skkn định hướng cho học sinh lớp 10 tiếp nhận một số tác phẩm văn học dân gian theo hướng tiếp cận văn hóa - Pdf 32

ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH LỚP 10 TIẾP NHẬN MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN VĂN HOÁ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn hóa bao gồm nhiều thành tố, trong đó có văn học. Mỗi tác phẩm văn chương
đều chứa đựng trong nó giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại. Từ văn hóa phong tục, văn
hóa tín ngưỡng, đến văn hóa nhận thức vũ trụ và xã hội… văn học đều phản ánh và lưu
giữ. Chính vì thế, văn học là một thành tố quan trọng của văn hóa.
Trong “Nghị quyết của Bộ chính trị về văn học nghệ thuật”, Đại hội lần thứ VI của
Đảng chỉ rõ: “không một hình thái tư tưởng nào có thể thay thế văn học và nghệ thuật trong
việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống
của con người”. Và “văn học là bộ môn trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là
bộ môn đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về Chân-Thiện,Mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân,
xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội”[12, tr. 51-52]. Vì vậy, khi xây dựng chương
trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các cấp học, Bộ giáo dục và đào tạo rất cẩn trọng trong
việc chọn lựa những tác phẩm văn học có giá trị để đưa vào nhà trường.
Theo quan điểm đổi mới dạy học Ngữ văn hiện nay, sách giáo khoa Ngữ văn được
xây dựng như một chương trình “văn hóa mở”. Những vấn đề đang diễn ra trong đời sống
như tìm hiểu về văn hóa truyền thống, bảo vệ và duy trì truyền thống văn hóa dân tộc trong
đời sống hiện đại, vấn đề an toàn giao thông, vấn đề bảo vệ môi trường… cũng cần phải
gắn với chương trình học. Như vậy, trước những yêu cầu mới của xã hội, tác phẩm văn
chương không chỉ đơn thuần là câu chuyện văn chương mà đó còn là câu chuyện tiềm ẩn
nhiều tri thức nhân loại. Có nhiều tri thức được chuyển tải trong một văn bản văn học và có
thể khẳng định tri thức góp phần làm nổi rõ yếu tố thẩm mỹ của văn học hơn cả chính là tri
thức văn hóa. Vậy nên “không có lí do gì, chúng ta lại làm nghèo đi một văn bản văn học,
làm hạn hẹp tầm nhìn của học sinh về xã hội, con người và chính bản thân mình”. Do đó
cần chú ý đến yếu tố văn hóa trong văn học, dạy văn không chỉ chú trọng đến tri thức văn
chương mà cũng cần hướng dẫn cho học sinh quan tâm nhiều đến tri thức văn hóa, tự hào,
yêu quí và có ý thức giữ gìn bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc.
Nhìn vào sách giáo khoa Ngữ văn 10, chương trình học có một số lượng không nhỏ
những tác phẩm đặc sắc thuộc bộ phận văn học dân gian. Và có thể thấy rằng, những tác

các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được như người ta vẫn làm là trực tiếp
gắn nó với các nhân tố xã hội, kinh tế vượt qua đầu văn học. Những nhân tố xã hội, kinh tế
tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung và chỉ thông qua văn hóa mới tác động đến văn
học”. [1. (3), tr. 56-67 & (4), tr. 127-143]
Ở Việt nam, từ những năm 80 trở đi, xu hướng nghiên cứu văn học theo hướng tiếp
cận văn hóa đã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà văn,… Nhiều công trình khai
thác tính văn hóa trong tác phẩm văn chương được công bố góp phần chỉ ra một cách khá
thuyết phục những giá trị mới của tác phẩm văn chương.
2


Giáo sư Lê Trí Viễn, nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả Đỗ Lai Thúy lần lượt cắt nghĩa
thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ khác nhau của văn hóa dân gian: cái “tục” trong thơ, tín
ngưỡng thờ “nõ nường”, hoài niệm phồn thực…
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đi sâu vào nghiên cứu văn học dưới ánh sáng của
Nho giáo, tiêu biểu là tác phẩm “Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại”. Trần Ngọc
Vương đi sâu vào nghiên cứu loại hình nhà Nho tài tử trong văn học. Hai nhà nghiên cứu
cũng đã tích cực góp sức khai phá hướng tiếp cận văn hóa với tác phẩm văn chương.
Năm 2003, Trần Nho Thìn xuất bản tập tiểu luận: “Văn học trung đại Việt nam dưới
góc nhìn văn hóa”. Tác giả cho rằng: “cách tiếp cận loại hình học văn hóa được xem như
sự bổ sung cần thiết cho các phương pháp khác nhau trong nghiên cứu văn học trung đại
nói chung, Truyện Kiều nói riêng”.
Năm 2004, Nguyễn Văn Dân viết bài: “Tiếp nhận văn học bằng văn hóa học”. Ông
đã điểm lại toàn bộ những công trình nghiên cứu văn học từ hướng tiếp cận văn hóa trước
đó để dẫn đến nhận định: “Cách tiếp cận văn học bằng văn hóa đã cung cấp thêm con
đường mới để đến với văn học”.
Năm 2008, Phó giáo sư Lê Nguyên Cẩn viết: “Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn
văn hóa”. Ông xây dựng hệ thống lí luận về “tính văn hóa trong tác phẩm văn chương: Đó
là tính chất đặc thù gắn liền với mỗi tác phẩm văn học, nó cho thấy tác phẩm văn học
không chỉ toát lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng xử và cách tiếp

sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín
ngưỡng,… Văn hóa mang lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một
cách có đạo lí. Con người có thể tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một đề án chưa
hoàn thành để tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những
công trình vượt trội bản thân nhờ văn hóa.
Ở Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Và đây
là khái niệm khá tiêu biểu của tiến sĩ Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Như vậy văn hóa là tổng thể của nhiều hoạt động phong phú nhằm tác động tới con
người, xã hội với mục đích cao nhất là phát triển, hoàn thiện con người, xã hội đó.
Vì vậy văn hóa có những đặc trưng, chức năng vô cùng quan trọng:
- Thứ nhất: Văn hóa có tính nhân sinh
Văn hóa là một hiên tượng xã hội do con người sáng tạo ra. Bởi văn hóa là cái tự
nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên tạo ra văn hóa
như rèn đúc công cụ lao động, đặt tên cho con sông, ngọn núi,… mang ý nghĩa tinh thần.
Tính nhân sinh thể hiện cao độ sự sáng tạo, tài năng và tâm hồn phong phú, đẹp đẽ của con
người. Cho nên đặc trưng này của văn hóa dễ dàng trở thành sợi dây kết nối con người
trong thế giới lại với nhau.
4


- Thứ hai: Văn hóa có tính giá trị
Văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Tính giá trị khi phân
chia theo mục đích: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Phân chia tính giá trị theo ý nghĩa:
giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ. Phân chia theo thời gian: giá trị nhất thời
và giá trị vĩnh cửu. Tính giá trị được phân biệt với tính phi giá trị. Tính phi giá trị không
bao giờ có mặt trong phạm trù văn hóa.
- Thứ ba: Văn hóa có tính lịch sử

nguyên giai đoạn văn hóa trước đó, đồng thời không một giai đoạn văn hóa nào không nằm
trong một cái nôi chung to lớn hơn là nền văn hóa dân tộc, văn hóa khu vực và văn hóa
nhân loại.
1.2.3. Văn hóa - sự phản ánh sức sống và bản sắc dân tộc
Mỗi dân tộc đều có điều kiện địa lí, hoàn cảnh sống riêng, có điều kiện kinh tế
riêng, có thị hiếu thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ riêng,… để từ đó có cách cảm nhận về thế
giới tự nhiên và sáng tạo thế giới tự nhiên cũng không trùng lặp với các dân tộc khác. Mặc
dù văn hóa luôn có sự phát triển và giao lưu nhưng tính tiếp biến trong sự kế thừa từ đời
này qua đời khác của văn hóa đã cấu thành nên cho mỗi dân tộc những bản sắc văn hóa
riêng. Văn hóa bản sắc là sắc diện, là mạch máu thể hiện sức sống của dân tộc. Không có
được văn hóa bản sắc, con người mất đi ý thức về tổ quốc, dân tộc, mất đi một phương
diện tinh thần quí báu, vô giá và ý nghĩa trong cuộc sống nhân sinh.
Bản sắc văn hóa của con người Việt Nam thể hiện qui tụ trong vẻ đẹp ứng xử và lối
sống. Người Việt Nam bao giờ cũng hướng trọng cách ứng xử “hợp tình hợp lí” và lối sống
đề cao nhân nghĩa. Chữ nhân trong văn hóa Việt Nam là biểu hiện sâu sắc, đậm nét nhất
tình thương yêu và trân trọng con người. Chữ nghĩa trong văn hóa Việt Nam là hành động
xả thân quên mình vì người khác, là sự hi sinh. Đó là những thiên tính, ăn sâu vào bản chất
con người. Lối sống của người Việt Nam là lối sống “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, là
lối sống của “Năm mươi con xuống bể, năm mươi con lên non”, lối sống qui tụ được sức
mạnh cao nhất của tình đoàn kết, tương thân tương ái. Do đó, ý thức cộng đồng, ý chí dân
tộc sáng ngời, mạnh mẽ là hệ quả tất yếu của lối sống đề cao nhân nghĩa. Tư tưởng nhân
nghĩa Việt Nam là cốt lõi của văn hóa Việt Nam. Cốt lõi ấy được gìn giữ, được phát huy
truyền thống trong trường kì lịch sử đi lên phát triển của dân tộc, đồng thời là niềm tự hào
của nhân dân Việt Nam.
1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học dân gian.
1.3.1. Văn hóa là cơ sở, nền tảng cho văn học dân gian ra đời và phát triển
Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hoá. Thực tiễn
cuộc sống và nền văn hoá dân tộc là mảnh đất màu mở làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn
học nghệ thuật. Hiện thực đời sống – nơi tiềm tàng những giá trị văn hóa vô cùng phong
phú, luôn tác động tới nhận thức, tư tưởng người sáng tác. Nói cách khác, người sáng tác

Xã hội phong kiến phương Đông theo chế độ quân chủ, làng xóm sống theo
một tổ chức có thứ bậc và quan hệ giữa người và người là quan hệ tình nghĩa “Bán anh em

7


xa mua láng giềng gần”, “Tối lửa tắt đèn có nhau”. Chính điều đó chi phối quan hệ ứng xử
của người nông dân Việt Nam.
1.3.2. Văn học dân gian phản ánh, lưu giữ và sáng tạo văn hóa
Thực tế đã cho thấy: văn học của bất kì dân tộc nào, thời đại nào cũng đều phản ánh
và lưu giữ văn hóa của dân tộc đó, thời đại đó. Văn học Việt Nam trong trường kì phát
triển của ngàn năm lịch sử, luôn thể hiện những đặc trưng đầy đủ của văn hóa con người
Việt Nam. Tục thách cưới có từ thời Hùng Vương trong truyện “Sơn Tinh Thủy Tinh”. Tục
ăn trầu trong “Sự tích trầu cau”, tục ăn bánh chưng, bánh dày vào ngày lễ tết, tục xăm
mình… đều được chuyển tải trong những câu chuyện cảm động của các tác phẩm văn học.
Văn học Việt Nam luôn biểu hiện sâu sắc giá trị nhân văn cao đẹp của văn hóa Việt
Nam: tình yêu đất nước và tình yêu thương trân trọng con người. Đối với người Việt Nam,
yêu nước là yêu thiên nhiên cảnh trí non sông gấm vóc, là lòng tự hào dân tộc, là tinh .thần
đoàn kết chống giặc ngoại xâm, là sẳn sàng xả thân vì quê hương đất nước… Tất cả những
nét đẹp văn hóa ấy in đậm trong văn học dân gian và văn học viết.
Dân tộc Việt Nam sống trong nền văn hóa mang đậm tính nhân văn, do đó tình yêu
thương trân trọng con người dễ dàng trở thành một trong những nội dung chủ đạo của nền
văn học Việt Nam. Những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, dân ca như những dòng
sông chở nặng phù sa của tình yêu thương con người. Cuộc sống của con người càng đau
khổ cay cực bao nhiêu văn học càng thấm sâu nỗi đau, càng đấu tranh cho con người, càng
bảo vệ cho con người bấy nhiêu.
Xuyên suốt chiều dài phát triển của văn học, dấu ấn của nền văn hóa nhân văn luôn
rõ nét trong các tác phẩm. Ngay cả khi văn học mang nội dung yêu nước thì tư tưởng nhân
văn vẫn có vai trò cốt lỏi. Tình yêu quê hương đất nước luôn dựa trên tư tưởng nhân văn.
Đó chính là bản sắc văn hóa Việt Nam mà văn học phản ánh và lưu giữ qua bao thế hệ

Cách tiếp cận văn hóa dựa trên mối quan hệ đặc thù của văn hóa và văn học. Văn
hóa bao trùm lên văn học bởi văn hóa có mặt ở khắp mọi phương diện, mọi lĩnh vực, mọi
khía cạnh trong cuộc sống con người: chính trị, tôn giáo, thiết chế, đạo đức, thương mại,
ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục tập quán… Văn học là bộ phận không tách rời của văn
hóa bởi văn học nhận thức, phản ánh, khám phá muôn mặt của hiện thực đời sống con
người qua văn hóa.
Với hướng tiếp cận văn hóa, sự xác định đối tượng có những phương diện văn hóa
nào là rất quan trọng. Bởi kết quả nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ văn hóa không
phải là một công trình khảo cứu văn hóa mà là sự tìm cho thấy những giá trị văn hóa của
tác phẩm. Sự nghiên cứu và đánh giá phải xuất phát từ chính bản thân tác phẩm văn học để
tránh cái nhìn mang tính áp đặt đồng thời vẫn giữ được và góp phần tôn thêm vẻ đẹp của
thế giới nghệ thuật mà tác giả dân gian đã dày công sáng tạo.
Xác định góc nhìn đồng thời là cũng xác định đối tượng để nhìn là những việc làm
luôn luôn cần thiết trong tiếp cận văn hóa. Bởi lẽ, nếu chúng ta có góc nhìn từ văn hóa

9


nhưng tác phẩm lại không có những phương diện văn hóa thực sự đậm nét và tiêu biểu thì
sự khám phá lí giải từ góc nhìn văn hóa sẽ không hiệu quả.
1.4.3. Bản chất hướng tiếp cận văn hóa tác phẩm văn học dân gian
Văn học là văn học, chúng ta không thể biến tất cả những cái có trong tác phẩm văn
học thành văn hóa và ngược lại. Nội dung văn hóa và giá trị văn hóa chỉ là một mặt bên
cạnh mặt văn học của tác phẩm văn chương. Do đó không thể lấy việc tiếp nhận văn hóa
thay thế cho việc tiếp nhận văn học trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Tiếp
nhận văn hóa đối với tác phẩm văn học dân gian nhằm mục đích kiếm tìm những vẻ đẹp
văn hóa, những giá trị văn hóa của tác phẩm chứ không phải biến những tác phẩm văn học
dân gian thành một công trình khảo cứu văn hóa. Có thể hiểu tiếp cận văn hóa như là
một con đường hiệu lực để khám phá tác phẩm văn chương thêm một phương diện
nữa bên cạnh phương diện văn học – một phương diện mà lâu nay trong dạy học tác

văn bản nghệ thuật trong hệ thống nguyên tắc sáng tác của giai đoạn văn học, hay xem xét
đánh giá nội dung qua các yếu tố hình thức…Tiếp cận lịch sử phát sinh là đặt văn bản
nghệ thuật trong bối cảnh lịch sử mà nó ra đời và xem văn bản nghệ thuật như là một kết
quả tất yếu của bối cảnh xã hội lịch sử đó. Tiếp cận đáp ứng coi văn bản nghệ thuật ứng
với nhu cầu nào đó của người học và khai thác trên phương diện đó. Có thể thấy, tiếp cận
văn hóa là sự bổ sung đắc lực cho tiếp cận thi pháp. Bởi lẽ, những yếu tố hình thức của
tác phẩm nhiều khi lại chịu sự qui định của văn hóa. Tiếp cận văn hóa hỗ trợ tiếp cận
lịch sử phát sinh, làm mở rộng sự tác động của những yếu tố bên ngoài văn bản. Tiếp cận
văn hóa kết hợp với tiếp cận văn bản sẽ hạn chế sự hiểu biết, khám phá tác phẩm văn
học một cách nguyên tắc và cứng nhắc. Tiếp cận văn hóa cũng giúp cho cách tiếp cận
đáp ứng không đi quá sự đòi hỏi mang tính chất cá nhân mà đưa sự đáp ứng vào những
quỹ đạo chung của những giá trị văn hóa dân tộc và thời đại.
Tuy nhiên, dù ảnh hưởng hay chịu tác động của văn hóa thì tác phẩm văn chương
vẫn là tác phẩm văn chương với những đặc thù riêng của loại hình nghệ thuật ngôn từ. Do
đó, khi tổ chức cho học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học dân gian phải đi từ những nét đặc
thù của văn bản để từ đó tìm tới cách tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm
Một vài nét lịch sử vấn đề để thấy được hướng tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa
có tính khả thi và phát triển mạnh mẽ trong những thập kỉ gần đây. Và cùng với những vấn
đề lí luận nêu trên, nó chính là cơ sở vững chắc để chúng tôi thực hiện các giải pháp cho
hướng nghiên cứu của đề tài: “Định hướng cho học sinh lớp 10 tiếp nhận một số tác
phẩm văn học dân gian theo hướng tiếp cận văn hoá”.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Hướng dẫn cho học sinh soạn bài và tự đọc văn bản để phát hiện yếu tố
văn hoá trong tác phẩm văn học dân gian.
* Hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần tiểu dẫn
Với công trình: “Nghĩ từ công việc dạy văn”, nhà giáo Đỗ Kim Hồi cho rằng:
“Trong Sách giáo khoa Văn, các phần tiểu dẫn, chú thích chỉ được in bằng chữ nhỏ. Hẳn
11



được rõ hơn ý nghĩa của những vấn đề đặt ra trong văn bản.
- Đọc vận dụng

12


Đây là kiểu đọc thể hiện năng lực biết vận dụng những điều đã học vào cuộc sống,
biết rút ra cho bản thân những bài học, những kinh nghiệm sống từ việc hiểu tác phẩm văn
chương. Từ việc đọc, học tác phẩm văn học dân gian, học sinh không chỉ biết và khám phá
được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà còn hiểu biết, yêu quí, tự hào về nền
văn hóa của dân tộc, từ đócó ý thức bảo vệ, gìn giữu và phát triển.
Giáo viên đã hướng dẫn học sinh đọc văn bản ở nhà và gạch chân các tri thức
văn hóa trong tác phẩm, đồng thời hướng dẫn học sinh đọc kĩ, đọc sâu để thấy được
tác phẩm văn học dân gian luôn tiềm ẩn những nét đẹp văn hoá của dân tộc như :
phong tục tập quán, nếp sống, cách nghĩ, tâm hồn người Việt,...
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần chú thích
Chú thích là kiến thức rất quan trọng và cần thiết cho quá trình tiếp cận văn bản. Về
phương diện văn hóa, chú thích cung cấp cho học sinh và giáo viên những tri thức về nhiều
lĩnh vực khác nhau liên quan đến tác phẩm văn học mà chúng ta tiếp cận. Đó có thể là
những địa danh lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán, nếp sống, tính cách của con
người ở các vùng miền khác nhau, những hình ảnh về thiên nhiên, những điển tích, điển
cố,… Nắm vững những tri thức phần chú thích sẽ giúp cho việc tiếp cận tác phẩm được dễ
dàng và sâu sắc hơn.
Qua việc hướng dẫn học sinh tự đọc tác phẩm văn học dân gian ở nhà và tìm hiểu
phần Chú thích và giáo viên sẽ giúp học sinh nắm được những kiến thức văn hóa liên quan
đến văn bản, nắm được một cách tổng thể những thông tin về hiện thực và thông tin thẩm
mĩ trong tác phẩm.
* Hướng dẫn học sinh soạn bài
Trong phần Hướng dẫn học bài của mỗi tác phẩm văn học dân gian, các chuyên gia
soạn sách cung cấp một hệ thống câu hỏi đọc – hiểu, phân tích, nhằm định hướng cho giáo

quan.
Trắc nghiệm khách quan là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi
thường gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết
yêu cầu thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu hỏi. Có nhiều dạng câu hỏi trắc
nghiệm khách quan: Trắc nghiệm đúng – sai, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đối
chiếu cặp đôi, trắc nghiệm nhiều lựa chọn.
- Trắc nghiệm đúng – sai: chỉ gồm 2 lựa chọn hoặc đúng hoặc sai. Đề trắc nghiệm
đúng – sai phải đảm bảo: câu trắc nghiệm phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai; Không
dùng câu trắc nghiệm có tính đúng hoặc sai phụ thuộc vào một yếu tố không “ổn định”
hoặc không rõ ràng. Không dùng câu phủ định đặc biệt là phủ định hai lần.
Ví dụ:
Câu 1: Truyện cổ tích trích “Tấm Cám” thuộc loại truyện cổ tích thế sự :
ĐÚNG

SAI

Câu 2: “Cấm đồng ” : Khi lúa lên xanh, người ta cấm trâu bò ra đồng vì sợ chúng ăn
mất lúa. .
14


ĐÚNG

SAI

- Trắc nghiệm điền - khuyết: căn cứ vào dữ liệu, thông tin đã cho hoặc đã biết để
điền vào chỗ trống theo yêu cầu của câu hỏi trắc nghiệm (có thể phần điền khuyết là một
câu trả lời ngắn của một câu hỏi). Đề trắc nghiệm điền khuyết phải đảm bảo: Chỉ nên để
một hoặc hai khoảng trống; phần điền khuyết chỉ nên là một từ hoặc một cụm từ đơn nhất
mang tính đặc trưng (người, vật, địa điểm, thời gian, khái niệm); cung cấp đủ thông tin để


D.

Trầu

để đựng.
têm 4. đi xem hội, dự hội.

cánh phượng

- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: gồm hai phần: phần mở đầu (phần dẫn): nêu vấn đề
và cách thực hiện, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu câu hỏi; phần thông tin: nêu các
câu hỏi trả lời (các phương án) để giải quyết vấn đề, trong các phương án này, học sinh
phải chỉ ra được phương án đúng (Các phương án được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C,
15


D). Đề trắc nghiệm nhiều lựa chọn phải đảm bảo: chỉ nên dùng 4 hoặc 5 phương án chọn,
trong đó chỉ có một phương án đúng; phương án đúng phải được sắp xếp theo thứ tự ngẫu
nhiên, các phương án sai phải hợp lí; câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đều
phải đúng ngữ pháp; tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần; không nên có
phương án “không phương án nào trên đây đúng” hoặc “mọi phương án trên đây đều
đúng”; không tạo phương án đúng khác biệt so với các phương án khác (dài hơn, ngắn hơn
hoặc mô tả tỉ mĩ hơn …); không tạo các phương án nhiễu ở mức độ cao hơn so với phương
án đúng; không đưa quá nhiều thông tin không thích hợp vào trong phần dẫn tạo nên sự
hiểu lệch yêu cầu.
Ví dụ:
Câu 1: Cơm hẩm là :
A. Cơm thiu.


phải sát thực với tác phẩm, phải căn cứ vào nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và kích
thích khả năng tư duy, hứng thú của học sinh. Câu hỏi phải mang tính liên tục, phải định
16


hướng vào mối quan hệ hữu cơ giữa những yếu tố cụ thể với những vấn đề tổng hợp của
bài học. Câu hỏi vừa sức với học sinh, phù hợp với thời lượng của bài học”.
Tiến sĩ Nguyên Viết Chữ cũng chỉ ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng hệ
thống câu hỏi khai thác nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa tác phẩm văn chương là: Câu hỏi
phải đạt được mục đích kích hích sự cảm thụ của người đọc với tác phẩm; Câu hỏi phải xác
định được cảm xúc và rung động thẩm mĩ có tính chất trực giác của người đọc; Việc đưa ra
câu hỏi phải xác định được bức tranh nghệ thuật toàn cảnh có diện và có điểm để giờ dạy
học văn có trọng tâm, những điểm sáng thẩm mĩ phải được khai thác sâu sắc hơn, khắc
phục được giờ văn bàng bạc, nhạt nhẽo; Câu hỏi phải xác định sự hiểu biết của đọc theo
mức độ từ dễ đến khó; Câu hỏi phải giúp cho người đọc phát hiện được hết chi tiết nghệ
thuật có giá trị và toàn bộ cầu trúc tác phẩm; Mã hóa lượng thông tin một cách đơn giản,
phù hợp sát thực với thể loại, nội dung cụ thể và tâm lí lứa tuổi.
Vận dụng những kiến thức lí luận nêu trên, người giáo viên có thể xây dựng một hệ
thống câu hỏi nêu vấn đề nhằm giúp học sinh tìm thấy giá trị văn hóa trong tác phẩm văn
học dân gian.
Ví dụ : Một số câu hỏi cho truyện “Tấm Cám”
Câu hỏi 1: Thể loại Cổ tích thần kì có những đặc điểm gì ? (tiểu loại, đặc trưng, nội
dung)
Câu hỏi 2: Có những dị bản nào khác của truyện cổ tích Tấm Cám ?
Câu hỏi 3: Em hiểu thế nào về khái niệm văn hoá ? Vì sao ngoài nội dung và nghệ
thuật, chúng ta còn cần khai thác yếu tố văn hoá tiềm ẩn trong tác phẩm ?
Câu hỏi 4: Trong Tấm Cám, yếu tố văn hoá gia đình được thể hiện qua văn hoá ứng
xử giữa các nhân vật. Vậy theo em trong tác phẩm xuất hiện mối quan hệ ứng xử giữa các
nhân vật nào
Câu hỏi 5: Những chi tiết nào trong truyện thể hiện rõ nhất quan hệ, văn hoá ứng

được của các thành viên trong nhóm. Giải quyết được những mâu thuẩn đó sẽ tạo điều kiện
để phát triển động cơ học tập như một tiền đề để nâng cao kiến thức, thấu hiểu các khái
niệm và việc lưu giữ các kiến thức sẽ được bền vững hơn. Sự trao đổi giữa các thành viên
trong học tâp hợp tác nhóm sẽ tạo điều kiện cho các thông tin được xuất hiện nhiều lần,
được nói ra, được giải thích, được tích hợp và được cung cấp hợp tác. Những thông tin
được nhắc đi nhắc lại nhiều lần sẽ được lưu giữ lâu trong trí nhớ.
Với những ưu điểm của dạy học theo hình thức hợp tác, thảo luận theo nhóm nêu
trên, giáo viên cần tổ chức học sinh hợp tác, trao đổi, thảo luận nhóm để cắt nghĩa , phân
tích và bình giá những yếu tố văn hóa trong tác phẩm văn học dân gian theo các bước sau:
Bước 1: Thành lập nhóm học tập: số lượng các thành viên, thời gian duy trì, hợp tác
theo nhóm.
- Giáo viên có thể chia lớp ra thành nhiều nhóm nhỏ tùy theo vấn đề cần được thảo
luận. Tùy theo thời lượng của tiết học mà giáo viên có sự phân bổ thời gian cho hợp lí để
mỗi nhóm hoạt động.
18


- Giáo viên có thể chia lớp ra thành 4 nhóm theo tổ hoặc nhiều nhóm theo mỗi bàn
học. Mỗi nhóm cùng đồng thời hoạt động trong thời gian 10 phút.
Bước 2: Phân công nhiệm vụ cho mỗi nhóm: Câu hỏi, vấn đề, tình huống cần hợp
tác thảo luận.
- Nhóm 1(Tổ 1): Thảo luận vấn đề sau:
Câu hỏi 1: Thể loại Cổ tích thần kì có những đặc điểm gì ? (tiểu loại, đặc trưng, nội
dung)
Câu hỏi 2: Có những dị bản nào khác của truyện cổ tích Tấm Cám ?
Câu hỏi 3: Em hiểu thế nào về khái niệm văn hoá ? Vì sao ngoài nội dung và nghệ
thuật, chúng ta còn cần khai thác yếu tố văn hoá tiềm ẩn trong tác phẩm ?
- Nhóm 2 (tổ 2): thảo luận vấn đề sau:
Câu hỏi 4: Trong Tấm Cám, yếu tố văn hoá gia đình được thể hiện qua văn hoá ứng
xử giữa các nhân vật. Vậy theo em trong tác phẩm xuất hiện mối quan hệ ứng xử giữa các

gia, làm mẫu cho học sinh. Với những nội dung học sinh gặp khó khăn, giáo viên cần đưa
ra những gợi ý cần thiết như liên hệ những kiến thức đang trao đổi với những kiến thức học
sinh đã được học, tạo ra mối quan hệ giữa kiến thức mới và những kiến thức cũ.
Bước 4: Nhận xét tương tác nhóm.
Việc nhận xét nhóm sẽ được tiến hành như một nhiệm vụ bắt buộc sau mỗi lần tiến
hành hợp tác nhóm và được coi trọng như đối với việc nắm bắt kiến thức. Trong những
hoạt động hợp tác đầu tiên, giáo viên có thể tiến hành nhận xét nhóm ngay sau khi hoạt
động hợp tác kết thúc, hoặc vào cuối mỗi tiết học. Mục đích của nhận xét nhóm là để học
sinh có ý thức và luôn để ý thực hiện những yêu cầu về kĩ năng hợp tác do giáo viên đưa
ra. Nội dung nhận xét sẽ tập trung vào việc thực hiện những nhiệm vụ như: hợp tác diễn ra
như thế nào, học sinh nào đã thực hiện tốt, nội dung, kiến thức đạt được trong quá trình
hợp tác, những gì cần thay đổi để hoạt động hợp tác lần sau được tốt hơn. Từ đó, giáo viên
hướng dẫn học sinh tự nhận xét về nhóm mình và giáo viên sẽ là người tập hợp, khái quát
lại, bổ sung vào những nhận xét của từng nhóm.
Trong quá trình tổ chức học sinh thực hiện hợp tác, thảo luận theo nhóm nhỏ, giáo
viên cần lưu ý: hướng dẫn học sinh có ý thức chuẩn bị bài tập ở nhà, tích cực tham gia hoạt
động của nhóm, tự tin đưa ra các ý kiến mà mình biết, không gây ồn ào mất trật tự, hiểu
biết về nhiệm vụ được giao,… từ đó học sinh có tinh thần tích cực, trách nhiệm hướng tới
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2.5. Sử dụng phương tiện trực quan để minh họa các yếu tố văn hóa trong đoạn
trích.
Tổ chức cho học sinh tiếp nhận một tác phẩm văn chương không phải là một họa
động đơn lẻ mà là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động, thao tác khác nhau nhằm giúp
học sinh chiếm lĩnh tri thức văn học và phát triển năng lực văn học. Ví dụ như hoạt động
nhập cảm, đọc tác phẩm, hoạt động phân tích, bình giá, hoạt động so sánh, mở rộng, hoạt
động tổng kết củng cố kiến thức,… Trong quá trình dạy học, ở mỗi hoạt động đó, giáo viên
có thể sử dụng nhiều phương pháp, phương tiện khác nhau.
- Bằng phương tiện trực quan, giáo viên tạo ấn tượng, hứng thú cho học sinh về yếu
tố văn hóa trong đoạn trích qua hoạt động nhập cảm, vào bài
20

văn hóa cũng như tri thức văn học đã được tiếp nhận từ đoạn trích
Là công việc cuối cùng của mỗi giờ đọc văn, sau khi giáo viên và học sinh đã khái
quát chủ đề tác phẩm, cảm thụ tổng hợp tác phẩm. Công việc này có ý nghĩa rất quan
trọng, nó không chỉ đem đến thông tin mà là sự kích thích để làm bùng nổ thông tin, xác
định những luận điểm, những kiến thức cơ bản, hệ thống hóa và khắc sâu chúng. Nó phải
tạo dư âm, giúp các em bừng tỉnh, ghi tạc để thanh lọc tâm hồn.

22


Chính vì vậy mà việc kết thúc một giờ đọc văn không thể tiến hành bình thường như
những giờ học khác. Không phải lúc nào giáo viên cũng cứ lặp lại các thao tác củng cố,
dặn dò, nhắc nhở học bài cũ và soạn bài mới, nó không chỉ làm cho học sinh cảm thấy mệt
mỏi nặng nề, nhàm chán mà nhiều khi còn làm trôi hết những điều bổ ích mà các em vừa
tiếp thu được. Bởi vậy phải kết thúc một giờ đọc văn một cách nghệ thuật để không chỉ
khép lại một bài học mà còn mở ra cho các em một chân trời mới, những ý tưởng mới,
những vấn đề mới cần tiếp tục suy nghĩ, khám phá.
Giáo viên có thể sử dụng một số phương tiện trực quan cho hoạt động này như:
+ Dùng sơ đồ để hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức hoặc nội dung chính của bài
học.
+ Phiếu ghi, test trắc nghiệm, làm các bài tập nhanh để củng cố kiến thức.
+ Nghe băng âm thanh hoặc xem một số bài thơ, đoạn phim liên quan đến tác phẩm.
Tóm lại, tùy vào những điều kiện cơ sở vật chất, vào đặc trưng thể loại của bài học,
những phương tiện trực quan có được, giáo viên có cách thức kết thúc bài học khác nhau.
Nhưng điều quan trọng, giáo viên cần có cách kết thúc giờ học thật sinh dộng, hấp dẫn, lôi
cuốn để những kiến thức văn học, văn hóa bổ ích từ tác phẩm văn học dân gian sẽ còn
đọng mãi trong tâm hồn các em.
Giờ đọc văn ở nhà trường bao gồm nhiều công việc, hoạt đông khác nhau theo tiến
trình bài học, theo logic hoạt động nhận thức của học sinh. Mỗi công việc có một nhiệm vụ
và đặc điểm riêng. Vì vậy trong hoạt động dạy học, người giáo viên phải biết cân nhắc, lựa

quá trình tổ chức, định hướng học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học dân gian, sẽ khám phá
được vẻ đẹp đa chiều của tác phẩm, đồng thời cũng tạo được hứng thú trong học tập, niềm
yêu thích môn văn, góp phần thay đổi phần nào thực trạng dạy văn hiện nay.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá hiệu quả đề tài là một trong những nội dung rất quan trọng; Bởi hiệu quả
đó có tác dụng làm sáng tỏ tính đúng đắn, khẳng định tính khả thi của những đề xuất trong
đề tài. Việc đánh giá hiệu quả đề tài được tiến hành bằng cách:
1. Thiết kế giáo án thực nghiệm
1.1. Giáo án 1

TẤM CÁM
(Truyện cổ tích )
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột trong truyện và sự biến hoá của Tấm ;
- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích thần kì qua một truyện cụ thể.
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Những mâu thuẫn, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ quyền thời cổ,
giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và niềm tin của nhân dân.
24


- Những yếu tố văn hoá : văn hoá ứng xử, văn hoá tôn giáo, văn hoá phong tục,..
- Kết cấu của truyện cổ tích : người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng
được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì.
2. Kĩ năng
- Tóm tắt văn bản tự sự.
- Phân tích một truyện cổ tích theo đặc trưng thể loại và hướng tiếp cận văn hoá.
- Tích hợp kĩ năng sống :
+ Tự nhận thức, xác định giá trị của cái tốt, cái thiện và có ý thức đấu tranh bảo vệ cái tốt,


Trích đoạn TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC: 1 Ổn định lớp: nghĩa văn bả n: Sức sống, sự trỗi dậy của con người trước sự vùi dập của cái ác Văn hố Học thuộc Ghi nhớ, các nội dung chính của bài học Trả lời các câu hỏi Luyện tập. XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁPDỤNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status