q
BỘ GIÁO DỤC VÀ TẠO ĐẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
--------
ĐOÀN VĂN ĐẠT
TÝNH LÞCH Sù CñA LêI §Ò NGHÞ Vµ HåI §¸P LêI §Ò NGHÞ
TRONG MéT Sè T¸C PHÈM V¡N HäC VIÖT NAM HIÖN §¹I
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm
2. TS. Vũ Tiến Dũng
SƠN LA - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Đoàn Văn Đạt
vực. Giao tiếp là hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư
tưởng, tình cảm giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội. Hoạt động giao
tiếp có thể tiến hành bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Tuy
nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng giao tiếp bằng ngôn ngữ là cơ bản và
quan trọng nhất. Vai trò quan trọng của chức năng giao tiếp bằng ngôn ngữ
ngày càng được nhận thức đầy đủ trong giới ngôn ngữ học và các giới nghiên
cứu hữu quan. Bên cạnh đó, việc giảng dạy ngôn ngữ theo quan điểm giao
tiếp đang trở thành một đòi hỏi thực tế ngày càng gia tăng. Do đó việc nghiên
cứu lời nói trong giao tiếp trở thành một nhu cầu hết sức quan trọng, đôi khi
có vai trò quyết định trong các hoạt động.
Lịch sự đã có từ rất lâu đời và được biểu hiện trong nhiều ngôn ngữ, ở
nhiều nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, phải đến năm 1870 với các công
trình nghiên cứu của N.Boston và J.C.Lock, thì tính lịch sự (politeness) mới
được xem như là một khái niệm đáng được quan tâm. Từ đó về sau, nó trở
thành đối tượng thu hút sự quan tâm của ngữ dụng học nói riêng và ngôn ngữ
học nói chung.
Lịch sự theo các nhà nghiên cứu phương Tây được hiểu là có tính chiến
lược, tức là trong giao tiếp người ta phải vận dụng đến các chiến lược lịch sự
trong ứng xử ngôn ngữ như tế nhị, khéo léo, tránh xung đột, va chạm hay áp
đặt đối với người đối thoại, đồng thời làm gia tăng sự hài lòng của họ, nhờ đó
mà nâng cao hiệu quả giao tiếp. Lịch sự theo quan niệm của người phương
1
Đông lại được coi như những chuẩn mực xã hội, chịu áp lực mạnh của những
quy tắc trong tương tác, còn được gọi là “lịch sự lễ độ”. Một số nhà nghiên
cứu lại coi lịch sự là sự dung hợp của các chuẩn mực xã hội và những chiến
lược mang tính cá nhân.
Lời đề nghị tồn tại trong các nền văn hóa khác nhau và ở các ngôn ngữ.
giải quyết các nội dung nêu ra trong lời đề nghị. Việc đáp ứng hay không đáp
ứng được yêu cầu của người đề nghị còn lệ thuộc vào điều kiện, khả năng và
thái độ của người tiếp nhận lời đề nghị đó. Cách thức đề nghị và cách thức
tiếp nhận lời đề nghị nhằm làm hài lòng cả người người nói và người nghe
trong mỗi cuộc thoại để cuộc giao tiếp đạt được hiệu quả như mong muốn là
vấn đề đặt ra.
Đây chính là một trong những lí do chính yếu giúp chúng tôi mạnh dạn
lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời
đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại”.
2. Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau, không ai có thể
phủ nhận những mối quan hệ khăng khít không thể tách rời (có thể ví ngôn
ngữ và văn hóa như hai mặt của một tờ giấy, xé mặt này không thể không xé
mặt kia). Mỗi một ngôn ngữ lại mang trong mình những đặc trưng văn hóa
riêng biệt của chính mình và chúng được phản ánh vào ngôn ngữ bằng những
cách khác nhau cả về chất lượng, nội dung và hình thức. Chính vì văn hóa và
ngôn ngữ không thể tách rời nhau mà có thể thấy ngôn ngữ vừa là một bộ
phận cấu thành văn hóa, vừa là phương tiện để thể hiện, lưu trữ, và truyền bá
văn hóa.
Định nghĩa về văn hóa đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Lúc sinh
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn về văn hóa một cách khá rõ ràng và đầy
đủ, và theo Người thì: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
3
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa” [3].
nghiên cứu Âu-Mĩ, tiêu biểu là R.Lakoff, G.N.Leech, Brown và Levinson,
J.Thomas, G.M.Green...
R.Lakoff (1973) cho rằng “Lịch sự là một thiết bị được sử dụng để
giảm bớt trở ngại trong sự tương tác giữa các cá thể” (Dẫn theo [14]).
R.Lakoff đề xuất ba quy tắc lịch sự gắn với từng bối cảnh giao tiếp cụ thể để
người nói có thể lựa chọn và sử dụng sao cho phù hợp. Lakoff đã chỉ ra được
phương thức chung nhất để đạt được tính lịch sự trong giao tiếp. Nhưng
những cách thức chung nhất đó chưa được cụ thể hoá bằng những chiến lược
cụ thể. So với các quy tắc của Lakoff, mô hình lịch sự của Leech chi tiết hơn.
Lí thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm “thiệt” (sost) và “lợi” (benefit)
giữa người nói và người nghe do ngôn từ gây nên. Leech cho rằng lịch sự là
sự bù đắp cho những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói
gây ra cho người đối thoại. Để có một phát ngôn lịch sự, cần phải điều chỉnh
mức lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong tương tác liên nhân. Nói cách
khác, lịch sự là sự bảo toàn sự cân bằng xã hội và tình thân giữa người nói và
người nghe. Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc lịch sự của mình trong sáu
phương châm. Leech khẳng định rằng, trong hoạt động giao tiếp, một hành
động được coi là lịch sự hay không lịch sự là tùy thuộc vào phát ngôn cụ thể
gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể nào đó. Mặt khác, cũng theo Leech,
có những hành động ngôn ngữ có bản chất không lịch sự như hành động sai
bảo, ra lệnh và đồng thời có những hành động có bản chất lịch sự như khen
tặng. Mô hình của Leech đã được đề xuất được đo mức lợi - thiệt, đo mức
gián tiếp và đo khoảng cách xã hội cho phương châm khéo léo nhưng lại chưa
có thang độ xác định cho các phương châm còn lại, đây là một khoảng trống
cần được tiếp tục nghiên cứu.
5
Brown và Levinson (1978/1987) lại lấy điểm tựa là khái niệm “thể
tiêu chuẩn này được gọi là lịch sự chuẩn mực, tức là những quy tắc ứng xử
ngôn ngữ phù hợp với chuẩn mực xã hội của các cá nhân trong giao tiếp.
Khuynh hướng thứ ba quan niệm lịch sự là sự kết hợp hài hòa của cả
hai khuynh hướng trên, tức là coi lịch sự vừa mang tính chiến lược, lại vừa
chịu áp lực của chuẩn mực xã hội. Đại diện cho khuynh hướng này là hai tác
giả lớn Hill và Kasper.
Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Văn Khang (1966), Bùi Minh Yến
(1966), Vũ Thị Thanh Hương (1999), Nguyễn Thị Thanh Bình (2000), Vũ
Tiến Dũng (2003)... cũng đều cho rằng có sự khác biệt nhất định trong việc
ứng xử lịch sự. Những khác biệt này được làm rõ thông qua các hành động
giao tiếp cụ thể. Bên cạnh đó, hai tác giả Vũ Thị Thanh Hương và Vũ Tiến
Dũng còn đưa ra được những kết luận về nội dung của lịch sự theo quan niệm
của người Việt, đó là quan niệm coi lịch sự vừa là chiến lược của cá nhân,
vừa là chuẩn mực xã hội trong tương tác.
Văn học chính là bức tranh phản ánh hiện thực, hiện thực cuộc sống
luôn đặt con người vào mối quan hệ qua lại với nhau. Trong mối quan hệ đó,
lời đề nghị luôn là một phần trong hoạt động giao tiếp, và lời đề nghị cũng
xuất hiện khá thường xuyên trong các lời đối thoại của các nhân vật trong các
tác phẩm văn chương. Lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong giao tiếp nói
chung và trong các tác phẩm văn học nói riêng mới được một số tác giả đề
cập đến. Đặc biệt, hành động đề nghị và cách thức tiếp nhận lời đề nghị trong
một số tác phẩm văn học thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập. Đây chính là
một "khoảng trống" trong khoa học để giúp chúng tôi có thể tiến hành nghiên
cứu đề tài này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là tính lịch sự của lời đề nghị
và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại.
7
8
4.3. Ý nghĩa luận văn
4.3.1. Ý nghĩa lí luận
Luận văn sơ bộ tổng kết một cách có hệ thống những thành tựu đã đạt
được trong nghiên cứu về tính lịch sự của một số hành động ngôn ngữ và lịch
sự trong giao tiếp tiếng Việt.
Xác định mối quan hệ giữa tính lịch sự của lời đề nghị và cách thức hồi
đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại.
4.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn, nếu có tính khả chấp sẽ góp
một phần giúp cho những người dạy và học tiếng Việt có thêm những tư liệu
về phân tích lời đề nghị trong một số tác phẩm văn chương, thấy được các sắc
thái biểu cảm qua ngôn từ của những lời đề nghị đó. Bên cạnh đó, luận văn
còn góp phần bổ sung thêm một số cách thức tiếp nhận lời đề nghị trong một
số tác phẩm văn học, để từ đó khai thác có hiệu quả các yếu tố ngôn ngữ diễn
đạt tính lịch sự về hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn chương và
trong giao tiếp tiếng Việt. Luận văn còn góp phần tạo dựng mối quan tâm
chung trong nghiên cứu giao tiếp lời nói tiếng Việt.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp như: phương
pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu... các nhận định, đánh giá
được rút ra trong luận văn chủ yếu là từ việc phân tích số liệu thống kê (qua
câu hỏi khảo sát) và nguồn tư liệu bản thân người viết thu
thập được trong thực tế giao tiếp và văn học.
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận văn là phương pháp mô
tả, phân tích. Đây là phương pháp được thực hiện trong sự mô tả, phân tích lí
10
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Trong xã hội ngày nay, lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn và
thường xuyên của ngữ dụng học. Nhiều nhà nghiên cứu Âu - Mĩ đã xây dựng
một số quan điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự, nâng những vấn đề thực
tiễn trong giao tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness)
theo đúng nghĩa của tên gọi này.
Nói năng là một dạng hoạt động mà phương tiện là ngôn ngữ. Do đó nó
cũng chịu sự chi phối của những quy tắc chung trong hoạt động. Có hai kiểu
hoạt động bằng phương tiện ngôn ngữ:
- Hoạt động đơn phương là hoạt động một mình, cá thể. Nói một mình
là hoạt động đơn phương (độc thoại);
- Hoạt động xã hội là hoạt động đòi hỏi có sự cộng tác của người khác.
Nói năng với người khác, đó là hội thoại.
J. L Austin – một nhà triết học người Anh là một trong những người
khởi xướng quan điểm về hành động ngôn ngữ (speech act). Khi nói năng,
con người thực hiện hành động bằng phương tiện ngôn ngữ. Nói một mình
như tự than thở là hành động đơn phương, còn nói với người khác trong cuộc
hội thoại là hành động xã hội.
1.1. Lí thuyết hành động ngôn ngữ
Hành động (hay còn gọi là hành vi) là toàn bộ nói chung các phản ứng,
cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, xác
định [26].
Trong cuộc sống hàng ngày, dưới sự điều khiển của tư duy, con người
có hai loại hành động dễ thấy là nói (Speak) và làm (Do). Thông thường,
người ta hay đối lập giữa nói và làm, thậm chí người Việt chúng ta còn quan
Như chúng ta đã biết nói năng là hành động. Hành động nói là hành
12
động được thực hiện bằng lời nói khi nói. Khi gặp một người quen, ta nói:
chào anh, chào chị, tức là chúng ta thực hiện hành động chào. Khi ta cảm ơn,
xin lỗi, sai khiến là chúng thực hiện hành động cảm ơn, xin lỗi, sai khiến...
Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có thể nói (hoặc viết) nhằm những đích
nhất định: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin, hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm
ơn, giải thích, phàn nàn...
1.1.1. Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo
lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động
mượn lời (Perlocutionary act).
Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy có một số cách dịch khác nhau.
Đáng chú ý là các cách dịch cụm từ: Locutinonary act (hành động tạo lời,
hành động tại lời, hành động tạo ngôn); Illocutionary act (hành động ngoài
lời, hành động ở lời, hành động trong lời, hành động tại lời, hành động ngôn
trung); Perlocutionary act (hành động mượn lời, hành động sau lời, hành động
xuyên ngôn).
1.1.1.1. Hành động tại lời
Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó
nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói (viết) ra. Chính cái đích này
phân biệt các hành động tại lời với nhau. Đó là những hành động người nói
thực hiện ngay khi nói năng. Hành động tại lời được thực hiện nhờ hiệu lực
giao tiếp của phát ngôn. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn
ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở
người nhận. Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp
điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người nghe trả lời; khi
người bạn quen nào đó và gia đình họ đang ăn cơm, chủ nhà mời khách:
(3) Mời bác ăn cơm với gia đình.
thì đây chính là lời chào của chủ nhà khi có khách tới chơi. Việc nhận ra ý
định của người nói phụ thuộc vào từng tình huống giao tiếp, và có những tình
huống giao tiếp "độc nhất vô nhị" thì còn phụ thuộc vào sự trải nghiệm sống,
sự nhạy cảm của những người tham gia giao tiếp nữa. Có thể minh chứng
thêm qua ví dụ sau:
14
Khi chúng ta nghe câu nói:
(4) Tôi vừa mới pha một ấm trà ngon.
là để tạo ra một phán đoán hoặc là để mời chào hoặc là để giải thích hay vì
một mục đích giao tiếp nào đó. Những ý định như vậy chỉ có những người
tham gia trực tiếp vào cuộc giao tiếp đó mới xác định được một cách chính
xác mà thôi.
Giả sử một người nói:
(5) Ở đây nóng quá.
Đây là một hành động xác tín (miêu tả) nhưng ý định của người nói có
thể là một hành động đề nghị như hãy bật quạt, bật điều hoà lên hoặc mở cửa
ra cho mát. Người nghe phát ngôn này có thể đứng dậy bật quạt, bật điều hoà
hoặc mở cửa sổ. Hiệu quả này thuộc về hành động mượn lời và là đích tại lời
của ví dụ (5).
Trong giao tiếp tiếng Anh, lời thỉnh cầu lịch sự (polite request) thường
được diễn đạt dưới dạng câu hỏi. Đó là quy ước về phép lịch sự của người
Anh - hành động ngôn ngữ gián tiếp đồng biến với lịch sự. Tiếng Việt và một
số ngôn ngữ khác không hoàn toàn như vậy. Có thể nhận thấy điều này qua
các dẫn dụ sau:
(6) Would you mind closing the door? (Phiền anh đóng hộ cái cửa lại ạ.)
(9) Xin chào các bạn.!
Giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Pháp:
(10) Je être étudiant. (Tôi là sinh viên - nam sinh viên)
thì anh ta chưa hoàn thành hành động tạo lời. Hành động tạo lời phải là:
(11) Je suis étudiant.
hoặc giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Anh
(12) I be a student.
thì anh ta cũng chưa hoàn thành hành động tạo lời. Hành động tạo lời phải là:
(13) I am a student.
Sản phẩm của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu của cú pháp
tiền dụng học.
1.1.1.3. Hành động mượn lời
Khi nói về nội dung của diễn ngôn, chúng ta đã nói đến đích tác động
của hoạt động giao tiếp. Hành động ngôn ngữ liên quan tới đích tác động của
diễn ngôn là hành động mượn lời (hành động xuyên ngôn). Hành động mượn
lời là những hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn
các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó như biến đổi
16
trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được ở
người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Ví dụ:
(14) Sp1: Đóng cửa lại!
Sp2: Đứng dậy đóng cửa, khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng.
Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả
mượn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành
động tại lời. Hành động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động
tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích
phạm pháp luật sẽ rất lo lắng khi những việc làm sai trái của họ sẽ bị đưa ra
ánh sáng và pháp luật sẽ không dung thứ cho họ. Chúng ta đang bàn ở đây là
hình ảnh vị quan chức X là công bộc của dân. Còn nếu hình ảnh vị quan chức
ấy là vị "quan tham", cùng phe cánh với những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y
thì tâm trạng của những kẻ tiêu cực sẽ rất phấn khởi vì đã có "ô che". Những
người đấu tranh chống tiêu cực sẽ rất thất vọng vì họ mất niềm tin về sự tranh
đấu đúng đắn của họ.
Cũng có trường hợp và chắc không phải là ngoại lệ, khi vị quan chức X
nói như vậy thì những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y sẽ nảy sinh suy nghĩ: Hay
là vị quan chức này "bật đèn xanh" để cho họ lo lót chạy tội?...
Như vậy, hiệu quả mượn lời của phát ngôn là những hiệu quả ngoài
ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn), rất phân tán, không có tính quy
ước và khó tìm ra cơ chế chung nên người nói không thể tính toán, kiểm soát
hết được.
1.1.1.4. Phát ngôn ngôn hành và biểu thức ngôn hành
Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn - sản phẩm của một hành động tại lời
nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp chân thực. Nói
một cách ngắn gọn nói là hành động bằng lời. Để làm rõ cho cách hiểu này,
người ta thường xuất phát từ những phát ngôn tiêu biểu, đại thể như:
(16) Tôi đánh cuộc với anh là đội Man đỏ sẽ thắng Man xanh trong
trận này.
(17) Em cảm ơn thầy ạ.
(18) Anh khuyên em nên bỏ hút thuốc đi để đỡ hại cho sức khoẻ.
Trong những ví dụ trên, hành động tại lời ví dụ (16) là hành động đánh
cuộc, ví dụ (17) là cảm ơn, ví dụ (18) là khuyên. Những phát ngôn như thế
18
được gọi là những phát ngôn ngôn hành. Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn sản phẩm của một hành động tại lời nào đó khi hành động này được thực hiện
là biểu thức ngôn hành tường minh khuyên vì trong bốn biểu thức đó có động
từ ngôn hành: mời, hứa, hỏi, khuyên.
Các biểu thức sau đây tuy vẫn có hiệu lực tại lời: mời, hứa, hỏi, khuyên
nhưng không phải là biểu thức ngôn hành tường minh:
(24) Mời anh uống nước ạ.
(25) Ngày mai anh không hút thuốc lá nữa.
(26) Anh ơi, chú Hải có nhà không ạ?
(27) Anh đừng nên mất thời gian vào những trò vô bổ này nữa.
Theo J.L.Austin, đây là các biểu thức ngôn hành nguyên cấp (primary)
hay biểu thức ngôn hành hàm ẩn (implicit). Như vậy, biểu thức ngôn hành
không có động từ ngôn hành được gọi là biểu thức ngôn hành nguyên cấp.
Chúng ta cần chú ý rằng cũng như các động từ được dùng trong chức
năng ngôn hành, các biểu thức ngôn hành nguyên cấp cũng phải được thực
hiện ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại và không có các yếu tố tình thái và người
nhận cũng phải là ngôi thứ hai.
Ví dụ:
(28) Bác sang dùng cơm với các cháu.
(29) Cuộc hội thảo bắt đầu.
(30) Bác đã sang dùng cơm với các cháu.
(31) Cuộc hội thảo đã bắt đầu rồi.
Ví dụ (28) là biểu thức ngôn hành nguyên cấp mời, ví dụ (29) là biểu
thức ngôn hành nguyên cấp tuyên bố. Còn ví dụ (30) không phải là biểu thức
ngôn hành nguyên cấp mời vì không có hiệu lực tại lời mời nữa mà có thể
hiệu lực tại lời trần thuật. Tương tự, ví dụ (29) là biểu thức ngôn hành nguyên
cấp tuyên bố nhưng ví dụ (31) lại có hiệu lực tại lời tuyên bố mà có hiệu lực
tại lời nhắc nhở.
1.1.1.5. Động từ ngôn hành
Động từ ngôn hành là động từ mà khi phát âm ra cùng với biểu thức