skkn vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vào dạy một số tiết làm văn ở chương trình giáo khoa lớp 12 - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT ĐIỂU CẢI
Mã số………………….

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Người thực hiện: Lê Thị Huyền Trân
Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp dạy học bộ môn ngữ văn

Năm học 2012 - 2013

Lê Thị Huyền Trân

-1-


MỤC LỤC
Mục lục

Trang

I. Đặt vấn đề :.............................................................................................................
1
II. Thực trạng của việc dạy và học phân môn làm văn ở các trường THPT hiện
nay .............................................................................................................................
2
III. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vào dạy
làm văn lớp 12 ...........................................................................................................
3
1. Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung

môn làm văn không chỉ là quá trình tái hiện lại những tri thức đã được học trước
đó mà còn là quá trình sáng tạo, phát hiện thêm nhiều điều mới mẻ, riêng biệt
của cả giáo viên và học sinh. Và cái khó là điều mới mẻ đó lại tùy thuộc vào sự
cảm nhận tinh tế của từng cá nhân mỗi người. Đáp ứng được tất cả những điều
này không thể chỉ dùng phương pháp dạy học truyền thống mà phải sử dụng
phương pháp dạy học tích cực hiện đại.
Tổ chức giờ dạy làm văn như thế nào để đạt hiệu quả cao? Giáo viên nên
dùng phương pháp nào? Làm thế nào để học sinh có thể vận dụng kiến thức lí
thuyết vào thực hành để tạo lập được văn bản theo yêu cầu đề ra, đáp ứng được
mục tiêu của tiết học? Làm sao để học sinh có thể tự nhận thức chất lượng bài
làm của mình để tự khắc phục yếu kém, phát huy năng lực sáng tạo? Thiết nghĩ,
nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
vào dạy làm văn cũng là tìm đến một cách dạy hiệu quả mang tinh thần đổi mới
có thể đáp ứng được mục tiêu đề ra của phân môn làm văn. Do đó, tôi quyết
định nghiên cứu đề tài này.
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, bài viết chỉ tập
trung nghiên cứu vấn đề trong phạm vi sau:
- Thực trạng của việc dạy làm văn ở trường trung học phổ thông
- Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm
trung tâm
- Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vào
dạy một số tiết làm văn ở chương trình giáo khoa lớp 12
Lê Thị Huyền Trân

-3-


Thực hiện nghiên cứu đề tài này, ngoài phương pháp nghiên cứu khoa học
chung còn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như phương pháp phân tích,
tổng hợp, phương pháp thực nghiệm.



III. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
vào dạy làm văn lớp 12
1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh
làm trung tâm
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đề cao vai trò chủ động của người
học nhưng không hạ thấp vai trò của người thầy. Người thầy có vai trò thiết kế,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình dạy học nhưng không làm thay trò, học trò
tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, tự tổ chức, tự thi công và tự kiểm tra việc học
dưới sự chỉ đạo của thầy. Đây là phương pháp tổ chức quá trình dạy học thành
quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa việc học. Phương pháp dạy
học này cũng tích hợp được nhiều phương pháp khác như phương pháp hợp tác,
phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, úng dụng công nghệ thông tin…
Phương pháp này có những đặc trưng sau:
Học sinh, chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành
động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học.
Học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học làm cho kiến thức cá
nhân mang kiến thức xã hội, tức là xã hội hóa việc học.
Giáo viên là người tổ chức hướng dẫn quá trình tự học tự học của học sinh.
Học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh việc học của mình.
Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên và học sinh:
Đối với học sinh: Đầu tiên học sinh phải tự tìm tòi, phát hiện vấn đề, giải
quyết vấn đề, tự tìm ra tri thức mới. Tiếp đến, tự thể hiện mình bằng lời nói hoặc
văn bản, bảo vệ ý kiến của mình qua sự đối thoại với bạn bè và giáo viên. Sau
những kết luận của bạn bè và giáo viên, học sinh tự kiểm tra, đánh giá ý kiến
của mình và tự sửa sai, điều chỉnh thành kiến thức đúng.
Đối với giáo viên: Trước tiên giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòi
kiến thức, sau đó định hướng cho từng cá nhân học sinh tổ chức tự học và can
thiệp đúng lúc những vấn đề, tình huống khó khăn mà học sinh mắc phải. Giáo

A. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- Nội dung yêu cầu của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Cách thức triển khai bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
2. Kĩ năng:
- Nhận diện được một hiện tượng đời sống được nêu ra trong một số văn
bản nghị luận.
Lê Thị Huyền Trân

-6-


- Huy động kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị
luận về một hiện tượng đời sống.
3. Tư tưởng, tình cảm- Thái độ:
Có ý thức và khả năng tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán
những quan niệm sai lầm về hiện tượng đời sống.
B Tiến trình dạy- học
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài
Giáo viên (GV) giao bài tập đã định hướng ở sách giáo khoa cho học sinh
(HS) chuẩn bị ở nhà:
Bài tập 1: Thực hiện tìm hiểu đề và lập dàn ý cho đề bài SGK, tr 66 “Chia chiếc
bánh của mình cho ai”.
a.Trả lời các câu hỏi SGK tr 66:
- Đề bài yêu cầu bàn về hiện tượng gì?
- Bài viết cần có những ý nào?
- Nên chọn những dẫn chứng nào?
- Cần vận dụng những thao tác lập luận nào?
b. Lập dàn ý cho đề bài dựa theo những ý đã trình bày ở phần tìm hiểu đề và gợi
ý của SGK tr 67

trước lớp phần a của bài tập số 1.
- HS trình bày phần đã chuẩn bị.
- Trên cơ sở phần trình bày của HS, GV hỏi: Em căn cứ vào đâu để xác
định vấn đề nghị luận? Làm thế nào để xây dựng được các ý chính? Em lấy các
dẫn chứng này ở đâu? Dẫn chứng có đáng tin cậy không?
- HS trả lời. Trên cơ sở câu trả lời của học sinh, GV nhận xét thái độ làm
việc nghiêm túc hay sao chép máy móc của học sinh. Cũng từ phần trình bày,
GV hỏi lớp học: Khi tìm hiểu đề ta cần tìm hiểu những gì? Sau đó, GV gọi ngẫu
nhiên một học sinh trả lời và từ đó định hướng nội dung bài học:
1. Tìm hiểu đề
Đọc kĩ đề bài và chú ý vào những từ then chốt
Tiến hành tìm hiểu:
- Yêu cầu về nội dung: luận đề, các ý chính (luận điểm)
- Yêu cầu về tư liệu: phạm vi tư liệu
- Yêu cầu về phương pháp: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận, so
sánh…
Ví dụ:
- Nội dung:
+ Luận đề (hiện tượng bàn luận): Nguyễn Hữu Ân – vì tình thương dành
hết thời gian của mình chăm sóc hai người mẹ bị bệnh hiểm nghèo.
Lê Thị Huyền Trân

-8-


+ Các ý chính:
▪ Nguyễn Hữu Ân đã nêu tấm gương về lòng hiếu thảo, đức hi sinh khi
dành hết thời gian chăm sóc hai người mẹ bị bệnh hiểm nghèo.
▪ Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân.
▪ Hiện vẫn còn có một số bạn trẻ sống ích kỉ, vô tâm đáng phê phán.

- Nêu và phân tích việc làm của Nguyễn Hữu Ân: dành hết thời gian chăm
sóc hai người mẹ bị bệnh hiểm nghèo, từ đó khẳng định Nguyễn Hữu Ân tiêu
biểu cho lòng hiếu thảo, đức hi sinh, là tấm gương về lối sống cao đẹp.
- Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân : một số
thanh niên tình nguyên tham gia các phong trào tiếp sức mùa thi, hiến máu nhân
đạo…
- Hiện vẫn còn có một số bạn trẻ sống ích kỉ, vô tâm đáng phê phán như
những thanh niên lãng phí thời gian vào rượu chè, cờ bạc, game online…
c/ Kết bài: bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết về : tuổi trẻ cần dành thời
gian tu dưỡng, lập nghiệp, sống có ích.
* Dàn ý tham khảo bài tập 2
a/ Mở bài: Giới thiệu luận đề: Nhiều bạn trẻ ngày nay bị nghiện in-tơ-nét.
b/ Thân bài:
- Nêu khái niệm nghiện in-tơ-nét và thực trạng nghiện in-tơ-nét ở lứa tuổi
thanh thiếu niên hiện nay.
- Phân tích tác hại của việc nghiện in-tơ-nét: ảnh hưởng đến sức khỏe (hại
mắt, tổn thương thần kinh…); học tập sa sút; tha hóa đạo đức (thiếu tiền chơi
game dẫn đến hành vi trộm cướp, lừa đảo…); đánh mất tuổi trẻ và tương lai tươi
đẹp..
- Nguyên nhân nghiện in-tơ-nét: ham chơi, thiếu ý thức học tập, bạn bè rủ
rê; thiếu sự quan tâm của gia đình và nhà trường; sự phát triển của công nghệ
thông tin cùng với sự quản lí chưa chặt chẽ những cơ sở kinh doanh in-tơ-net
của nhà nước.
- Giải pháp: tuổi trẻ cần nâng cao ý thức học tập, tự đấu tranh loại bỏ
những tật xấu; gia đình kết hợp với nhà trường và xã hợi quản lí, tuyên truyền,
giáo dục con cái về tác hại của việc nghiện; nhà nước cần có những biện pháp
mạnh trong việc hạn chế thanh thiếu niên nghiện in-tơ-nét và có biện pháp cai
nghiện hiệu quả.

Lê Thị Huyền Trân

liên quan trực tiếp đến thanh niên. Các hiện tượng này thường có nghĩa tích cực
như những tấm gương giàu lòng bác ái, có ý thức trách nhiệm, có ý chí nghị lực.
tuy nhiên, cũng có những hiện tượng mang ý tiêu cực cần phê phán như thói
lười nhác, kém ý chí, nghị lực, những thói xấu..
Lê Thị Huyền Trân

- 11 -


Bài làm thường có yêu cầu về nội dung và hình thức như sau:
- Về nội dung:
Với kiểu bài nghị luận về hiện tượng mang tính tích cực:
+ Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
+ Phân tích, lí giải ý nghĩa tích cực của hiện tượng.
+ Phê phán những biểu hiện tiêu cực đối lập với hiện tượng.
+ Đề xuất bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bản
thân nói riêng.
Với kiểu bài nghị luận về hiện tượng mang tính tích cực:
+ Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
+ Phân tích, lí giải tác hại, nguyên nhân của hiện tượng.
+ Đề xuất biện pháp khắc phục
+ Đề xuất bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bản thân
nói riêng.
- Về hình thức: Diễn đạt chuẩn xác, mạch lạc, lập luận chặt chẽ, sử dụng
ngôn ngữ khoa học, biểu cảm.
Hoạt động 5: Luyện tập củng cố kiến thức
- GV chia HS thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm gồm 4 HS ngồi gần nhau và
yêu cầu nhóm thực hiện bài tập (trong 5 phút) sau đó trình bày trước lớp bài tập
sau:
1. Sắp xếp các đoạn văn dưới đây thành bài văn hoàn chỉnh.


- Hs làm bài và cử đại diện trình bày.
- GV trình bày đáp án sau khi học sinh đã làm bài:
Câu 1: b,d,a,c,e
Câu 2: sai câu 1 và 3 trong đoạn
+ Xác định lỗi: 1) Không phân định rõ thành phần trạng ngữ và chủ ngữ.
3) Viết câu không mạch lạc.
+ Sửa lỗi: 1)Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn đó là do người tham
gia giao thông không có ý thức chấp hành luật giao thông.
3) Một số bạn trẻ đi xe máy khi chưa đủ tuổi được cấp giấy phép
lái xe.
Câu 3: Hãy viết một bài văn nghị luận ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị
về vấn đề tai nạn giao thông hiện nay.
Hoạt động dặn dò: cho bài tập về nhà
Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện bài tập 1, phần luyện tập ở sách giáo
khoa và cho thêm đề bài sau:

Lê Thị Huyền Trân

- 13 -


Hãy viết một bài văn nghò luận, bày tỏ ý kiến của mình về
hiện tượng được nêu trong bản tin của báo Tuổi Trẻ ngày 12/7/2004:
"Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, sau hai đợt thi đã
có 3186 thí sinh bò xử lí kỉ luật do mang và sử dụng tài liệu trong
phòng thi, trong đó có 2637 thí sinh bò đình chỉ thi, chủ yếu do mang và
sử dụng tài liệu trong phòng thi. Hình thức mang tài liệu ngày càng
tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, đế giày".
2.2 Soạn bài 2: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở
Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta
đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những
bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn,
thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên
liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân
buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta
một cách vô cùng tàn nhẫn.
(Hồ Chí Minh)
b) “Có người vẫn nghĩ rằng: trong sáng tác văn nghệ, lí tính không tham dự. Nói
thế không đúng. Lí tính đồng nghĩa với lí trí, là sự nhận thức dựa trên sự suy luận, đối
lập với tình cảm. Đành rằng khởi điểm của sáng tạo nghệ thuật vẫn là một sự xúc động
mạnh mẽ, sâu xa. Nhưng không phải vì thế mà nói rằng tác phẩm nghệ thuật không
cần đến lí tính. Trước hết lí tính của nhà sáng tạo tác động trong khi suy nghĩ về đề tài,
sắp đặt tư tưởng, phân tích tài liệu, nghiên cứu hình thức thích hợp cho một đề tài, vận
dụng kinh nghiệm về bút pháp,… Bấy nhiêu công việc không hoàn toàn phó thác cho
cảm hứng. Lí tính phải luôn luôn tỉnh táo để làm cho hình thức phù hợp với nội dung”.
(Đặng Thai Mai)
c) Khi Văn Cao viết Tiến quân ca, chiến trường vẫn còn ở phía trước đối với các
chàng trai Hà Nội. Với Tây Tiến, Quang Dũng đã và đang đi chiến trận. Vẫn còn
Lê Thị Huyền Trân

GV trình chiếu bài tập 1, yêu cầu HS thực hiện trả lời các câu hỏi đã chuẩn
bị ở nhà. Trong khi HS thực hiện, GV yêu cầu HS chỉ ra những biểu hiện cụ thể
ý giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận trong từng câu
văn có trong đoạn văn và phải giải thích rõ tại sao HS chọn một trong những
thao tác lập luận có trong đoạn làm thao tác chính?
HS thực hiện yêu cầu của GV trên cơ sở bài đã chuẩn bị ở nhà.
Lê Thị Huyền Trân

- 16 -


Nếu HS đầu tiên thực hiện không đúng, không chính xác bài tập thì GV gọi
những HS khác bổ sung đến khi HS làm đúng.
Trong quá trình HS làm, có thể các em không lí giải được thì GV có thể
gợi mở bằng những câu hỏi gợi ý kiểu như: Câu chủ đề trong đoạn văn là câu
nào? Câu đó nêu lên vấn đề gì? Khi mình tiến hành cắt nghĩa từ ngữ thì đó là
thao tác gì? Đưa dẫn chứng cụ thể từ đời sống thực tế vào làm rõ vấn đề thì gọi
là gì? Đề xuất một ý kiến rồi bàn sâu vào vấn đề để thuyết phục người ta đồng
tình với mình là thao tác gì? Có phải căn cứ vào mục đích lập luận thì có thể tìm
ra thao tác lập luận chính phải không? …Trong những câu hỏi gợi mở, GV chú
ý dùng khái niệm của các thao tác lập luận để học sinh dễ dàng nhận diện thao
tác lập luận và ôn lại lí thuyết đã học ở lớp dưới.
GV định hướng giải bài tập:
a) Mục đích: Bác giúp người đọc/nghe thấy rõ việc bọn thực dân Pháp lợi
dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái áp bức đồng bào ta qua các hành động của
Pháp về mặt chính trị và kinh tế.
- Bác đã sử dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích, chứng minh và
bình luận. (Phân tích những hành động của Pháp về kinh tế, chính trị; chứng
minh Pháp cướp nước ta, hành động của Pháp trái với nhân đạo như lập nhiều
nhà tù, thẳng tay chém giết, thi hành chính sách ngu dân, cướp hầm mỏ nguyên

Giải thích

là đi sâu vào tìm hiểu từng yếu tố, từng khía cạnh
của vấn đề, để giúp người đọc/ nghe hiểu một
cách cặn kẽ, thấu đáo vấn đề.
Chứng minh
là dùng lí lẽ và bằng chứng chân thực đã được
thừa nhận để làm cho người nghe/đọc tin tưởng.
Phân tích
là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan
điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác.
So sánh
là dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghóa vấn đề một
cách rõ ràng để người nghe/đọc hiểu tường tận.
Bác bỏ
là đối chiếu các đối tượng nhằm nhận rõ giá trò
của đối tượng đang nghiên cứu trong tương quan với
đối tượng khác.
Bình luận
là đề xuất và thuyết phục người nghe/đọc tán
đồng với những nhận xét, đánh giá, bàn luận
của mình về một vấn đề trong đời sống hoặc văn
học.
GV cho HS ghi chép nội dung bài học:
Ơn tập kiến thức về các thao tác lập luận
Thao tác lập luận

Đặc điểm, mục đích

Giải thích

của mình về một vấn đề trong đời sống hoặc văn
học.

Lưu ý: khi tiến hành lập luận, người viết phải biết vận dụng kết hợp những thao
tác lập luận phù hợp với mục đích nghị luận.
Hoạt động 3: Hướng dẫn luyện tập viết đoạn nghị luận có vận dụng
kết hợp ít nhất 2 thao tác lập luận trở lên (20 phút)
GV cho đề tài: Vai trò của việc tự học (bài tập 2, HS đã chuẩn bị ở nhà),
gọi một học sinh trình bày khái qt dàn ý đã làm ở nhà.
HS trình bày, GV sửa nhanh và gợi ý nội dung:
- Nêu vấn đề nghị luận: vai trò của việc tự học
- Trình bày khái niệm tự học: làm việc với chính mình trước khi nghe
thầy cơ truyền đạt kiến thức, nghiên cứu tài liệu, tìm tòi, sáng tạo…
- Vai trò của tự học giúp phát triển kĩ năng thực hành, năng lực giải quyết
vấn đề, óc sáng sạng, kĩ năng làm việc nhóm, hoạt động độc lập..; tạo hứng thú
trong học tập; thành cơng trong cuộc sống.
- Phê phán lối học thụ động; rèn luyện, phát huy tính tự học.
- Nêu bài học nhận thức cho bản thân: trong học tập cần vận dụng phương
pháp học chủ động tích cực,…
GV chia HS thành nhóm theo bàn học, cứ 2 bàn thành một nhóm, ngồi quay
mặt vào nhau. GV phát cho mỗi nhóm một bảng phụ và u cầu HS viết lên
bảng phụ một đoạn văn nghị luận triển khai một luận điểm đã trình bày ở phần
nội dung gợi ý có sử dụng 2 thao tác lập luận trở lên. GV gợi ý HS dùng thao tác
giải thích để giải thích khái niệm tự học, dùng thao tác phân tích để phân tích
những biểu hiện của việc tự học, dùng dẫn chứng thực tế chứng minh…
HS viết bài trong khoảng thời gian từ 7 đến 10 phút.
Lê Thị Huyền Trân

- 19 -


c) Để phủ nhận nghệ thuật viết tiểu thuyết thời cổ và khẳng đònh
cái hay của nghệ thuật viết tiểu thuyết ngày nay.
d) Tìm hiểu cặn kẽ, thấu đáo các mặt của vấn đề nghệ thuật viết
tiểu thuyết ngày nay lấy cách miêu tả nhân vật từ bên trong là
chính.
e) Thuyết phục người đọc tán đồng với nhận xét, bàn luận của mình
về nghệ thuật viết tiểu thuyết ngày nay lấy cách miêu tả nhân vật
từ bên trong là chính.
f) Nhằm so sánh chỉ ra nét tương đồng và tương phản của nghệ thuật
viết tiểu thuyết ngày nay và ngày xưa.
3. Thao tác lập luận nào đóng vai trò chủ yếu?
a) Bác bỏ
e) Phân tích
Lê Thị Huyền Trân

b) Bình luận
f) So sánh
- 20 -

c) Chứng minh

d) Giải thích


GV giải bài tập trước lớp: Câu 1: c,a,b,f; Câu 2: e; Câu 3: a
2.3 Nhận xét chung
Trong cách giàng dạy này, GV không diễn giảng lí thuyết hoặc từ một bài
tập GV làm mẫu rồi phân tích cho HS thấy cách làm bài mà chủ yếu chuẩn bị
bài tập cho HS tự tìm hiểu nội dung bài học. Bài tập phải mang tính vừa sức và
xoáy vào trọng tâm bài học để từ những bài tập đã làm, HS rút ra được lí thuyết

nhiên các em vẫn tham gia xây dựng bài tốt, có hứng thú trong giờ học và cơ
bản nắm được cách làm bài.
* Bảng kết quả khảo sát
Đồng ý
Các lĩnh vực
Số HS
Học sinh thích giáo viên sử dụng PP
72
dạy học tích cực LHSLTT trong giờ
dạy làm văn.
Sử dụng PP dạy học tích cực
69
LHSLTT là cần thiết trong việc dạy
làm văn.
Việc vận dụng PP dạy học tích cực
82
LHSLTT phát huy được tính thích
cực, chủ động, sáng tạo và tinh thần
tự học của học sinh.
PP day học tích cực LHSLTT giúp
75
phát huy năng lực cộng tác, năng lực
giao tiếp cho học sinh.
PP dạy học tích cực LHSLTT giúp
70
học sinh nhớ kiến thức lâu hơn.

%
87.8



91.4

7

8.5

0

0

85.3

12

14.6

0

0

IV. KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu cách vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học
sinh làm trung tâm vào giờ dạy làm văn, tôi nhận thấy:
Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một phương pháp dạy
học hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực của học sinh, là phương
pháp thích hợp để dạy làm văn. Phương pháp này có thể giúp học sinh tự giác,
hứng thú thực hành làm văn và nắm được các kĩ thuật làm văn.
Khi vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm,
giáo viên cần phải chuẩn bị bài tập định hướng để học sinh tự tìm tòi, nghiên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status