- hình ảnh trung tâm
của bức tranh không bị mất hút trong những sắc màu hư ảo là nhờ cách trọng lượng hóa vật thể
"Thuyền chở yên hà nặng vạy then" của một nhà thi họa. Bức tranh được phác hoa bằng những
nét bút hào hoa mỹ lệ tao nhã nên thơ đậm đà phong vị dân tộc. Có thể nói, đây là một cảnh
tiên giữa đời thường. Nhờ tính tạo hình của văn học, những bức tranh thơ như trên sẽ rất dễ
dàng biến thành những họa tác.
1.4.Lý thuyết tiếp nhận và các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều:
1.4.1.Lý thuyết tiếp nhận:
Mỹ học tiếp nhận ra đời khấ muộn màng mặc dù nó không xa lạ gì đối với truyền thống
văn học Đông Tây. Mãi đến những năm đầu thế kỷ XX một số công trình về vấn đề này mới
25