skkn biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn giáo dục tiểu học các cấp ở cơ sở - Pdf 32

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
PHÒNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn
Giáo dục Tiểu học các cấp ở cơ sở”

Người thực hiện: NGUYỄN ĐẠT
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục



Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... 
Phương pháp giáo dục



Lĩnh vực khác: ......................................................... 
Có đính kèm:
 Mô hình
 Phần mềm

 Phim ảnh

Năm học: 2012 - 2013


- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Quản lí giáo dục tiểu học
- Số năm có kinh nghiệm: 30 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
1. Chỉ đạo và tổ chức các hoạt động giáo dục đa dạng trong trường tiểu học
(2009-2010)
2. Tham mưu chỉ đạo nâng cao chất lượng tổ chức hội thi GVDG các cấp ở
giáo dục tiểu học (2010-2011)
3. Xây dựng nền nếp và nâng cao chất lượng thực hiện SKKN ở cấp Tiểu học
(2011-2012)

2


BM03-TMSKKN

Tên sáng kiến kinh nghiệm :

“Biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn
Giáo dục Tiểu học các cấp ở cơ sở”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhiều năm qua, công tác sinh hoạt chuyên môn (SHCM) ở các trường phổ
thông nói chung và trường tiểu học nói riêng đã được tổ chức thực hiện và duy trì
khá thường xuyên theo định kì quy định. Chất lượng của nội dung, hình thức và tần
suất tổ chức SHCM các cấp ở cơ sở giáo dục luôn là một trong những trọng tâm
chủ yếu của các cuộc thanh tra, kiểm tra của các cấp quản lí giáo dục.
Từ kết quả của nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên môn, chúng ta hoàn
toàn có thể khẳng định rằng những thành quả về chất lượng giáo dục toàn diện của
một đơn vị bao giờ cũng có phần đóng góp quan trọng và trực tiếp từ chất lượng
các buổi SHCM tiến hành tại đơn vị ấy. Tuy nhiên, trên bình diện chung và do
nhiều nguyên nhân khác nhau, chất lượng SHCM các cấp tổ, khối và nhà trường

đồng Úc, Dự án Phát triển giáo viên tiểu học, Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn, Dự án Trường học mới Việt Nam,... Các tài liệu tập huấn
từ những Chương trình, Dự án này là nguồn tư liệu rất quý giá và bổ ích cho cán
bộ, giáo viên tiểu học nghiên cứu, học tập, chia sẻ trong các buổi SHCM các cấp
và vận dụng vào thực tiễn soạn giảng.
c) Các cơ quan và cán bộ quản lí giáo dục các cấp đều có những nỗ lực liên
tục nhằm đổi mới phương thức tổ chức SHCM ở cơ sở. Trong những năm qua,
các phòng GD&ĐT và Sở đã có nhiều hội nghị chuyên đề về quy trình tổ chức
SHCM và các lớp tập huấn bồi dưỡng năng lực quản lí, điều hành hoạt động
chuyên môn cho cán bộ quản lí cấp trường và các tổ khối trưởng.
2. Tồn tại – Nguyên nhân
a) Nội dung nhiều buổi SHCM chưa bám sát nhu cầu học tập, rèn luyện của
giáo viên cũng như yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo chỉ đạo
chung của ngành, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm đổi mới phương pháp dạy
học và tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên trong tổ. Nhiều buổi SHCM có nội
dung hầu như trùng lặp với nội dung cũ trong các năm trước (tại cùng thời điểm,
cùng nội dung công việc) nên không thu hút được sự quan tâm thực sự của giáo
viên. Từ đó, dẫn đến tình trạng nhiều giáo viên có tâm lí xem nhẹ tác dụng của
SHCM, chưa thực sự say mê với chuyên môn, nên ít tham gia ý kiến hoặc ít quan
tâm đến nội dung sinh hoạt.
b) Chất lượng thực hiện hai nội dung quan trọng và thường xuyên trong
SHCM là thăm lớp - dự giờ, trao đổi ý kiến về tiết dạy và về sáng kiến-kinh
nghiệm/đề tài khoa học (SKKN) của đồng nghiệp thường không đảm bảo tính khoa
học, khách quan nên chưa thật sự có tác dụng hỗ trợ nhau cùng tiến bộ trong nghề
nghiệp.
- Do xuất phát từ quan điểm chưa đúng đắn về mục đich của tiết dự giờ là để
đánh giá kĩ năng dạy học, năng lực chuyên môn của giáo viên và mục đích việc
trao đổi nhận xét về SKKN là để xếp loại danh hiệu thi đua, nên trong thực tế ở cơ
sở khó tránh khỏi việc hình thành một áp lực tâm lí khá tiêu cực cho cả người
dạy/trình bày SKKN và người dự.

kiểm tra thường xuyên của cán bộ quản lí cấp cơ sở.
Nhiều hiệu trưởng, phó hiệu trưởng chưa có sự đầu tư đúng mức về nội dung,
nhân lực và các điều kiện hỗ trợ khác cho các buổi SHCM ở trường; chưa chỉ đạo,
hướng dẫn sâu sát nội dung SHCM cấp tổ, khối; một bộ phận không nhỏ cán bộ
quản lí cơ sở không thường xuyên tham dự các buổi SHCM cấp tổ khối.
Tổ trưởng tổ chuyên môn chưa phát huy hết vai trò của mình, thường có tâm
lí coi mình cũng như giáo viên bình thường khác, chỉ lo hồ sơ đầy đủ, sạch đẹp;
chưa phân công nhiệm vụ cho giáo viên theo đúng yêu cầu, nhiệm vụ; chưa chủ
động xây dựng và thực hiện kế hoạch, chưa mạnh dạn trong việc đề xuất các ý kiến
để nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn.
e) Cá biệt ở một số trường do cơ sở vật chất không đảm bảo, hoặc thiếu giáo
viên (số lượng GV quá thấp) nên không đủ thời gian, điều kiện về nhân lực để tổ
chức SHCM đảm bảo chất lượng.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
A. Cơ sở lý luận
1) Về thuật ngữ
- “Sinh hoạt chuyên môn” là gì?
5


Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học – Viện Khoa học xã hội Việt
Nam – 1992) thì “sinh hoạt’ là:
Danh từ chỉ: (a) Những hoạt động thuộc về đời sống hằng ngày của một
người hay một cộng đồng người (nói tổng quát); (b) Những hoạt động tập thể của
một tổ chức.
Động từ chỉ: (a) Sống cuộc sống riêng hàng ngày; (b) Họp để tiến hành
những hoạt động tập thể.
Vậy, “sinh hoạt chuyên môn” là những hoạt động có hai tính chất chính rõ
rệt sau đây:
- tính tập thể của một tập hợp người trong một tổ chức;

6


một lớp nên thường không có nhiều thời gian nhàn rỗi nếu thực tâm muốn hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Do đó, yêu cầu thực tế đối với công tác quản lí chuyên môn
trong nhà trường là làm thế nào để giáo viên hào hứng tham gia SHCM, làm cho
giáo viên thấy cần phải tham gia SHCM và có nhu cầu SHCM vì nhận thức được
đầy đủ rằng:
- Sinh hoạt chuyên môn là một hoạt động nhằm bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho người giáo viên nói chung và giáo viên cấp Tiểu
học nói riêng, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực
hiện nhiệm vụ năm học.
- Sinh hoạt chuyên môn không chỉ giúp mỗi giáo viên nâng cao năng lực
chuyên môn cho bản thân mà SHCM còn là môi trường để tình đồng nghiệp nảy
nở và phát triển giữa tất cả giáo viên, giúp họ hỗ trợ lẫn nhau trong công tác; hình
thành môi trường học tập tốt đẹp cũng như truyền thống, bản sắc văn hóa riêng của
mỗi nhà trường.
C.

Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

Trên cơ sở nắm vững cơ sở khoa học và mục đích, yêu cầu về nội dung và
hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn (SHCM), việc tổ chức SHCM các cấp ở
các cơ sở giáo dục cần phải được tiến hành đảm bảo các yêu cầu và biện pháp như
sau:
1. Những nguyên tắc và yêu cầu cơ bản của SHCM
a) Những nguyên tắc cơ bản
- Nguyên tắc 1 - SHCM phải đảm bảo chức năng quản lí chuyên môn:
Chức năng quản lí chuyên môn được thực hiện thông qua vai trò, nhiệm vụ
của cán bộ quản lí và các tổ, khối trưởng tổ chuyên môn ở cơ sở giáo dục; qua đó,

- Yêu cầu về nội dung: Nội dung SHCM phải xuất phát từ các chỉ đạo của
ngành và có đối chiếu, vận dụng phù hợp với tình hình thực tế ở đơn vị và đáp ứng
sát sườn với nhu cầu học tập, bồi dưỡng cụ thể của đội ngũ. Trên cơ sở nghiên cứu
thấu đáo các chỉ đạo của ngành và nắm vững tình hình thực tế về chất lượng của
đội ngũ thông qua quá trình dự giờ, thăm lớp cũng như tham dự các buổi SHCM,
người CBQL cần có sự nhạy cảm khoa học để có thể đề xuất và xác định nội dung
SHCM phù hợp ở mỗi giai đoạn cụ thể trong năm học. Nội dung trọng tâm SHCM
lần sau cần phải được dự kiến, công khai cụ thể và tập thể thảo luận, nhất trí trong
SHCM lần kề trước. Có như vậy thì nội dung SHCM mới đảm bảo được chất
lượng nhờ huy động được sự chuẩn bi tích cực và có hiệu quả của mọi thành viên
liên quan.
- Yêu cầu về hình thức tổ chức: Tuy cũng cần phải tuân theo các nguyên tắc
như trên đã trình bày, SHCM vẫn không phải là một hội nghị hay một cuộc họp với
đầy đủ các nghi thức gò bó, cứng nhắc. SHCM nhất thiết phải tổ chức một cách
linh hoạt nhất về hình thức và tiến trình sao cho SHCM thật sự là buổi gặp gỡ, trao
đổi thân tình và chia sẻ thẳng thắn của những người có cùng một niềm say mê
chuyên môn, có tình yêu nghề và mến trẻ. Vai trò người chủ trì và người tham dự
SHCM sẽ hoàn toàn không quá cứng nhắc một khi mọi ý kiến thảo luận đều được
trân trọng lắng nghe, suy ngẫm và ý kiến thuyết phục nhiều người nhất là ý kiến có
dẫn chứng cơ sở khoa học và thực tiễn hợp lí nhất. Tùy thời điểm, nội dung và tình
hình cụ thể, SHCM có thể tổ chức ở trong phòng họp, kết hợp với liên hoan nhẹ
(văn nghệ và ẩm thực) hoặc kết hợp một buổi dã ngoại, thực địa ngoài trời. Mục
đích chính là tạo không khí thân mật, nhẹ nhàng và thoải mái cho mọi thành viên
có thể cởi mở hơn trong trao đổi ý kiến và qua đó, dần dần tăng thêm sự yêu thích,
hứng thú tham dự SHCM của giáo viên; đồng thời, giúp đội ngũ cán bộ-giáo viên
có cơ hội thể hiện, trải nghiệm và chia sẻ nhau về một số kĩ năng mềm rất cần thiết
để hỗ trợ cho các kĩ năng sư phạm.
- Yêu cầu về thời lượng: SHCM chỉ nên gói gọn trong một buổi làm việc;
trong đó, không dành quá 1/3 thời lượng để thực hiện chức năng quản lí; phần còn
lại tập trung dành cho việc thực hiện chức năng bồi dưỡng đội ngũ.

quán triệt và triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển nhà trường đối với các bộ
phận, tổ chức đoàn thể và các cá nhân trong Hội đồng nhà trường.
b) Tăng cường và thường xuyên tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều
hành cho đội ngũ tổ khối trưởng, những người chủ trì các buổi SHCM vì thực tế
cho thấy một buổi SHCM thành công phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và chuyên
môn của người điều hành và ý thức nhiệt tình tham gia của đội ngũ giáo viên.
+ Đối với Hiệu trưởng:
Chia sẻ tầm nhìn đối với giáo viên, giúp giáo viên nhận thấy những vấn đề
về giờ dạy có liên quan đến nội dung và tác dụng của SHCM. Khuyến khích và
làm mẫu về sự thay đổi thói quen quan sát, thu nhận thông tin khi dự giờ, trao đổi
ý kiến chuyên môn. Tạo tâm lý thoải mái cho giáo viên. Xây dựng mối quan hệ
lắng nghe trong khi chia sẻ, suy ngẫm về bài học. Phá vỡ thói quen chia sẻ cũ có
tính chất phê phán tiêu cực và nặng tính đánh giá, xếp loại. Xây dựng kế hoạch tổ
chức chuyên môn tại trường, kiên định triển khai thực hiện các hình thức tổ chức
sinh hoạt chuyên môn mới, linh hoạt.
+ Đối với Phó Hiệu trưởng:
Tham mưu hiệu trưởng về kế hoạch SHCM hàng năm/tháng và điều chỉnh
lịch, nội dung SHCM của nhà trường; Chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành thực
hiện SHCM cấp trường và chỉ đạo, theo dõi nội dung và chất lượng SHCM các tổ
9


khối. Gương mẫu đi đầu thực hiện giờ dạy minh họa. Thuyết phục, động viên và
nhắc nhở các giáo viên khác tích cực tham gia SHCM. Thực hiện nghiêm túc các
yêu cầu của SHCM mới.
+ Đối với Tổ trưởng chuyên môn và giáo viên cốt cán:
Lập kế hoạch và chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành SHCM cấp tổ; Làm
nòng cốt khi thảo luận trong SHCM và hiện thực hóa hiệu quả SHCM trong các
bài học hàng ngày. Trực tiếp cùng giáo viên dạy minh họa chuẩn bị bài dạy.
Truyền đạt sự đồng thuận và quyết định của nhà trường cho tổ khối của mình cũng

một quá trình các giáo viên tham gia vào các khâu từ chuẩn bị nội dung và hình
thức tổ chức SHCM, thiết kế bài học sáng tạo, dạy thể nghiệm, dự giờ suy ngẫm và
chia sẻ các ý kiến sâu sắc về những gì đã diễn ra trong việc học của học sinh. Đây
là hoạt động học tập lẫn nhau, học tập trong thực tế, là nơi thử nghiệm và trải
nghiệm những cái mới, là nơi kết nối lý thuyết với thực hành, giữa ý định và thực
10


tế. Trong quá trình học tập đó, giáo viên sẽ học được nhiều điều để phát triển năng
lực chuyên môn mới. Cần tránh để giáo viên có suy nghĩ coi đó chỉ là việc làm
hình thức thông thường mà họ đã và đang thực hiện từ trước đến nay và không học
tập được nhiều. Cần tạo động lực cho GV tham gia SHCM để học tập lẫn nhau,
nâng cao năng lực chuyên môn và cũng chính là nâng cao chất lượng các bài học
của học sinh. Để đạt được mục đích đó giáo viên cần biết: Học cách quan sát tinh
tế, nhạy cảm đối với học sinh; Hình thành khả năng quan sát, phán đoán và phản
ứng trước thông tin thu được về học sinh – đây là một năng lực mới đặc biệt quan
trọng đối với giáo viên.
- Giải pháp 2: Đào sâu hiểu biết về công việc của mỗi giáo viên, làm cho họ
hiểu sâu, rộng hơn về học sinh, đồng nghiệp, về bản thân trước các yêu cầu luôn
thay đổi trong hoạt động dạy học. Hình thành sự chấp nhận lẫn nhau giữa các giáo
viên và giữa giáo viên với học sinh. Cùng nhau xây dựng và tạo nên văn hóa nhà
trường: cộng tác giải quyết các vấn đề đặt ra (ví dụ: các thắc mắc về chương trình
– sách giáo khoa, về việc học tập của học sinh) giữa các giáo viên; xây dựng tình
đông nghiệp, mối quan hệ nhà trường thân thiện, học tập lẫn nhau. Tạo động lực sư
phạm tích cực, sự quan tâm, nêm say mê chuyên môn của tất cả các giáo viên. Tạo
cơ hội cho mọi cán bộ quản lý, giáo viên hiểu biết về mối quan hệ giữa các quy
định, chính sách của ngành (Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa –
đổimới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá,…) và công việc hàng
ngày của mỗi cá nhân.
- Giải pháp 3: Khuyến khích sự chủ động tìm tòi, sáng tạo của tất cả các giáo

*Bước 2: Thảo luận về nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện các chỉ đạo
chuyên môn của cấp trên (triển khai thực hiện văn bản chỉ đạo), cụ thể hoá nội
dung kế hoạch chuyên môn của trường thành kế hoạch hoạt động chuyên môn của
tổ khối; phân công, phân nhiệm giữa các thành viên trong tổ để có sự chuẩn bị chu
đáo trong việc thực hiện nội dung kế hoạch công tác trong 2 tuần sau.
Bước 1 và 2 là thực hiện chức năng quản lí chuyên môn với không quá 1/3
thời lượng buổi sinh hoạt. Những thông tin có tính chất thông báo chỉ cần phổ biến
ngắn gọn (hoặc bằng Sổ thông báo của nhà trường gửi đến các giáo viên), không
nhất thiết đưa vào nội dung bàn bạc, thảo luận trong SHCM.
*Bước 3: Chia sẻ học thuật; thảo luận và tìm giải pháp cho những khó khăn,
vướng mắc trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là hoạt động thực hiện
chức năng bồi dưỡng đội ngũ và chiếm nhiều thời gian nhất trong buổi SHCM.
Trên cơ sở phân công, phân nhiệm thực hiện kế hoạch hoạt động chuyên môn (đã
thống nhất ở phiên SHCM trước), người nhận phần việc có trách nhiệm báo cáo về
nội dung nghiên cứu và chủ động tổ chức việc trao đổi ý kiến trong tập thể.
Nội dung các việc cần thực hiện trong bước 3 này có thể liệt kê như sau:
(1) Nghiên cứu và đề xuất thực hiện điều chỉnh dạy-học;
(2) Trao đổi và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc, khó khăn
cụ thể trong tổ chức dạy-học/ hoạt động giáo dục, soạn giảng,… đã và
sẽ thực hiện;
(3) Báo cáo kết quả nghiên cứu tài liệu hướng dẫn chuyên môn; báo cáo
tiến trình, tiến độ và kết quả thực hiện đề tài/SKKN;
(4) Tổ chức dự giờ tiết dạy minh hoạ chuyên đề, thể hiện kết quả nghiên
cứu khoa học/SKKN;
d) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tổ chức đưa cán bộ cốt cán thuộc
Hội đồng bộ môn Giáo dục tiểu học cấp tỉnh và cấp huyện trực tiếp tham gia một
số buổi SHCM các cấp ở cơ sở.
Trong liên tục trong hai năm học 2011-2012 và 2012-2013 vừa qua, Phòng
GDTH đã kiên trì tham mưu Lãnh đạo Sở thực hiện biện pháp huy động một số
thành viên cốt cán thuộc Hội đồng bộ môn Giáo dục Tiểu học (HĐBM-GDTH) cấp

trình học tập, từ đó mỗi người tự suy ngẫm để tìm cách giúp đỡ học sinh tốt hơn và
nhờ đó đã nâng cao năng lực dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.
2. Đội ngũ cán bộ, giáo viên có ý thức tích cực hơn về SHCM. Sinh hoạt
chuyên môn theo phương thức mới đã góp phần làm dày thêm vốn kinh nghiệm
dạy học cho giáo viên để từng bước cải tiến cách dạy, nâng cao chất lượng học tập
của học sinh qua các hoạt động có ý nghĩa. Số lượng giáo viên dạy giỏi các cấp đã
được tăng dần qua các năm học, góp phần cụ thể và thiết thực vào nỗ lực xây dựng
và duy trì trường học đạt chuẩn quốc gia ở nhiều địa phương và trong toàn tỉnh.
Nếu trong năm học 2011-2012 toàn tỉnh có 59 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
thì trong năm học 2012-2013, số lượng trường đạt chuẩn quốc gia đã tăng lên
thành 74 (tăng thêm 16 trường).
3. Trong những năm học gần đây, chất lượng của các buổi SHCM/SHCĐ đã
được cải thiện một cách đáng kể. Giáo viên đã tham gia ý kiến sôi nổi hơn và chia
sẻ tích cực hơn; thời gian sinh hoạt thường kéo dài cả buổi với sự hào hứng thực sự
và hiệu quả. Nhiều ý kiến tập trung vào vào tình huống dạy học và giáo dục cụ thể
xuất phát từ những hiểu biết sâu sắc hơn về học sinh cũng về chuyên môn nghiệp
vụ. Nhiều buổi SHCM ở cơ sở đã hình thành được bầu không khí tin tưởng, tôn
trọng đồng nghiệp, làm kích thích gia tăng sự hiểu biết và kinh nghiệm dạy học để
có thể cải tiến được phương pháp dạy học của đội ngũ giáo viên.
4. Qua quá trình cử cán bộ HĐBM về dự SHCM/SHCĐ ở cơ sở, Phòng
GDTH đã kịp thời phát hiện và chỉ đạo điều chỉnh sự lệch lạc trong chỉ đạo và tổ
chức SHCM ở một đơn vị cấp huyện. Địa phương này đã hướng dẫn cơ sở tổ chức
SHCM theo phương thức “họp” nặng nề tính phổ biến văn bản hành chính và qua
13


nhiều bước phức tạp; không tạo điều kiện thời gian, tâm lí cho giáo viên tham gia
trao đổi ý kiến, chia sẻ chuyên môn.
V.


VI. KẾT LUẬN
Năm học 2012 - 2013 là năm toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục quán
triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, triển khai thực
hiện Chương trình hành động đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Để thực hiện được nhiệm
vụ trên đòi hỏi mỗi nhà trường, mỗi cấp quản lí giáo dục cần có sự đổi mới mạnh
mẽ, sâu sắc trong công tác quản lý, chỉ đạo, trong đó có đổi mới công tác SHCM
bởi chất lượng giáo dục phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ giáo viên. Nâng
14


cao chất lượng các buổi SHCM là việc làm thiết thực và trực tiếp góp phần nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên, làm thay đổi tích cực chất lượng giáo dục-đào
tạo ở mỗi nhà trường, mỗi địa phương trong tỉnh./.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO – PHỤ LỤC
1) Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục cấp Trưởng phòng (Học viện
Cán bộ quản lí giáo dục – 2005)
2) Điều lệ trường tiểu học; ban hành theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT
ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo .
3) Các Quyết định của Giám đốc Sở về việc cử cán bộ tham dự các
SHCM/SHCĐ ở cơ sở và kế hoạch dự SHCM/SHCĐ ở cơ sở trong các năm học
2011-2012 và 2012-2013.
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Đạt

15





Lĩnh vực khác: .................................................... 

1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới



- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có



2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt 
Khá 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status