skkn THIẾT kế một số đồ DÙNG dạy học môn vật lí lớ - Pdf 32

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình giảng dạy môn vật lí lớp 12, người viết nhận thấy có một số đồ
dùng dạy học có thể tự chế tạo để minh họa cho bài giảng, làm cho các kiến thức
trở nên gần gũi với người học hơn, giúp họ có thêm niềm tin vào kiến thức và thêm
hứng thú đối với môn vật lí. Với kiến thức còn hạn hẹp, kinh nghiệm giảng dạy
môn vật lí 12 còn chưa nhiều, người viết chỉ mới thiết kế và tập hợp một số đồ
dùng dạy học mang tính chất biểu diễn, chưa đi vào khảo sát định lượng và chưa
phân bố đều trong các chương. Vì hầu hết các đồ dùng dạy học này đều khá đơn
giản dễ làm, nên có thể giao cho các nhóm học sinh tự thiết kế hoặc mở rộng thành
các cuộc thi nhỏ trong câu lạc bộ vật lí.

NGƯỜI THỰC HIỆN
(Kí và ghi rõ họ tên)


NỘI DUNG CHÍNH
“THIẾT KẾ MỘT SỐ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 12”
1. SÓNG DỪNG
a. Mục đích chế tạo
Các hình ảnh và phim về thí nghiệm sóng dừng trên dây đã có rất nhiều trên
internet. Ở trang 81 của SGK 12 nâng cao cũng đã trình bày cách bố trí thí nghiệm
và hình ảnh quan sát được. Hiện nay, bộ thí nghiệm sóng dừng đã được công ty
sách thiết bị Nguyễn Tri Phương - TPHCM sản xuất phục vụ cho giảng dạy đại trà
(Hình 1.1), đủ tiêu chuẩn để thực hiện được khá tốt nhiều thí nghiệm như tạo hiện
tượng sóng dừng trên dây đàn hồi ứng với các tần số khác nhau (sóng ngang), tạo
sóng dừng trên lò xo đàn hồi (sóng dọc), nghiên cứu sự phụ thuộc của tốc độ
truyền sóng trên dây vào sức căng của dây. Kích thước của bộ thí nghiệm không
quá lớn và có thể chứa trong một hộp chữ nhật có chiều dài 1 mét.

Hình 1.1. Bộ thí nghiệm sóng dừng của công ty sách &
thiết bị Nguyễn Tri Phương


-

một sợi dây đàn hồi, chiều dài khoảng 1,5 m.

c. Hoạt động
Nguồn phát dao động được treo vào dây đàn hồi như hình 1.3, bật công tắc để
khởi động nguồn, dịch chuyển các ngón tay cầm dây, dọc theo dây, để thay đổi
chiều dài dây thích hợp sao cho có thể tạo sóng dừng một bó sóng hay hai bó sóng
(hình 1.4).


Hình 1.3. Sóng dừng một bó

Hình 1.4. Sóng dừng hai bó

d. Nhận xét
- Ưu điểm:
• Bộ dụng cụ gây hứng thú khá mạnh cho học sinh vì nó rất gọn nhẹ, đơn
giản trong chế tạo và sử dụng (các em có thể tự làm ở nhà).
• Có thể thay đổi chiều dài dây tùy ý để tạo nhiều bó sóng.
- Nhược điểm:
• Một cục pin loại 23 A – 12 V chỉ giúp dụng cụ hoạt động được hai giờ.
• Chưa thay đổi được tần số của nguồn phát dao động. Việc này có thể cải
tiến được, bằng cách sử dụng nhiều nguồn pin, khi đó chỉ cần gạt công
tắc là có thể thay đổi giá trị suất điện động của nguồn phát.
• Không biểu diễn được hiện tượng sóng dừng đối với trường hợp một đầu
dây cố định, một đầu dây tự do.
e. Đề nghị
Như đã phân tích ở trên, bộ phận quan trọng nhất để tạo hiện tượng sóng dừng

buộc bạn phải tăng âm lượng hết cỡ, nhưng với bộ dụng cụ này bạn có thể thoải
mái trao đổi, với âm lượng bình thường như khi hai bạn đang đứng cạnh nhau. Để
âm thanh truyền tốt nhất bạn chú ý giữ hai ly sao cho dây căng hết cỡ (hình 2.2).
Điều này chứng tỏ sóng âm truyền được trong hai môi trường khí và rắn. Trong
môi trường không khí có nhiều vật hấp thụ năng lượng sóng âm nên âm thanh bị
mất mát năng lượng, ảnh hưởng đến cường độ âm hơn trong môi trường rắn.
Nếu tăng khoảng cách ra xa hơn nữa, thì không những phải hét thật to mà còn
phải đợi một lúc bạn mới nghe thấy âm thanh. Nhưng nếu sử dụng bộ dụng cụ này,
bạn hầu như nghe thấy ngay lập tức. Điều đó chứng tỏ sóng âm truyền trong môi
trường rắn với tốc độ lớn hơn trong không khí.


Hình 2.2. Trao đổi bằng điện thoại tự chế

e. Nhận xét
- Ưu điểm:
• Bộ dụng cụ dựa trên một trò chơi thời thơ trẻ nên là một minh họa gần
gũi với học sinh, có thể mở rộng để tổ chức cuộc thi truyền tin trong câu
lạc bộ vật lí.
• Đơn giản, dễ làm.
- Nhược điểm:
• Việc sử dụng dây chỉ rất dễ bị rối, có thể thay thế bằng dây dù.
• Phạm vi lớp học nhỏ nên phải bố trí một học sinh ở ngoài lớp và một học
sinh ở trong lớp.
3. TỔNG HỢP ÁNH SÁNG TRẮNG
a. Mục đích chế tạo
Minh họa về sự tổng hợp nhiều ánh sáng
đơn sắc khác nhau có thể tạo thành ánh
sáng trắng.
b. Kiến thức liên quan

Hình 3.3: Các sản phẩm tổng hợp ánh sáng trắng theo mô hình đĩa Newton
(Ảnh tư liệu Câu lạc bộ Vật lí , THPT Lương Thế Vinh).

e. Nhận xét
− Ưu điểm:
• Cấu trúc bộ dụng cụ đơn giản, có thể thay thế tay quay bằng mô-tơ được
thu hồi từ các động cơ điện cũ trong đồ chơi dành cho trẻ em.
• Có thể thay đổi tốc độ quay của đĩa bằng cách mắc nối tiếp mô-tơ với
biến trở nhằm khảo sát quá trình tổng hợp ánh sáng trắng chịu sự chi
phối của tốc độ quay nhanh hay chậm. Kết quả ghi nhận, đĩa quay càng
nhanh thì ánh sáng tổng hợp càng gần với màu trắng.
• Có thể thay đổi sự phối màu đơn sắc khác nhau trên đĩa nhằm khảo sát
ảnh hưởng của sự chồng chập từ các màu đơn sắc khác nhau, việc chọn tỉ
lệ % của màu đơn sắc cũng ảnh hưởng nhiều đến quá trình tổng hợp, kết
quả có thể thu nhận được các màu đa sắc khác nhau mà không phải là
màu trắng.
− Nhược điểm:
• Thực tế thí nghiệm chỉ thu được ánh sáng màu ngà ngà, không phải màu
trắng như mong muốn. Như đã nói ở trên, với cách tổng hợp này, để thu
nhận được ánh sáng trắng từ các màu đơn sắc khác nhau không đơn giản
vì quá trình này chịu nhiều yếu tố chi phối như tốc độ quay của đĩa, màu


đơn sắc được chọn và tỉ lệ % của màu trên đĩa phải phù hợp để ánh sáng
đa sắc thu nhận được là màu trắng. Điều này đòi hỏi người thực hiện sản
phẩm phải qua nhiều bước thử - sai trước khi nhận được ánh sáng tổng
hợp là ánh sáng trắng.
4. CƠ HỌC VẬT RẮN
a. Mục đích chế tạo
Mô tả lại một hiện tượng vật lí dựa theo một bài toán mẫu trong sách Cơ sở vật

thí nghiệm càng dễ thực hiện.
d. Hoạt động
-

Một học sinh A ban đầu đứng thăng bằng ở trạng thái nghỉ trên bàn
quay, hai tay giữ chặt trục quay của đĩa tròn đặc theo phương thẳng đứng
như hình 4.3.

-

Một học sinh B đến quay thật mạnh đĩa tròn. Trong khi đĩa tròn đang
quay, học sinh A vẫn ở trạng thái nghỉ.

-

Học sinh A lật ngược đĩa tròn lại, kết quả là học sinh A cùng với bàn
quay quanh trục của bàn.

-

Để dừng lại, học sinh A chỉ cần lật ngược đĩa tròn lại lần nữa để đưa
về vị trí ban đầu.

-

Nếu lực quay đủ mạnh, chỉ cần làm nghiêng trục của đĩa tròn là cũng
đủ để học sinh A và bàn cùng quay.

-


thức thiết kế, thay vì giáo viên đóng vai trò trung tâm thì giờ đây giáo viên sẽ


nhường vai trò cho đó các nhóm học sinh, để họ chủ động trong thiết kế, giáo viên
trở thành người đưa ý tưởng và hướng dẫn nếu cần. Nhờ vậy, học sinh sẽ phát triển
thêm nhiều kĩ năng sống ngoài những giờ học lí thuyết trên lớp. Đó cũng là mục
tiêu chính của giáo dục: “Giúp người học phát triển toàn diện”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Lương Duyên Bình, Vũ Quang, Nguyễn Thượng Chung, Tô Giang, Trần Chí
Minh, Ngô Quốc Quýnh (2008), Vật lý 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2.

Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc
Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Túy, Phạm Quý Tư,
Vật lý 12 nâng cao, Nxb Giáo dục, Hà Nội.


3.

David Halliday, Robert Resnick, Jearl Walker, Cơ sở vật lí – tập hai – cơ
học II, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4.

Powerpoint Hướng dẫn sử dụng thí nghiệm vật lí 12 của công ty sách & thiết
bị Nguyễn Tri Phương, TPHCM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status