Bồi dưỡng cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành giáo dục tiểu học năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn Toán - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ HÒA THANH BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG
DẠY HỌC MÔN TOÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỆ AN, 2014

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Luận văn được thực hiện và hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Chu Trọng Thanh. Tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến thầy về sự hướng dẫn tận
tình mà thầy đã dành cho tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Sau Đại học, quý
thầy cô khoa trong Toán và các thầy cô trong trường đã dạy, tạo điều kiện,
hướng dẫn tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Ban giám hiệu, trong
khoa Tiểu học Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận, các trường tiểu học trong
tỉnh Ninh Thuận đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn .
Cũng nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp - những người luôn cổ vũ động viên tác giả trong quá trình học
tập và nghiên cứu đề tài luận văn.
Tuy tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn nhưng
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sửa chữa. Tác giả
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn đọc./.

Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 06 năm 2014
Tác giả 4
MỤC LỤC
Chương 1 6

LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TIỂU HỌC49
2.1. Phân tích nội dung môn toán tiểu học và nhu cầu sử dụng phương tiện
dạy học 49
2.1.1. Vị trí của môn toán ở bậc Tiểu học 49
2.1.2. Mục tiêu của môn toán ở tiểu học 49
2.1.3. Các mạch kiến thức trong hương trình toán ở tiểu học 50

5
2.1.4. Nội dung cụ thể của môn toán tiểu học và nhu cầu cần sử dụng phương
tiện dạy học 50
2.2. Một số yếu tố trong năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn
toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng ngành tiểu học. 54
2.2.1. Khái niệm về năng lực 54
2.2.2. Năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học 54
2.3. Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy
học môn Toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục tiểu
học 62
2.3.1. Một số định hướng xây dựng các biện pháp 62
2.3.2. Một số biện pháp sư phạm bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng
dạy học môn Toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục
tiểu học 63
2.4. Giới thiệu một số mẫu đồ dùng dạy học có thể sử dụng cho sinh viên
nghiên cứu chế tạo, cải tiến và sử dụng 68
2.4.1. Một số đồ dùng cầm tay của giáo viên có tích hợp một số chức năng 68
2.4.2. Một số đồ dùng dạy học kiến thức hệ thống số 69
2.4.3. Một số đồ dùng dạy học kiến thức các yếu tố hình học 72
2.4.4. Một số đồ dùng dạy học kiến thức về các yếu tố thống kê 74
Kết luận chương 2 75
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1. Mục đích thực nghiệm 76

thức, kỹ năng, phẩm chất trí tuệ cần thiết theo mục tiêu dạy học của môn học.
Ở bậc tiểu học, phương tiện dạy học nói chung, phương tiện trực quan nói
riêng, đóng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dạy học. Chính vì
vậy trong định hướng đổi mới giáo dục bậc tiểu học luôn đề cập đến vấn đề
đổi mới phương tiện dạy học. Đồ dùng dạy học là thuật ngữ thường được sử
dụng để chỉ những phương tiện dạy học chủ yếu mang tính vật chất, đơn giản,
gọn nhẹ, dễ sản xuất và sử dụng trong quá trình dạy học. Đồ dùng dạy học
của giáo viên, với tư cách là bộ đồ hành nghề dạy học, góp phần đáng kể vào
việc nâng cao hiệu quả bài lên lớp. Việc thiết kế, chế tạo và khai thác, sử

2
dụng các phương tiện dạy học nói chung, đồ dùng dạy học nói riêng được xác
định là một trong những nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình thực hiện đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay.
3. Kiến thức môn toán có tính logic chặt chẽ, có tính trừu tượng cao độ
và có ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Chương trình môn Toán ở bậc tiểu
học tuy đơn giản về mặt nội dung nhưng có tính lô gic chặt chẽ và tăng dần
mức độ khó khăn, phức tạp theo từng lớp học nên việc hình thành một cách
vững chắc hệ thống kiến thức, kỹ năng cho học sinh cần được chú ý ngay từ
buổi đầu. Việc sử dụng đồ dùng dạy học và tổ chức hoạt động dạy học thích
hợp sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức một cách chuẩn xác, hình thành
được các kỹ năng cần thiết, phát triển được năng lực tư duy. Nói như vậy cho
thấy việc sử dụng hợp lý đồ dùng dạy học môn Toán sẽ góp phần thực hiện
yêu cầu nâng cao hiệu quả học tập của học sinh.
4. Trong nước cũng như trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên
cứu về viêc sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ dùng dạy học môn
Toán cho bậc tiểu học nói riêng. Gần đây những công trình của Trần Trung,
Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn, Phạm Đình Thực, đã đề cập đến vấn đề
này. Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các Sở Giáo dục – Đào tạo đã tổ
chức nhiều Hội thảo, cuộc thi về sáng tạo đồ dùng dạy học. Đã có nhiều ý

thiết kế, chế tạo và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán tiểu học.
4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các đề xuất.
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán hiện
nay.
- Nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực nghề cho sinh viên cao đẳng sư
phạm ngành Giáo dục tiểu học.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề về bồi dưỡng năng lực thiết kế và sử dụng đồ dùng
dạy học Toán ở bậc tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục

4
tiểu học.
- Khảo sát thực tế trên địa bàn các trường Tiểu học tỉnh Ninh Thuận;
V. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, hệ thống hóa các tư liệu về lý
luận dạy học, về phương tiện dạy học, về nội dung môn toán ở trường phổ
thông, về định hướng phát triển nên giáo dục Việt Nam trong những năm đầu
thế kỷ XXI,
2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Thu thập số liệu về thực trạng
dạy và học môn Toán ở bậc tiểu học, thực trạng công tác đào tạo giáo viên
tiểu học ở nước ta hiện nay, thực trang năng lực thiết kế, chế tạo và khai thác
đồ dùng dạy học của giáo viên toán tiểu học,
3. Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng
sự khả thi và tính hiệu quả của những đề xuất trong quá trình nghiên cứu.
4. Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.
VI. Giả thuyết khoa học
Trong dạy học các học phần nghiệp vụ sư phạm ngành Giáo dục tiểu học ở
trường Cao đẳng sư phạm nếu giáo viên quan tâm đến việc bồi dưỡng cho

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
3.1.Xác định mục đích thực nghiệm
3.2.Tường trình quá trình thực nghiệm
3.3.Đánh giá kết quả thử nghiệm
6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC NĂNG LỰC
THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
1.1. Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn
toán tiểu học
Khái niệm Phương pháp dạy học đã được đề cập đến trong nhiều tài
liệu về lý luận dạy học. Theo nghĩa rộng thì đó là toàn bộ những vấn đề lý
luận và thực hành liên quan đến việc xác định mục đích của quá trình dạy
học, về nội dung dạy học, về các điều kiện cần thiết để tiến hành quá trình dạy
học, về cách thức tổ chức quá trình dạy học, về cách tiến hành những hoạt
động của giáo viên nhằm làm cho học sinh thu nhận, kiến tạo những tri thức,
kỹ năng, phẩm chất nhân cách theo mục tiêu đã xác định. Theo nghĩa hẹp thì
phương pháp dạy học là con đường, là cách thức hoạt động của thầy và trò
nằm làm cho học sinh đạt được mục đích của quá trình dạy học.
Đã có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu vấn đề phương pháp dạy học.

02/CT-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT
Ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trong
đó: cụ thể trong giai đoạn 2013-2015 sẽ Hoàn thiện Đề án “Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” nhằm khắc phục những yếu
kém, bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo
trong thời gian qua.
Cũng trong giai đoạn này Chương trình hành động trên có nêu rõ việc
Đổi mới quản lý giáo dục và Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo

8
dục, trong đó:
“Triển khai thực hiện Chương trình phát triển ngành sư phạm và các
trường sư phạm đến năm 2020.
- Triển khai quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ
thông và giáo dục thường xuyên nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của đội
ngũ theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp. Hướng dẫn cơ sở tự
xác định nhu cầu bồi dưỡng và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ.” Và:
“Triển khai các dự án, đề án về đổi mới phương pháp dạy học”
Cũng bàn về đổi mới phương pháp dạy học, Một số tác giả đã cho rằng:
- Phương pháp dạy học liên hệ chặt chẽ với mục tiêu, nội dung, phương
tiện dạy học và các điều kiện khác nên chiến lược đổi mới phương pháp
không thể thực hiện một cách riêng lẻ. Phải đổi mới đồng bộ mà trước hết là
từ mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục. Chiến lược đổi mới phương pháp
phải nằm trong chiến lược chung.
- Vai trò của người học nếu muốn được thay đổi về cơ bản thì trước hết
phải hình thành ở họ các phẩm chất, thói quen và năng lực ngay từ khi đến
trường, tức là phải đổi mới phương pháp dạy học ngay từ bậc tiểu học, hay

ta hiện nay cần tập trung vào một số định hướng sau:
1.1.2.1. Xác lập vị trí chủ thể của học sinh, đảm bảo tính tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập
Người học là chủ thể kiến tạo kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
thái độ chứ không phải là hoàn toàn làm theo lệnh của thầy giáo. Vai trò chủ
thể của người học được khẳng định trong quá trình họ học tập trong hoạt động
và bằng hoạt động tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo của chính bản thân
mình.Tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh được đảm bảo
thông qua những hoạt động học tập được hướng đích và gợi động cơ để
chuyển hoá nhu cầu xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân. học sinh chỉ có
thể phát huy được tính sáng tạo khi được học tập trong hoạt động và bằng

10
hoạt động. Tuỳ theo mục tiêu và hoàn cảnh cụ thể, có thể tổ chức cho học
sinh hoạt động độc lập hoặc trong giao lưu, hợp tác. Cả hai hình thức tổ chức
này đều rất quan trọng đối với phương pháp dạy học hiện đại. Một mặt, mặc
dù trong quá trình học tập vẫn có cả những pha học sinh hoạt động dưới sự
dẫn dắt của thầy hoặc có sự hỗ trợ của bạn, nhưng hoạt động độc lập của học
sinh là thành phần không thể thiếu để đảm bảo thành công của quá trình dạy
học. Mặt khác, do bản chất xã hội của việc học tập, phương diện giao lưu
ngày càng được quan tâm và nhấn mạnh trong phương pháp dạy học. Những
hình thức học theo nhóm, học theo cặp, học và dạy học lẫn nhau… ngày càng
được tăng cường.
1.1.2.2. Tri thức được đặt trong những tình huống có dụng ý sư
phạm
Theo chủ nghĩa kiến tạo trong tâm lý học, học tập chủ yếu là một quá
trình trong đó người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi
với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn và những sự mất
cân bằng. Vì vậy, người giáo viên thường cài đặt tri thức vào những tình
huống thích hợp để học sinh chiếm lĩnh nó thông qua hoạt động tự giác, tích

1.1.2.4. Chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học làm gia tăng sức
mạnh của giáo viên và học sinh trong quá trình tác động vào đối tượng nhận
thức của học sinh
Loài người có sự phát triển tiến bộ vượt xa loài vật ở chỗ loài người là
loài duy nhất trên trái đất biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Phương
tiện dạy học làm gia tăng sức mạnh của người sử dụng chúng. Từ những đồ
dùng dạy học đơn giản như thước, compa…đến phương tiện kỹ thuật hiện đại
như thiết bị nghe nhìn, công nghệ thông tin và truyền thông chứa đựng những
tình huống sư phạm giúp cho người thầy cô giáo tổ chức hoạt động dạy và
học một cách sinh động và đạt hiệu quả cao hơn, đặc biệt là việc ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát huy thế mạnh của
nó trên toàn thế giới.

12
1.1.2.5. Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả
của bản thân người học
Từ lạc quan đến hứng thú, từ hứng thú đến tích cực hoạt động và kết
quả thu được là nhận thức và tài năng đó là công thức của các chuyên gia về
giáo dục học đưa ra. Hoạt động học tập ngoài đòi hỏi tính tích cực, tự giác,
độc lập và sáng tạo của người học thì còn phải mang lại niềm vui, hứng thú
lạc quan cho người học. Niềm vui này có thể có được bằng nhiều cách khác
nhau, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là niềm lạc quan trong hoạt động lao động
và thành quả học tập của bản thân người học. Chính việc giải được một bài
tập khó, phát hiện ra một điều mới mẻ khơi ngợi nguồn cảm hứng học tập cho
học sinh. học sinh tự mình vật lộn tìm tòi, giải quyết được các tình huống có
vấn đề sẽ cảm thấy sung sướng và tự hào về bản thân mình hơn rất nhiều là
tiếp nhận thụ động những kiến thức từ người khác áp đặt sẵn cho mình. Cho
nên, cần tổ chức học tập cho học sinh sao cho học luôn cảm thấy mình gần tới
đích, chỉ cần nỗ lực gắng sức là có cơ hội thành công.
1.1.2.6. Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người

1.2. Một số vấn đề lý luận về phương tiện dạy học.
1.2.1. Khái niệm về phương tiện dạy học.
Theo Phan Trọng Ngọ [1] thì Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật,
hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là
công cụ hay điều kiện để giáo viên và học viên sử dụng làm khâu trung gian
tác động vào đối tượng dạy học. Phương tiện dạy học có chức năng khơi dậy,
dẫn chuyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến
đối tượng dạy học.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [2] thì “các giáo viên thường bị trách
cứ là “nói quá nhiều”. Điều đó có nghĩa là giáo viên đã lạm dụng từ ngữ
trong việc biểu đạt ý nghĩa. Có một số giáo viên không bao giờ để ý đến việc
học sinh có thực sự hiểu và hứng thú với những gì mình nói hay không. Nhiều

14
giáo viên thường có xu hướng “nói cho” học sinh nghe chứ không phải là “nói
với” chúng.
Thực ra có thể sử dụng rất nhiều loại công cụ để làm cho bài giảng rõ
ràng hơn và hấp dẫn hơn. Những công cụ này thường được gọi là phương tiện
dạy học được dùng để hỗ trợ cho công việc của giáo viên. Tuy nhiên, việc sử
dụng các công cụ này một cách đơn điệu, cứng nhắc thường không thể mang
lại hiệu quả trong dạy học. Việc lựa chọn kĩ lưỡng và xử lý thuần thục của
giáo viên khi sử dụng các phương tiện dạy học trong giờ lên lớp mới mang lại
hiệu quả của các thiết bị này trong việc giúp học sinh nhận thức tốt bài học.
Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, giờ đây phương tiện dạy học ngày
càng phong phú và tiện dụng. Khi lên lớp giáo viên có nhiều lựa chọn các
phương tiện hỗ trợ cho bài giảng của mình, học sinh có cơ hội được quan sát,
hành động trên nhiều loại phương tiện, công cụ để kiến tạo kiến thức, phát
triển tư duy và rèn luyện kỹ năng. Công cụ ngôn ngữ không còn là loại
phương tiện dạy học có tính độc tôn trong nhà trường nữa. Điều quan trọng
đối với giáo viên là làm quen với các loại phương tiện dạy học khác nhau

1. Giúp kiến tạo tri thức
Một số mô hình và hình ảnh mô phỏng giúp học sinh nâng biểu tượng
lên khái niệm từ đó hình thành tri thức.
2. Giúp rèn luyện kỷ năng, giúp học sinh tăng cường trí nhớ, làm cho
việc học tập được lâu bền
Phương tiện dạy học có thể hổ trợ rèn luyện kỷ năng sử dụng một công
cụ, ví dụ như từ điển, máy vi tính…
Phương tiện dạy học cũng có thể giúp học sinh rèn luyện một kỷ năng
thực hiện một hoạt động nào đó, ví dụ những mô hình hình học hổ trợ rèn
luyện học sinh kỷ năng quan sát, so sánh, phân tích…
3. Giúp kích thích hứng thú học tập, thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi
thông tin, do đó giúp học sinh học tập có hiêu quả, khuyến khích và thúc đẩy
học sinh học tập.
4. Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực

16
tiễn xã hội và môi trường sống.
5. Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không
thể tiếp cận được thành cái có thể tiếp cận được. Điều này thực sự đúng khi sử
dụng phim ảnh và các phương tiện tương tự.
6. Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh có thể phát triển các hoạt
động học tập khác.
7. Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập khác.
8. Khuyến khích học sinh tham gia chủ động vào quá trình dạy học.
1.2.3. Phân loại phương tiện dạy học
Các phương tiện dạy học có phổ rất rộng và đa dạng. Bất kỳ cái gì, hiện
tượng nào cũng có thể trở thành phương tiện dạy học: một khái niệm khoa
học, một kinh nghiệm đã có của học sinh khi được dùng để tiếp thu kiến thức
mới; một cành cây, con vật, đồ dùng trong sinh hoạt…Vì vậy, việc phân loaị
các phương tiện dạy học rất phức tạp và tùy thuộc vào các tiêu chí để phân

có chức năng là giá đỡ, dẫn truyền và làm tăng cường sức mạnh tác động của
hoạt động dạy và học lên đối tượng, giúp cho người dạy và người học thuận
lợi hơn, tiện lợi hơn khi tác động lên đôí tượng dạy học. Tuy nhiên, mặt trái
của nó là nếu lạm dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, chức năng của
các phương tiện sẽ thụ động hóa, đơn điệu hóa các hoạt động dạy và học dẫn
đến “lợi bất cập hại”.
1.2.3.3. Phân loại theo đối tượng tác động của phương tiện dạy
học.
Nhóm phương tiện dạy học theo lứa tuổi học viên.
Nhóm các phương tiện theo nội dung môn học: Do đặc thù của các bộ
môn khoa học khác nhau, đòi hỏi phải có những phương tiện thay thế hoặc hổ
trợ; chẳng hạn ngôn ngữ dạy Toán phải khác ngôn ngữ dạy Văn hay các môn
học khác…
Nhóm các phương tiện dạy học theo chiều hướng tác động chủ đạo vào
nội dung dạy học. 18
1.2.4. Một số lưu ý về vấn đề sử dụng phương tiện dạy học
1.2.4.1. Sử dụng phương tiện dạy học thích ứng linh hoạt với
những ý đồ về phương pháp dạy học.
Những phương tiện dạy học có khả năng đáp ứng những nhu cầu đa
dạng. Mỗi phương pháp dạy học không đơn thuần chỉ sử dụng một phương
tiện dạy học. Ví dụ phương pháp vấn đáp có khi vừa sử dụng sách giáo khoa,
vừa sử dụng vật thật. Ngược lại một phương tiện dạy học có thể được sử dụng
cho nhiều phương pháp khác nhau, ví dụ một phương tiện trực quan như hình
vẽ hay mô hình có thể sử dụng vừa cho phương pháp trực quan vừa cho
phương pháp vấn đáp. Như vậy chúng ta cần khai thác khả năng thích ứng
linh hoạt này để nâng cao hiệu quả của phương tiện dạy học.
Tăng cường sử dung những phương tiện dạy học tạo môi trường tương

Theo Phan Trọng Ngọ [1] thì Phương tiện trực quan là những phương
tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để giáo viên
và học viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng
cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu
cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ
thể”
Khái niệm trực quan: Hiện nay trong dạy học, ta thấy có hai quan niệm
về trực quan, và tạm quy ước là quan niệm truyền thống và quan niệm hiện
đại:
Quan niệm truyền thống: Theo quan niệm này, trực quan là chủ thể sử
dụng một hay nhiều giác quan để quan sát, từ đó tạo ra các hình ảnh bên ngoài
cuả đối tượng nhận thức. Công thức chung là: quan sát trực tiếp đối tượng để
tạo ra hình ảnh cảm tính về chúng → khái quát hóa (trừu tượng hóa) các hình
ảnh đó trở thành biểu tượng chung (tức là khái niệm về một lớp các biểu
tượng cùng loại được xét theo những tiêu chí xác định). Quan niệm này được
hình thành dựa trên hai cơ sở chủ yếu là xã hội học và triết học. Mặc dù mang
tính duy cảm, nhưng cách hiểu trực quan và phương pháp trực quan theo

20
quan niệm truyền thống là một tiến bộ so với dạy học thuyết giáo kinh viện
trước đây. Theo đó, học tập được bắt đầu từ quan sát thế giới bên ngoài.
Thông qua quan sát người học thu được những bằng chứng về sự vật, hiện
tượng, tạo ra niềm tin đối với tri thức được truyền thụ, chống lại lối dạy học
giáo điều, theo kiểu nhồi nhét tri thức cho người học.
Quan niệm hiện đại: trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản
chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan, mà là bằng những hành động, tác
động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bên ngoài của chúng, làm cho cái
bản chất các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ,
được phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thìchúng
mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status