ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nghiên cứu bộ môn Từ pháp học
Đề tài:
KHẢO SÁT PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI:
TỪ “CÁI” VÀ TỪ “CON”
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
VIỆT NAM
( Ca 2 – sáng thứ 2)
TP Hồ Chí Minh – 4/2016
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nghiên cứu bộ môn Từ pháp học
Đề tài:
KHẢO SÁT PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI:
TỪ “CÁI” VÀ TỪ “CON”
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM
Tác phẩm: Truyện Kiều – Nguyễn Du
Chí Phèo – Nam Cao
Nhóm thực hiện
( Ca 2 – sáng thứ 2)
1. Nguyễn Thanh Kiều
2.2.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du …………..….23
2.2.2 Khảo sát truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao .…...26
3. Nhận xét ………………………………………………….…….34
3.1 Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “cái” ....……………..……....34
3.2 Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “con”………………….….….37
3.3 Kết luận………………………………………………….….....40
4.Tài liệu tham khảo……………………………………………..41
3
1. Đặt vấn đề
1.1 Lí do chọn đề tài
Từ loại là những lớp từ cơ bản của một ngôn ngữ, được phân định dựa vào
những đặc trưng chung về ngữ nghĩa, ngữ pháp. Với lượng từ vựng vô cùng lớn và
vô cùng đa dạng về ngữ nghĩa, ngữ pháp của Tiếng Việt, việc phân định từ loại là
một việc thiết yếu trong quá trình nhận thức các quy tắc, quy luật hoạt động ngữ
pháp của nó, đồng thời tạo tiền đề hỗ trợ việc sáng tác - phân tích các tác phẩm văn
chương cũng như nghệ thuật sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày. Các từ vựng tiếng
Việt đều đã được các nhà Ngữ pháp học phân định từ loại dựa trên các tiêu chí rõ
ràng, tuy nhiên không phải ai khi sử dụng, tiếp xúc với tiếng Việt cũng có thể nhìn
thấy rõ các đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của chúng. Vậy nên việc khảo sát một –
một nhóm từ vựng biểu hiện đặc trưng từ loại của mình như thế nào trong các ngữ
liệu cụ thể là việc vô cùng thiết thực và quan trọng.
Hai từ “cái” và “con” là hai từ vô cùng quen thuộc và được sử dụng phổ biến
trong tiếng Việt ở cả ngôn ngữ viết lẫn ngôn ngữ nói, nhưng không phải ai cũng
nắm rõ đặc điểm từ loại của chúng. Việc làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp và
phân định từ loại hai từ vựng “cái” và “con” sẽ giúp ích cho việc nhận thức, vận
dụng các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt vào cả sáng tác – nghiên cứu văn chương và
sử dụng chính xác, hiệu quả hai từ vựng này trong lời nói. Nhóm lựa chọn khảo sát
đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của hai từ vựng “cái” và “con” trong hai tác phẩm
Từ với bản chất ký hiệu là sự kết hợp giữa hai mặt: cái biểu đạt và cái được
biểu đạt. Để phân định từ loại vốn từ của một ngôn ngữ cần dựa vào sự tổng hợp
của hai mặt này.
Tiêu chí về ngữ nghĩa
Mỗi từ loại biểu thị một ý nghĩa riêng. Đây là ý nghĩa khái quát bao trùm cả
một lớp từ.
a. Đối với những từ có ý nghĩa từ vựng (thực từ), ý nghĩa từ loại là ý nghĩa từ
vựng ngữ pháp, một loại ý nghĩa ngữ pháp được tạo nên từ sự thống nhất các
yếu tố từ vựng.
Ví dụ:
- Bàn, sách, hoa, cây, núi, sông ... : ý nghĩa sự vật (thực thể)
- Ăn, uống, cười, nói, đi, chạy ... : ý nghĩa hoạt động
- Yêu, ghét, giận, lo, sợ ...
: ý nghĩa trạng thái
- Dài, rộng, vuông, tròn, thẳng ... : ý nghĩa tính chất
b. Đối với những từ không có ý nghĩa từ vựng (hư từ), ý nghĩa từ loại là ý nghĩa
thuần túy ngữ pháp (ý nghĩa ngữ pháp khong được tạo ra trực tiếp từ ý nghĩa
từ vựng) hay ý nghĩa quan hệ.
- Loại ý nghĩa quan hệ được tạo nên từ mối quan hệ giữa các đơn vị cấu trúc
cú pháp (ý nghĩa chức năng).
Ví dụ:
(1) Cậu bé ấy thông minh nhưng lười.
(mà)
=> nhưng (mà): biểu thị ý nghĩa quan hệ tương phản giữa hai tính chất
của sự vật.
(2) Đây là sách (của) thư viện.
=> của: biểu thị ý nghĩa quan hệ sở hữu giữa hai thực thể hoặc sự vật.
6
7
Phụ trước
Hai
Ba
Những
Các
Chính
Người
Sinh viên
Tỉnh
Việc
Phụ sau
Này
ấy
đó
đó
b. Chức năng cú pháp trong câu
Mỗi từ thường đảm nhiệm những chức năng cú pháp trong câu, trong đó có
chức năng thường xuyên và phổ biến. Có thể căn cứ vào chức năng cú pháp thường
xuyên của từ để phân định từ loại.
Chẳng hạn như: chức năng cú pháp chủ yếu của danh từ là làm chủ ngữ và
bổ ngữ chỉ đối thể trong câu, chức năng chủ yếu của động từ là trực tiếp làm vị ngữ
trong câu và làm định ngữ trong danh từ (cụm danh từ)
2.2.2 Một số đơn vị kiến thức liên quan
Danh từ
tính chất đã được sự vật hóa, thực thể hóa; nói cách khác là đã được người bản ngữ
nhận thức và phản ánh vào tư duy như những sự vật.
Như vậy, Danh từ là lớp từ biểu thị khái niệm sự vật và cả những cái mà con
người nhận thức và phản ánh vào ngô ngữ như những sự vật.
Đặc điểm ngữ pháp
Danh từ có khả năng đứng ở vị trí trung tâm, kết hợp với các yếu tố phụ để cấu
tạo nên danh ngữ (cụm danh từ). Có thể tóm tắt danh ngữ ở dạng đầy đủ trong sơ
đồ cấu trúc sau đây:
3’
2’
1’
0
D1
Từ chỉ Từ chỉ Từ “cái” Danh từ
tổng thể lượng
chỉ xuất chỉ đơn
vị
Tất cả
Toàn bộ
Tất cả
Tất cả
Những
Hai trăm
Những
Những
Mới xây
Bị mất
cắp
Kỳ lạ
Hẹp hòi
ấy
đó
ấy
này
Sơ đồ trên chủ yếu dựa vào sơ đồ của tác giả Nguyễn Tài Cẩn (Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại - 1975).
9
Nếu chỉ dựa vào các thành tố ngôn liệu (loại trừ thành tố tình thái), có thể có
sơ đồ cấu trúc của danh ngữ như sau:
2’
1’
0
D1
D2
Từ chỉ tổng Từ
chỉ Danh từ chỉ Danh từ chỉ
thể
lượng
đơn vị
đó
ấy
này
Danh từ đơn vị
Về ngữ nghĩa
DT đơn vị là những danh từ chỉ những hình thức tồn tại phân lập của thực thể
dùng để tách các chủng loại sự vật ra thành từng đơn vị (Có thể là đơn vị cá thể
hoặc tập hợp).
Ví dụ:
1. Hai lít nước
ly
chai
thùng
2. Mét vải
Khúc
Cây
3. Tờ báo
Chồng
Kí
4. Con mèo
Chú
Đàn
Bầy
10
Về ngữ pháp.
a. Dễ dàng kết hợp với từ chỉ lượng, nhất là số từ.
Anh
Pháp
Việt
Three books
trois liveres
ba sách (-)
Two cats
deux chats
hai mèo (-)
Người bản ngữ xây dựng hệ thống các đơn vị tự nhiên để cá thể hóa các chủng
loại sự vật chủ yếu dựa vào những đặc đỉêm tự nhiên của sự vật (như đặc đỉêm
chủng loại, đặc đỉêm về hình dạng tự nhiên của sự vật).
Từ "con" thuộc nhóm từ chỉ đơn vị động vật.
Từ “con” dùng để chỉ các đơn vị động vật
con ( - gà, - chó, - heo, -người,…)
Bên cạnh đó từ này có thể dùng chỉ đơn vị các sự vật không phải là động vật
nhưng có đặc đỉêm hoạt động hay có hình thể giống động vật.
Chuyển loại
Chuyển loại là hiện tượng một từ vốn thuộc một từ loại hoặc một tiểu loại trong
một số cấu trúc ngữ pháp nhất định được dùng với đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp
của một từ loại hoặc tiểu loại khác.
Trong tiếng Việt hiện tượng chuyển từ loại khá phong phú và đa dạng: Chuyển
từ thực từ sang hư từ - Chuyển trong nội bộ thực từ - Chuyển tiểu loại
13
2.2 Kết quả khảo sát
2.2.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du
- 5 từ “cái” / 3254 câu thơ (chưa phân loại)
Có thể liệt kê chi tiết như sau:
Câu
1758
2160
3101
3146
3164
Diễn thơ
Con ong, cái kiến kêu gì được oan
Cái thân liệu những từ nhà liệu đi
Còn chi là cái hồng nhan
Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi!
Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi
- 47 từ “con” / 3254 câu thơ (chưa phân loại)
Có thể liệt kê chi tiết như sau:
Làm con trước phải đền ơn sinh thành
Thương lòng con trẻ thơ ngây
Thương tình con trẻ, cha già
Nuôi con những ước về sau
Lời con dặn lại một hai
Trên yên sẵn có con dao
Mập mờ đánh lận con đen
Thân con chẳng kẻo mắc tay bượm già
Ngắm ra cho kỹ như hình con buôn
Thôi con, còn nói chi con
Xót con lòng nặng chề chề
Dạy rằng: Con lạy mẹ đây
Con kia đã bán cho ta
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà
Mụ rằng: Con hãy thong dong
14
1116
1158
1172
1209
1326
1395
1412
1414
1463
1622
1633
1666
Mẹ con trò chuyện lân la
Phận con hầu, giữ con hầu dám sai
Làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi
Con tằm đến thác, cũng còn vương tơ
Thiếp như con én lạc đàn
Khen cho con mắt tinh đời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
Trông trời con nước mênh mông
Mượn con em nó Thuý Vân thay lời
Chàng Kim về đó, con thì ở đâu?
Từ con lưu lạc quê nhà
15
2.2.2 Khảo sát truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao
- Có tổng cộng 114 từ “cái” trên toàn văn bản (chưa phân loại)
Có thể liệt kê cụ thể như sau:
1. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn thấy quá
táo bạo
2. Hắn làm cái ông gì ở làng này?
3. Thử hỏi hắn có mặt trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế?
4. Hắn bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại lừa
hắn và nhà rồi lôi thôi?
5. Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào
cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om
xương, rồi vu cho là ăn cướp thì sao?
6. Cái thằng Bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớp cái nước gì mà phải chịu
lép như trấu thế?
7. Và rồi hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả.
cho những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm
dao đâm người hay đâm mình.
21.Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén kia sợ hãi
bị đè nén suốt đời chỉ vì khi bị đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết
làm gì khác.
22.Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.
23.Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng,
hai mắt gườm gườm trông gướm chết!
24.Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng.
25.Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng
cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế.
26.Rồi say khước, hắn xách một cái vỏ chai đến nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra
mà chửi.
27.Mắc cái phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say, tay nó lại nhăm nhăm cầm
cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả.
28.Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chắc rồi mặc thây cha nó, nó có chửi thì
tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe.
29.Đấy, có tiếng người sang sảng quát: “Mày muốn lôi thôi gì… cái thằng không
cha không mẹ này !
30.Bỗng “choang” một cái, thôi phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng
31.Cụ cất tiếng rất sang sảng hỏi: “Cái gì mà đông thế này?”
32.Nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười
33.Cái anh này nói mới hay!
34.Có cái gì, ta nói chuyện tử tế với nhau.
35.Cụ biết rằng mình đã thắng, đưa nháy mắt con một cái
36.Thế là hắn rút dao diêm đánh cái xoè, châm lên mái lều của mụ.
37.Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon.
38.Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn phải là mặt người: nó
là mặt của một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi
56.Bên kia, có lẽ vì mụ giẫy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây
57.Tất cả những cái ấy phơi ra trăng, rười rượi những trăng làm trắng những cái
đó có lẽ ban ngày không trắng: trăng làm đẹp lên
58.Chí Phèo tự nhiên thấy ứ đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô,
hắn nuốt ừng ực, hắng thấy cái gì rộn rạo ran khắp người
59.Cái mặt của thị thực sự là một sự mỉa mai của hoá công
60.Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành
bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái
mũi: có lẽ vì cố quá nên chúng nứt nở như rạn ra.
18
61.Đã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa
được một vài phần cho sự xấu.
62.Ở cái làng Vũ Đại này người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ
lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất.
63.Hai cô cháu ở trong một cái nhà tre cánh vườn của Chí Phèo bởi một con đê
64.Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo cái ngẩn ngơ của
mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy
65.Thoạt tiên hắn hãy xách cái lọ để xa xa, rồi hắn lẳng lặng ngồi xuống bên
sườn thị...
66.Nhưng cái đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giúi lưng hắn
xuống.
67.Cái óc nặng nề ấy phai lâu mới nhớ ra và lâu mới hiểu.
68.Nhưng cái đầu không động đậy, chỉ có cái mí mắt là nhích thôi.
69.Muỗi nhắc cho thị cái áo quên ngoài vườn.
70.Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn mới chỉ hơi lờ mờ.
71.Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời.
72.Là vì lúc còn đêm, thị trằn trọc một lát, thị bỗng nhiên nghĩ rằng: cái thằng
-Có tổng cộng 50 từ “con” trên toàn văn bản (chưa phân loại)
Liệt kê cụ thể như sau:
1. Bẩm cụ… Con đến cửa nhà cụ để kêu cụ một việc ạ!
2. Bẩm cụ từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế, con
có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá!
3. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù…
4. Con đến xin cụ cho con đi ở tù mà nếu không được thì… thì… thưa cụ…
5. Vâng, bẩm cụ không được thì con phải đâm chết ba thằng, rồi cụ bắt con giải
huyện.
6. Người đàn bà goá mù này bán cho hắn một bác phó cối không con, và khi
bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ.
7. Ông lý đây là ông lí Cường, con giai cụ bá nổi tiếng là hách dịch, coi người
như rơm như rác
8. Cụ bà biết rằng mình đã thắng, đưa nháy mắt con một cái
9. Vợ lão chết đến bảy tám năm nay rồi, con gái lão chữa hoang bỏ lão đi, lão
chỉ có một mình…
10.Ở cái làng Vũ Đại này người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ
lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất.
11.Đội Tảo không cần kín đáo, nói toang toang ngoài chợ trước mặt bao nhiêu
người: “Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi người ta cho ăn bùn.”
12.Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng
đôi má, bỗng nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt
ai mà chịu được?
13.Thế là mấy đồng bạc lương di đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được
mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn.
14.Hắn đến nhưng lại dẫn theo cả vợ và hai con .
15.Và cũng phải tuỳ mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn chính
là những thằng sợ quan và dễ bóp
20
hàng rượu rằng
36.Con trai gì hai mươi tuổi mà đã như ông già.
37.Vả lại bị một con đàn bà gọi đến mà bóp chân!
38.Hắn ra đi với một con dao ở thắt lưng.
39.Hắn móc đủ mọi túi, để tìm một cái gì, hắn giơ ra: đó là một con dao nhỏ,
nhưng rất sắc
40.Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút một con dao trọc tiết lợn ra, nhăm
nhăm cầm ở tay
21
41.Hai cô cháu ở trong một cái nhà tre cách vườn của Chí Phèo bởi một con đê
42.Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn phải là mặt người: nso
là mặt của một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?
43.Hắn nhớ đến “bà ba”, cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt hắn
bóp lên trên, trên nữa
44.Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, để tác
quái cho bao nhiêu dân làng.
45.Người ta tránh thị như tránh con vật rất tởm. Ngoài ba mươi tuổi thị vẫn chưa
có chồng.
22
2.3 Phân loại ngữ liệu
2.3.1 Khảo sát Truyện Kiều – Nguyễn Du
Không có từ “cái” chỉ xuất, chỉ có 5 từ “cái” với tư cách là danh từ chỉ
đơn vị tự nhiên thuộc nhóm chỉ đơn vị tự nhiên.
1. Con ong, cái kiến kêu gì được oan – câu 1758
2. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi – câu 2160
Này con thuộc lấy làm lòng – câu 1209
Rằng: Con biết tội đã nhiều – câu 1395
23
8. Chàng Kim về đó, con thì ở đâu? – câu 2792
9. Từ con lưu lạc quê nhà – câu 3019
B. Danh từ chỉ quan hệ thân tộc
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Một trai con thứ rốt lòng – câu 13
Làm con trước phải đền ơn sinh thành – câu 604
Nuôi con những ước về sau – câu 657
Lời con dặn lại một hai – câu 771
Xót con lòng nặng chề chề - câu 895
Chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay – câu 1622
Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na – câu 1666
Cũng với tư cách là danh từ chỉ quan hệ thân tộc, từ con kết hợp với các danh từ
khác tạo thành danh từ tổng hợp:
1.
2.
3.
4.
18.Nọ nghe mới có con nào ở đây – câu 1172
19.Con này chẳng phải thiện nhân – câu 1729
Chỉ đơn vị các sự vật có đặc điểm hoạt động hoặc hình thể giống động vật
1. Trên yên sẵn có con dao – câu 799
2. Mà xem con tạo xoay vần đến đâu! – câu 1116
3. Khen cho con mắt tinh đời – câu 2201
4. Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm – câu 2248
5. Trông trời con nước mênh mông – câu 2635
D. Tính từ chỉ kích thước của sự vật
1. Sau chân theo một vài thằng con con – câu 138
2. Sắn bìm chút phận con con – câu 1633
25