--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT CẦN ĐẨY
MẠNH XUẤT KHẨU GIÀY DÉP SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU GIÀY DÉP TRÊN
THẾ GIỚI
1.1.1 Một số đặc điểm cơ bản của ngành sản xuất giày dép:
Giày dép là mặt hàng tiêu dùng có nhiều mẫu mã và chủng loại khác nhau.
Vì vậy, mỗi loại giày dép có quy trình sản xuất, công nghệ và giá thành khác
nhau. Có thể chia các loại giày dép như sau : giày da, giày đế cao su, đế nhựa,
giày thể thao, giày vải, giày sadal, và các loại dép đi trong nhà, đi dạo biển…
Sơ đồ 1.1 Quy trình cơ bản sản xuất giày
- Các quy trình cơ bản để sản xuất giày: tạo mẫu, sản xuất đế, khâu mũ
giày, hoàn chỉnh mũ giày, lắp ráp hoàn chỉnh (sơ đồ 1.1).
- Sản xuất đế giày có các công nghệ: ép đúc, ép phun, lưu hoá và ép dán.
- Về mũ giày có các loại: mũ vải, mũ da, mũ giày thể thao, mũ giày saldal.
- Giày dép là sản phẩm mang tính thời trang, tuỳ từng mùa khác nhau khách
hàng sẽ có sở thích từng loại giày dép khác nhau và tuỳ từng vùng khác nhau
khách hàng cũng sẽ có những thò hiếu khác nhau. Vì vậy, tìm hiểu kó thò trường --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 2
xuất khẩu giày dép cũng là một trong những yêu cầu quan trọng. Ngoài ra, tính
thời trang có yếu tố rất quyết đònh trong việc nâng cao giá trò gia tăng cho sản
phẩm, sản phẩm có kiểu dáng lạ, đẹp, sẽ tăng thêm tính cạnh tranh cho mặt
hàng.
vò trí chủ đạo của họ trong những thập kỉ qua đã bò đánh mất về tay các nước
đang phát triển.
Cùng với sự gia tăng về giày mũ da thì đối với sản xuất giày dép nói chung
theo dự báo đến 2010 dân số toàn cầu có hơn 7 tỷ người và sản lượng giày dép
thế giới sẽ đạt hơn 14.061 tỷ đôi.
Như vậy cùng với nhu cầu ngày càng tăng về giày dép trên Thế Giới hình
thành 2 khu vực cung cấp:
- Khu vực 1: các nước đang phát triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latin)
nơi cung cấp số lượng giày dép chủ yếu cho xuất khẩu, chiếm tỷ trọng lớn trên
toàn Thế Giới với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn trung bình.
Bảng 1.1: Sản lượng và xuất khẩu giày dép trên Thế Giới
Sản lượng
STT
Sản phẩm
1998 2007 2010
1 Da thuộc các loại 16 tỷ sqft 17,5 tỷ sqft 18 tỷ sqft
2 Da bò muối 6,15 tr. tấn 6,50 tr. tấn 6,80 tr. tấn
3 Giầy dép các loại 11,0 tỷ đôi 14,071 tỷ đôi 16,0 tỷ đôi, trong đó hơn
4 tỷ đôi giày da
4 Tổng kim ngạch XK 50 tỷ USD 85 tỷ USD 105 tỷ USD
Nguồn: World Footwear (2007).
- Khu vực 2: các nước khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu nơi cung cấp giày dép
với tiêu chuẩn chất lượng cao và giày chuyên dụng chủ yếu cho việc tiêu thụ nội --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 4
đòa và một phần cho xuất khẩu.
1.1.3 Xu hướng về tiêu dùng giày dép trên Thế Giới:
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 5
Vì vậy, những chủng loại sản phẩm đa dạng về mẫu mã, sự tiện nghi sẽ
chiếm lónh thò trường trong những năm tới đây, các loại giày dép có chất lượng
cao sẽ chủ yếu phục vụ các thò trường Châu Âu và Bắc Mỹ, các loại giày dép có
chất lượng thấp hơn thì sẽ phục vụ các thò trường còn lại .
1.1.4 Các thò trường nhập khẩu chính về mặt hàng giày dép trên thế giới:
Các thò trường nhập khẩu giày dép chính trên Thế giới là Mỹ, EU và Nhật
Bản. Riêng EU đây là thò trường có sức tiêu thụ lớn do các quốc gia thành viên
có nền kinh tế ổn đònh và có tiêu chuẩn riêng của mình và áp dụng chung cho
các thành viên.
- Thò trường Hoa Kỳ:
Với dân số đến năm 2008 là trên 300 triệu người, thu nhập trung bình trên
40.000 USD / năm, thị trường Mỹ luôn được xem là có sức hấp dẫn rất lớn đối
với các quốc gia xuất khẩu giày dép trên thế giới: bởi sự đa dạng về chủng loại
hàng hoá, giá cả và dân số lớn. Riêng năm 2002 tổng kim ngạch nhập khẩu giày
dép vào thò trường này là 15.386.029.000 usd. Nhưng đến năm 2007 kim ngạch
này đã tăng lên đến 19.410.255.000 usd, số lượng giày dép nhập khẩu tại thò
trường này tăng hàng năm là 5-6,8%.
Dẫn đầu xuất khẩu giày dép vào thò trường này Trung Quốc đang ở vò trí cao
nhất, tiếp theo sau là các quốc gia như Brazil, Việt nam, Indonesia, Thái Lan,
Italia, Ấn độ và Hồng Kông. Theo số liệu thống kê chỉ có Trung quốc, Việt Nam
và Ấn độ từ năm 2004 đến 2005 là số lượng nhập khẩu hiện đang tăng, ngoài ra
các quốc gia khác hiện đang có xu hướng giảm dần.
10,000,000.00
15,000,000.00
NĂM
KIM NGẠCH NHẬP KHẨU GIÀY
DÉP CỦA EU (ngàn Euro)
9,423,655.00 10,784,731.00 12,006,872.00 12,640,725.00
2004 2005 2006 2007
Nguồn : Eurostat, CN Chapter 64.
Riêng về mặt hàng giày dép, EU cũng là nơi sản xuất các mặt hàng giày dép
có chất lượng cao để cung cấp cho các kinh đô thời trang tại đây. Nhưng hiện nay
sản xuất giày dép tại EU đang có xu hướng giảm dần từ 728.211.000 đôi giày --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 7
dép xuống chỉ còn 641.852.000 đôi với mức giảm trung bình từ 2002-2005 là
28,7%. Chính vì vậy, EU luôn là thò trường hấp dẫn cho các nhà cung cấp bởi khả
năng tiêu thụ rộng lớn, cũng như tính chất bắc cầu giữa các quốc gia, với lượng
tăng nhập khẩu 20,2% và tiêu dùng tăng 22,7% từ năm 2002-2005.
Kim ngạch nhập khẩu của EU năm 2004 là 9.423.655.000 Euro cho đến năm
2007 con số này đã là 12.640.725.000 Euro, với kim ngạch nhập khẩu như vậy
EU đã cho thấy tốc độ tăng trưởng nhập khẩu mặt hàng này từ 2004-2007 là:
34,1%.
Dẫn đầu những nhà cung cấp giày dép tại thò trường tại EU vẫn là Trung
Quốc với 1.310.841.000 đôi trong năm 2005 và 2007 là 1.845.010.000 đôi với
mức tăng rất cao từ năm 2004 -2007 là 108,8%, kế đến là Việt Nam với kim
ngạch xuất khẩu giày dép vào EU giảm trung bình 7% cũng trong thời gian này,
ngoài ra còn có Ấn Độ, Indonêsia, Braxin..
những sản phẩm thiết yếu khác chiếm 30,4% như là máy tính, thiết bò viễn thông,
phụ tùng xe motor, máy móc văn phòng, và máy phát điện, những sản phẩm tiêu
dùng chiếm 31,8% như là: quần áo, giày dép, thuốc y tế, xe hơi, thiết bò nội thất,
đồ chơi trẻ tác giả ..).
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Hoa Kỳ 2004-2008
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Xuất khẩu
(ngàn USD)
817.935.849 904.379.818 1.037.142.973 1.162.708.293 1.300.135.650
Nhập khẩu
(ngàn USD)
1.469.670.757 1.670.940.375 1.855.119.254 1.953.698.801 2.100.141.224
Tốc độ tăng
trưởng NK
16,7% 13,7% 11,02% 5,3% 7,49%
Nguồn:
U.S. Department of Commerce và tính toán của tác giả.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 9
Với một nhu cầu nhập khẩu dồi dào và tăng trưởng hàng năm trung bình khoảng
9% thò trường Hoa Kỳ luôn là một thò trường tiềm năng cho các doanh nghiệp
xuất khẩu. Tuy nhiên để có thể thâm nhập vào thò trường này, các doanh nghiệp
cần phải nắm rõ các thò hiếu tiêu dùng của người dân ở đây, cũng như hệ thống
các luật lệ, để tránh rơi vào những vụ kiện mà có thể gây tổn thất cho các doanh
nghiệp.
1.2.2 Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ:
(ngàn USD)
5.275.810 6.630.149 8.566.331 10.632.959 12.900.701
Tốc độ tăng trưởng NK(%) 15,82 25,67 29,20 24,12 21,32
Nguồn : International Trade Administration, U.S. Department of Commerce
và tính toán của tác giả.
Hơn nữa, Việt Nam có những mặt hàng có lợi thế xuất khẩu sang thò trường này
như : thủy sản (tôm, cá tra, cá basa..), cà fê, chè, hạt điều, hàng dệt may, giày
dép, hàng trang trí nội thất (bàn, ghế, giường, tủ…).
Biểu đồ 1.3: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Nguồn: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC).
Với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm
2007 so với năm 2006 là trên 20%, trong khi Malaysia tăng trưởng âm và các
nước khác có mức tăng trưởng thấp hơn cũng trong năm này. Sang đầu năm 2008,
mức tăng trưởng này là trên 25%. Như vậy, trên bình diện quan hệ kinh tế, hai
quốc gia là bạn hàng lớn của nhau về xuất khẩu cũng như nhập khẩu.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 11
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VỀ TIÊU THỤ
GIÀY DÉP
1.3.1 Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng giày dép của Hoa Kỳ và những quốc
gia xuất khẩu giày dép chính vào thò trường Hoa Kỳ:
Với dân số trên 300 triệu người, thu nhập trung bình trên 46.000 usd / năm,
hàng năm thò trường Hoa Kỳ nhập khẩu giày dép trên 90%. Riêng năm 2008
tổng số lượng giày dép nhập khẩu của Hoa Kỳ hơn 1.899.503.000 đôi, mức tiêu
thụ giày dép trung bình của nữ giới là 8 đôi/người và của nam giới là 4 đôi/người,
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 12
Nếu trong năm 2005 thương mại về giày dép giữa Hoa Hỳ và Trung Quốc chỉ
là 10.226.857.000 usd thì đến năm 2008 đã là 14.479.100.000 usd với mức tăng
trưởng trên 38%. Không những kim ngạch tăng cao mà ở đây chủng loại giày
dép từ Trung quốc cũng đa dạng, phong phú, với lợi thế về diện tích, về tầm nhìn
quy hoạch vùng nguyên liệu, cũng như về giá cả nhân công, Trung quốc hiện
đang quyết tâm trở thành quốc gia cung cấp giày dép lớn không những cho thò
trường Hoa Kỳ mà còn cho cả Thế Giới. Chính vì vậy, Trung Quốc chiếm đến
73% kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thò trường Hoa Kỳ, một con số áp đảo
so với các quốc gia khác.
Riêng Brasil, một trong những nhà xuất khẩu giày dép sang thò trường Hoa Kỳ có
sản lượng sụt giảm đáng kể, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu giày dép của quốc
gia này sang Hoa Kỳ là 1.084.211.000 usd thì đến 2008 kim ngạch này chỉ còn
512.834.000 usd.
Biểu đồ 1.5: Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Hoa Kỳ của các quốc gia
NĂM 2008
74%
6%
6%
3%
2%
9%
TRUNG QUỐC
ITA LIA
VIET NAM
BRASIL
INDONESIA
CÁ C QUỐC GIA KHÁC
cho khách vãng lai chiếm khoảng 3,5%.
- Các cửa hàng chuyên bán giày (Shoes Store): trong hệ thống phân phối
các cửa hàng chuyên doanh này dành khoảng 11,1%. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 14
- Các cửa hàng tạp hoá các cửa hàng tự doanh (Independent, Department
Store) dành khoảng 6,9%.
- Các cửa hàng trực thuộc các nhà sản xuất: đây là các loại cửa hàng do
nhà sản xuất tự mở ra, các cửa hàng chỉ chuyên bán duy nhất sản phẩm do nhà
máy của mình sản xuất chiếm tỷ trọng khoảng 5,4% trong hệ thống phân phối.
- Các cửa hàng bán lẻ (Shoes chains, National chains) chiếm khoảng 18,5%.
- Các cửa hàng giảm giá và các nhà buôn: chiếm đến 14% trong hệ thống
các nhà phân phối, các cửa hàng giảm giá rất được các tầng lớp dân cư có thu
nhập thấp ưa chuộng nhất là vào các dòp lễ hoăïc dòp cuối năm.
- Các cửa hàng chuyên bán đồ thể thao (Sporting goods): đây là các cửa
hàng chuyên bán các dụng cũ thể thao nói chung trong đó có các loại giày thể
thao , các cửa hàng loại này chiếm đến 14,7%.
- Các cửa hàng chuyên bán các giày phục vụ cho các vận động viên
(Athletic Footwear Speciality) chiếm khoảng 8.7%.
- Ngoài ra , còn phải kể đến đó là các hệ thống các siêu thò tại thò trường
này. Các siêu thò tại Hoa Kỳ chiếm một phần rất đáng kể trong việc phân phối
các mặt hàng nói chung và mặt hàng giày dép đến tay người tiêu dùng.
1.4 NHỮNG QUY ĐỊNH CẦN THIẾT MÀ CÁC DOANH NGHIỆP CẦN
NẮM BẮT KHI XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VÀO HOA KỲ
Hoa Kỳ là một thò trường rất hấp dẫn, tuy nhiên cũng chứa đựng nhiều rủi ro
tiềm tàng nếu như các doanh nghiệp xuất khẩu không nắm vững các luật lệ khi
xuất khẩu hàng hoá.
- Khâu chuẩn bò hồ sơ kiện chưa kó và chưa có phương án phòng bò đối với
việc chống bán phá giá khi tham gia thương mại trên thò trường quốc tế. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 16
Chúng ta cần phải thấy rằng khi tham gia vào thò trường toàn cầu thì việc bò kiện
bán chống phá giá thì khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu chúng ta chủ động có
phương pháp phòng bò tốt, chủ động, sẵn sàng hợp tác với nước bạn trong việc
điều tra chống bán phá giá và chống lẩn tránh thuế bán phá giá thì có thể chúng
ta sẽ tránh được việc bò áp mức thuế này hoặc có thể bò áp thuế với mức thấp
hơn. Tại Hoa Kỳ, đất nước của nhiều luật thì luật chống bán phá giá được áp
dụng nhiều do nó dẫn đến việc áp dụng thuế cao hơn và có lợi cho nền kinh tế
của họ.
“Bán phá giá” là hàng hoá khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ với mức bán phá giá hoăïc
sẽ được bán phá giá với giá thấp hơn giá trò thông thường. Thuế chống bán phá
giá được áp dụng khi có đủ 2 điều kiện: một là, Bộ thương Mại Hoa Kỳ(DOC)
phải xác đònh hàng nước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ được bán
phá giá ở thò trường Hoa Kỳ, hai là Uỷ Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ
(USITC) phải xác đònh hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại
hoăïc đe doạ gây thiệt hại vật chất hoăïc ngăn cản hình thành ngành công nghiệp
tương tự tại Hoa Kỳ.
- Luật chống trợ giá (Countervailing Duty): mục đích của luật chống trợ giá
là triệt tiêu lợi thế cạnh tranh không bình đẳng của những sản phẩm nước ngoài
được Chính phủ nước ngoài trợ giá khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ, mức thuế trợ giá
sẽ áp dụng bằng với mức trợ giá. Thuế chống trợ giá được áp dụng khi có đủ hai
điều kiện. Một là, Bộ thương Mại Hoa Kỳ (DOC) phải xác đònh sản phẩm nước
ngoài nhập khẩu vào Hoa Kỳ được trợ giá trực tiếp, gián tiếp cho việc chế tạo,
sản xuất tại nước xuất khẩu; hai là Uỷ Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ
(USITC) xác đònh là hàng hoá trợ giá đã gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 18
- Mức thuế phi tối huệ quốc (Non –MFN) được áp dụng đối với những nước
chưa phải là thành viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới và chưa ký Hiệp đònh
Thương Mại song phương, mức thuế này thường có thuế suất rất cao so với MFN
và từ 20-110%, áp dụng đối với các nước như: Lào, Cu Ba, Bắc Triều Tiên. Mức
thuế này được ghi ở cột 2 trong biểu thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ.
- Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System Of Preferences –
GSP), đây là chính sách thuế mà Hoa Kỳ cho các nước khác hưởng có tác dụng
được giảm hoặc miễn thuế khi nhập khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ. Chương trình
GSP được bắt đầu thực hiện 1/1/1976. Theo Luật Hoa Kỳ, Tổng thống bò cấm
không được cho các nước cộng sản hưởng GSP trừ khi: các sản phẩm nước đó
được hưởng MFN, nước đó là thành viên của WTO, nước đó không bò chi phối
bởi cộng sản quốc tế. Hàng năm, danh sách các nước và các mặt hàng được
hưởng GSP, được điều chỉnh và quyết đònh bởi Tổng Thống sau khi tham khảo đề
xuất của Đại diện Thương Mại Hoa Kỳ (US Trade Representative – USTR), Uỷ
Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ ( International Trade Committee –ITC), các
cơ quan hành pháp và công chúng, chính vì vậy để được hưởng chế độ GSP là rất
khó. Hiện nay, chỉ có 124 nước và vùng lãnh thổ được hưởng chế độ GSP của
Hoa Kỳ trong đó không có Việt Nam. Để được hưởng GSP thì : hàng hoá phải
được nhập trực tiếp từ các nước được hưởng, trò giá hàng hoá được tạo ra từ các
nước được hưởng lợi ít nhất 35%.
- Xuất xứ của hàng hoá: nguyên tắc chung và cơ bản để xác đònh nước xuất
xứ của hàng hoá là dựa vào biến đổi đặc tính giá trò gia tăng của hàng hoá, theo
nguyên tắc này nước xuất xứ của hàng hoá là nước cuối cùng sản xuất ra hàng
hoá đó với điều kiện hàng hoá đó đã biến dạng để mang tên mới và có đặc tính
sử dụng mới. Luật Thuế quan của Hoa Kỳ 1930 quy đònh:
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 20
Về ngành da:
- Trung Quốc hiện là quốc gia đang đứng đầu Thế Giới về nguồn cung cấp
da, da heo và da cừu Trung Quốc có lượng cung cấp đứng đầu Thế giới, riêng da
bò xếp thứ 3 trên Thế Giới .
- Khả năng xuất khẩu da của Trung Quốc rất lớn, hàng năm Trung Quốc có
khả năng cung ứng hàng trăm triệu mét vuông da vào khoảng 500 triệu mét
vuông, chiếm 20% lượng da trên toàn Thế Giới
3
.
- Bên cạnh đó khả năng xuất khẩu giày da của Trung Quốc khoảng 60 triệu
đôi hàng năm, chiếm 53% tổng sản lượng xuất khẩu giày dép trên thế giới, riêng
giày da Trung quốc chiếm khoảng 15%.
• Chiến lược phát triển các cơ sơ,û công ty cung cấp da sống: Trung Quốc có
khoảng 2300 các doanh nghiệp cung cấp da sống trên toàn quốc, thu hút lao động
trong ngành này hơn 80000 người. Trong đó các doanh nghiệp tư nhân chiếm
42%, các doanh nghiệp tập thể chiếm 24%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chiếm 23% và các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 11%.
Bảng 1.4: Sản lượng cung ứng da thuộc của Trung Quốc.
(trăm triệu tấm)
1997 1998 1999 2000 2001
1 1,1 1,3 1,43 1,62
Nguồn : Environmental requirements , Market access, and Competitiveness in the Leather
and Footwear sector in China – Bangkok 19-21 November 2003.
- Ngoài ra, để phân vùng sản xuất nguyên liệu da- là nguyên liệu chính của
sản xuất giày dép Trung Quốc đã quy hoạch sẵn những vùng tập trung sản xuất
chủ yếu là da sống và da thuộc. Việc quy hoạch các vùng cung cấp nguyên liệu
cho giày dép đã tạo lợi thế nhất đònh cho quốc gia này trong việc sản xuất và
1 Zhejiang 25.305 60,6
2 Hebei 3.828 9,2
3 Shandong 2.648 6,3
4 Guangdong 1.853 4,4
5 Henna 1.772 4,2
6 Hunan 1.166 2,8
7 Guangxi 1.105 2,6 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 22
8 Sichuan 961 2,3
9 Fujian 834 2,0
Nguồn : Environmental requirements …. in China – Bangkok 19-21 November 2003.
Như vậy, trong chiến lược phát triển sản phẩm và nguyên liệu Trung Quốc đã
đánh giá đúng mức tầm quan trọng của thông tin, qua đó giúp các doanh nghiệp,
các cơ quan Trung ương có sự điều chỉnh hợp lý hàng tháng và hàng năm để
cung cấp sản phẩm theo đúng yêu cầu của thò trường.
- Để có thể có chiến lược thâm nhập và phát triển sản phẩm một cách hiệu
quả, quốc gia này cũng đã xây dựng cho mình một chiến lược dài hạn trong việc
đăng ký nhãn mác: 1994 Trung Quốc đã đăng kí chứng nhận nhãn mác về da thật
tại Uỷ Ban về Hành Chính và Thương Mại, nhãn hiệu da của Trung Quốc đã
được đăng ký ở 14 quốc gia khác nhau bao gồm Cộng Hòa Liên Bang Đức (nhãn
hiệu số 705857) và do đó chất lượng của sản phẩm này đáp ứng được những yêu
cầu của quốc tế.
• Về sản xuất sản phẩm và đáp ứng thò trường xuất khẩu: sau khi Trung
Quốc gia nhập vào WTO, mặc dù các rào cản về thuế quan đã giảm đi nhưng tại
những thò trường xuất khẩu trọng điểm đã xuất hiện những rào cản phi thuế quan
và những rào cản về kó thuật- đánh giá được sự khó khăn của vấn đề này – sau 7
mặt khác do vò trí đòa lý và phân bố dân cư nên đã có những điều kiện thuận lợi
nhất đònh trong phát triển ngành.
Chính vì vậy, chúng ta cần phải học tập những kinh nghiệm của Trung Quốc để
qua đó có những chiến lược phát triển ngành phù hợp và vẫn tiếp tục đẩy mạnh
ngày giày dép trong thời gian sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
- Kinh nghiệm về xây dựng hệ thống cảnh báo sớm: đây là một giải pháp --------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trang 24
mang tính chiến lược lâu dài, để có thể đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thò
trường và vượt qua những rào cản phi thuế quan, cần có những hệ thống cảnh
báo sớm trong ngành–và từ hệ thống này ngành, các doanh nghiệp có thể biết
được những tiêu chuẩn nào của thò trường về sản phẩm giày dép mà doanh
nghiệp chưa đáp ứng được, những vấn đề nào doanh nghiệp cần phải khắc phục
khi nhập khẩu và phát triển sản phẩm mà có kế hoạch sản xuất và phòng bò phù
hợp. Để phát triển hệ thống này cần có sự phối hợp giữa các tham tán thương
mại, bộ công thương, Hiệp hội và các doanh nghiệp với công nghệ thông tin
quốc gia đóng vai trò chính.
- Kinh nghiệm về xây dựng vùng nguyên liệu: chúng ta thiếu hẳn chiến
lược quy hoạch vùng nguyên liệu mà ở điều này nước bạn làm rất tốt do họ đã
có chiến lược dài hơi để chuẩn bò. Trong năm 2001 Tổng Công Ty Giày dép
Việt Nam có đệ trình Chính Phủ về chiến lược đẩy nhanh tốc độ phát triển
ngành giày dép trong đó Tổng công ty có đề nghò quy hoạch các vùng phát triển
công nghiệp giày dép, tuy nhiên vấn đề phát triển nguyên phụ liệu như thế nào
đối với ngành thì chưa được nhắc đến.
- Kinh nghiệm về phát triển sản phẩm: có thể nói về mặt này sản phẩm
giày dép của Trung Quốc thực hiện khá tốt, đối với từng thò trường họ có những
chuẩn sản phẩm thích hợp riêng cho thò trường đó, chính vì thế sản phẩm giày
dép của Trung Quốc luôn đáp ứng tốt cho thò trường mà họ thâm nhập.