Tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học việt nam hiện đại - Pdf 40

q

BỘ GIÁO DỤC VÀ TẠO ĐẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
--------

ĐOÀN VĂN ĐẠT

TÝNH LÞCH Sù CñA LêI §Ò NGHÞ Vµ HåI §¸P LêI §Ò NGHÞ
TRONG MéT Sè T¸C PHÈM V¡N HäC VIÖT NAM HIÖN §¹I
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm
2. TS. Vũ Tiến Dũng

SƠN LA - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Đoàn Văn Đạt

1.2.1. Khái niệm cuộc thoại ........................................................................ 28
1.2.2. Những đặc điểm khái quát về cuộc hội thoại.................................... 28
1.3. Lí thuyết lịch sự ...................................................................................... 33
1.3.1. Quan điểm lịch sự của R.Lakoff ....................................................... 34
1.3.2. Quan điểm lịch sự của Leech ............................................................ 37
1.3.3. Quan điểm của Brown và Levinson về lịch sự ................................. 39
1.3.4. Quan điểm về lịch sự của các nhà nghiên cứu phương Đông........... 40
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 43
Chƣơng 2: HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ VÀ LỊCH SỰ CỦA HÀNH
ĐỘNG ĐỀ NGHỊ........................................................................................... 45
2.1. Hành động đề nghị ................................................................................. 45
2.1.1. Hành động cầu khiến......................................................................... 45
2.1.2. Hành động đề nghị ............................................................................ 46
2.1.3. Nhận diện lời đề nghị ........................................................................ 49
2.1.4. Các kiểu hành động đề nghị .............................................................. 51


2.2. Lịch sự của một số hành động đề nghị trong giao tiếp tiếng Việt . 55
2.2.1. Văn hóa giao tiếp và lịch sự trong văn hóa giao tiếp ........................ 55
2.2.2. Các cách diễn đạt tình thái cơ bản trong lời đề nghị của tiếng Việt . 57
2.2.3. Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt tính lịch sự của lời đề nghị trong
giao tiếp tiếng Việt ...................................................................................... 58
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 72
Chƣơng 3: HỒI ĐÁP LỜI ĐỀ NGHỊ VỚI TÍNH LỊCH SỰ TRONG
GIAO TIẾP .................................................................................................... 73
3.1. Chấp thuận lời đề nghị .......................................................................... 73
3.1.1. Chấp thuận lời đề nghị bằng cách nói giảm ...................................... 76
3.1.2. Chấp thuận lời đề nghị bằng ngôn ngữ trực tiếp............................... 77
3.2. Từ chối lời đề nghị.................................................................................. 78
3.2.1. Từ chối bằng lời ................................................................................ 81

tiếp đang trở thành một đòi hỏi thực tế ngày càng gia tăng. Do đó việc nghiên
cứu lời nói trong giao tiếp trở thành một nhu cầu hết sức quan trọng, đôi khi
có vai trò quyết định trong các hoạt động.
Lịch sự đã có từ rất lâu đời và được biểu hiện trong nhiều ngôn ngữ, ở
nhiều nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, phải đến năm 1870 với các công
trình nghiên cứu của N.Boston và J.C.Lock, thì tính lịch sự (politeness) mới
được xem như là một khái niệm đáng được quan tâm. Từ đó về sau, nó trở
thành đối tượng thu hút sự quan tâm của ngữ dụng học nói riêng và ngôn ngữ
học nói chung.
Lịch sự theo các nhà nghiên cứu phương Tây được hiểu là có tính chiến
lược, tức là trong giao tiếp người ta phải vận dụng đến các chiến lược lịch sự
trong ứng xử ngôn ngữ như tế nhị, khéo léo, tránh xung đột, va chạm hay áp
đặt đối với người đối thoại, đồng thời làm gia tăng sự hài lòng của họ, nhờ đó
mà nâng cao hiệu quả giao tiếp. Lịch sự theo quan niệm của người phương

1


Đông lại được coi như những chuẩn mực xã hội, chịu áp lực mạnh của những
quy tắc trong tương tác, còn được gọi là “lịch sự lễ độ”. Một số nhà nghiên
cứu lại coi lịch sự là sự dung hợp của các chuẩn mực xã hội và những chiến
lược mang tính cá nhân.
Lời đề nghị tồn tại trong các nền văn hóa khác nhau và ở các ngôn ngữ.
Nó được thực hiện với nhiều mục đích khác nhau như: yêu cầu, nhờ, ra lệnh...
nhưng vấn đề là đề nghị như thế nào, đề nghị ra sao để cho người tiếp nhận
lời đề nghị cảm thấy vui vẻ và nếu người tiếp nhận từ chối thì từ chối như thế
nào cho hợp lí, không mất lòng người khác cũng là vấn đề đặt ra. Cách thức
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đối với mỗi cộng đồng dân tộc luôn có sự
khác nhau, và ngay cả mỗi dân tộc thì từng cá nhân trong giao tiếp cũng có sự
khác nhau do mối quan hệ về lứa tuổi, họ hàng, vị trí xã hội quy định... Điều

lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời
đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại”.
2. Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau, không ai có thể
phủ nhận những mối quan hệ khăng khít không thể tách rời (có thể ví ngôn
ngữ và văn hóa như hai mặt của một tờ giấy, xé mặt này không thể không xé
mặt kia). Mỗi một ngôn ngữ lại mang trong mình những đặc trưng văn hóa
riêng biệt của chính mình và chúng được phản ánh vào ngôn ngữ bằng những
cách khác nhau cả về chất lượng, nội dung và hình thức. Chính vì văn hóa và
ngôn ngữ không thể tách rời nhau mà có thể thấy ngôn ngữ vừa là một bộ
phận cấu thành văn hóa, vừa là phương tiện để thể hiện, lưu trữ, và truyền bá
văn hóa.
Định nghĩa về văn hóa đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Lúc sinh
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn về văn hóa một cách khá rõ ràng và đầy đủ,
và theo Người thì: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,

3


khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa” [3].
Có thể thấy ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa và đồng thời cũng
phản ánh văn hóa sâu sắc nhất. Clyne (1994) nhận xét: “Ngôn ngữ là sự thể
hiện sâu sắc nhất một nền văn hóa, hệ thống giá trị bao gồm cả những giá trị
thừa hưởng từ cộng đồng và có một vai trò lớn tác động đến cách thức sử
dụng không chỉ ngôn ngữ thứ nhất mà cả ngôn ngữ được tiếp thụ sau đó”.
Hay nói một cách nôm na thì “Văn hóa qui định cái chúng ta nói, nói với ai
và nói như thế nào…” (Dẫn theo [19]).

những cách thức chung nhất đó chưa được cụ thể hoá bằng những chiến lược
cụ thể. So với các quy tắc của Lakoff, mô hình lịch sự của Leech chi tiết hơn.
Lí thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm “thiệt” (sost) và “lợi” (benefit)
giữa người nói và người nghe do ngôn từ gây nên. Leech cho rằng lịch sự là
sự bù đắp cho những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói
gây ra cho người đối thoại. Để có một phát ngôn lịch sự, cần phải điều chỉnh
mức lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong tương tác liên nhân. Nói cách
khác, lịch sự là sự bảo toàn sự cân bằng xã hội và tình thân giữa người nói và
người nghe. Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc lịch sự của mình trong sáu
phương châm. Leech khẳng định rằng, trong hoạt động giao tiếp, một hành
động được coi là lịch sự hay không lịch sự là tùy thuộc vào phát ngôn cụ thể
gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể nào đó. Mặt khác, cũng theo Leech,
có những hành động ngôn ngữ có bản chất không lịch sự như hành động sai
bảo, ra lệnh và đồng thời có những hành động có bản chất lịch sự như khen
tặng. Mô hình của Leech đã được đề xuất được đo mức lợi - thiệt, đo mức
gián tiếp và đo khoảng cách xã hội cho phương châm khéo léo nhưng lại chưa
có thang độ xác định cho các phương châm còn lại, đây là một khoảng trống
cần được tiếp tục nghiên cứu.

5


Brown và Levinson (1978/1987) lại lấy điểm tựa là khái niệm “thể
diện” (face) làm cơ sở để xây dựng lí thuyết về lịch sự với cách hiểu “thể diện
là hình ảnh của bản thân trước công chúng” (pubic self image). Trong nghiên
cứu về lịch sự với điểm tựa là khái niệm “thể diện”, Brown và Levinson đã
đưa ra một cặp lưỡng phân quan trọng, xuyên suốt toàn bộ các kết quả nghiên
cứu. Đó là sự đối lập và thống nhất giữa thể diện dương tính (positive face) và
thể diện âm tính (negative face). Trong tương tác bằng ngôn ngữ, hầu hết các
hành động ngôn ngữ đều tiềm tàng khả năng gây tổn hại đến thể diện của

(1966), Vũ Thị Thanh Hương (1999), Nguyễn Thị Thanh Bình (2000), Vũ
Tiến Dũng (2003)... cũng đều cho rằng có sự khác biệt nhất định trong việc
ứng xử lịch sự. Những khác biệt này được làm rõ thông qua các hành động
giao tiếp cụ thể. Bên cạnh đó, hai tác giả Vũ Thị Thanh Hương và Vũ Tiến
Dũng còn đưa ra được những kết luận về nội dung của lịch sự theo quan niệm
của người Việt, đó là quan niệm coi lịch sự vừa là chiến lược của cá nhân,
vừa là chuẩn mực xã hội trong tương tác.
Văn học chính là bức tranh phản ánh hiện thực, hiện thực cuộc sống
luôn đặt con người vào mối quan hệ qua lại với nhau. Trong mối quan hệ đó,
lời đề nghị luôn là một phần trong hoạt động giao tiếp, và lời đề nghị cũng
xuất hiện khá thường xuyên trong các lời đối thoại của các nhân vật trong các
tác phẩm văn chương. Lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong giao tiếp nói
chung và trong các tác phẩm văn học nói riêng mới được một số tác giả đề
cập đến. Đặc biệt, hành động đề nghị và cách thức tiếp nhận lời đề nghị trong
một số tác phẩm văn học thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập. Đây chính là
một "khoảng trống" trong khoa học để giúp chúng tôi có thể tiến hành nghiên
cứu đề tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là tính lịch sự của lời đề nghị
và hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại.

7


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu chỉ hạn chế trong các số liệu
thống kê về tính lịch sự của lời đề nghị và hồi đáp lời đề nghị trong lời thoại
của các nhân vật trong một số tác phẩm văn chương. Bên cạnh đó, luận văn
cũng tập trung phân biệt các hành động ngôn ngữ có nội dung ý nghĩa gần gũi

sự trong giao tiếp tiếng Việt.
Xác định mối quan hệ giữa tính lịch sự của lời đề nghị và cách thức hồi
đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại.
4.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn, nếu có tính khả chấp sẽ góp
một phần giúp cho những người dạy và học tiếng Việt có thêm những tư liệu
về phân tích lời đề nghị trong một số tác phẩm văn chương, thấy được các sắc
thái biểu cảm qua ngôn từ của những lời đề nghị đó. Bên cạnh đó, luận văn
còn góp phần bổ sung thêm một số cách thức tiếp nhận lời đề nghị trong một
số tác phẩm văn học, để từ đó khai thác có hiệu quả các yếu tố ngôn ngữ diễn
đạt tính lịch sự về hồi đáp lời đề nghị trong một số tác phẩm văn chương và
trong giao tiếp tiếng Việt. Luận văn còn góp phần tạo dựng mối quan tâm
chung trong nghiên cứu giao tiếp lời nói tiếng Việt.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp như: phương
pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu... các nhận định, đánh giá
được rút ra trong luận văn chủ yếu là từ việc phân tích số liệu thống kê (qua
câu hỏi khảo sát) và nguồn tư liệu bản thân người viết thu
thập được trong thực tế giao tiếp và văn học.
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận văn là phương pháp mô
tả, phân tích. Đây là phương pháp được thực hiện trong sự mô tả, phân tích lí

9


thuyết đã có, đặc biệt quan trọng là phân tích nguồn ngữ liệu thu thập được và
từ đó đưa ra các đánh giá, kết luận.
Ngoài phương pháp chủ đạo là phương pháp mô tả, phân tích, tác giả
luận văn còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận khác là: phương pháp

thường xuyên của ngữ dụng học. Nhiều nhà nghiên cứu Âu - Mĩ đã xây dựng
một số quan điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự, nâng những vấn đề thực
tiễn trong giao tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness)
theo đúng nghĩa của tên gọi này.
Nói năng là một dạng hoạt động mà phương tiện là ngôn ngữ. Do đó nó
cũng chịu sự chi phối của những quy tắc chung trong hoạt động. Có hai kiểu
hoạt động bằng phương tiện ngôn ngữ:
- Hoạt động đơn phương là hoạt động một mình, cá thể. Nói một mình
là hoạt động đơn phương (độc thoại);
- Hoạt động xã hội là hoạt động đòi hỏi có sự cộng tác của người khác.
Nói năng với người khác, đó là hội thoại.
J. L Austin – một nhà triết học người Anh là một trong những người
khởi xướng quan điểm về hành động ngôn ngữ (speech act). Khi nói năng,
con người thực hiện hành động bằng phương tiện ngôn ngữ. Nói một mình
như tự than thở là hành động đơn phương, còn nói với người khác trong cuộc
hội thoại là hành động xã hội.
1.1. Lí thuyết hành động ngôn ngữ
Hành động (hay còn gọi là hành vi) là toàn bộ nói chung các phản ứng,
cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, xác
định [26].
Trong cuộc sống hàng ngày, dưới sự điều khiển của tư duy, con người
có hai loại hành động dễ thấy là nói (Speak) và làm (Do). Thông thường,
người ta hay đối lập giữa nói và làm, thậm chí người Việt chúng ta còn quan

11


niệm giữa nói và làm là hai phạm trù khác hẳn nhau. Làm là một phạm trù
thực tế còn nói chỉ dùng ngôn ngữ để biểu hiện diễn tả thông báo cái gì đó.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nói cũng là một hoạt động. Hoạt động lời nói là

xin lỗi, sai khiến là chúng thực hiện hành động cảm ơn, xin lỗi, sai khiến...
Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có thể nói (hoặc viết) nhằm những đích
nhất định: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin, hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm
ơn, giải thích, phàn nàn...
1.1.1. Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo
lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động
mượn lời (Perlocutionary act).
Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy có một số cách dịch khác nhau.
Đáng chú ý là các cách dịch cụm từ: Locutinonary act (hành động tạo lời,
hành động tại lời, hành động tạo ngôn); Illocutionary act (hành động ngoài
lời, hành động ở lời, hành động trong lời, hành động tại lời, hành động ngôn
trung); Perlocutionary act (hành động mượn lời, hành động sau lời, hành động
xuyên ngôn).
1.1.1.1. Hành động tại lời
Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó
nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói (viết) ra. Chính cái đích này
phân biệt các hành động tại lời với nhau. Đó là những hành động người nói
thực hiện ngay khi nói năng. Hành động tại lời được thực hiện nhờ hiệu lực
giao tiếp của phát ngôn. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn
ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở
người nhận. Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp
điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người nghe trả lời; khi
ta chào thì người nghe sẽ có hành động tương ứng là chào...Thông thường, nó
lập thành một cặp thoại tương ứng: Chào - chào, hỏi - trả lời, cầu khiến -

13


chấp thuận (hoặc từ chối)... Còn khi người nói cam kết với ai một điều gì đó

định của người nói phụ thuộc vào từng tình huống giao tiếp, và có những tình
huống giao tiếp "độc nhất vô nhị" thì còn phụ thuộc vào sự trải nghiệm sống,
sự nhạy cảm của những người tham gia giao tiếp nữa. Có thể minh chứng
thêm qua ví dụ sau:
Khi chúng ta nghe câu nói:
(4) Tôi vừa mới pha một ấm trà ngon.
là để tạo ra một phán đoán hoặc là để mời chào hoặc là để giải thích hay vì
một mục đích giao tiếp nào đó. Những ý định như vậy chỉ có những người
tham gia trực tiếp vào cuộc giao tiếp đó mới xác định được một cách chính
xác mà thôi.
Giả sử một người nói:
(5) Ở đây nóng quá.
Đây là một hành động xác tín (miêu tả) nhưng ý định của người nói có
thể là một hành động đề nghị như hãy bật quạt, bật điều hoà lên hoặc mở cửa
ra cho mát. Người nghe phát ngôn này có thể đứng dậy bật quạt, bật điều hoà
hoặc mở cửa sổ. Hiệu quả này thuộc về hành động mượn lời và là đích tại lời
của ví dụ (5).
Trong giao tiếp tiếng Anh, lời thỉnh cầu lịch sự (polite request) thường
được diễn đạt dưới dạng câu hỏi. Đó là quy ước về phép lịch sự của người
Anh - hành động ngôn ngữ gián tiếp đồng biến với lịch sự. Tiếng Việt và một
số ngôn ngữ khác không hoàn toàn như vậy. Có thể nhận thấy điều này qua
các dẫn dụ sau:
(6) Would you mind closing the door? (Phiền anh đóng hộ cái cửa lại ạ.)
(7) Would you like a cup of tea? (Mời anh dùng trà ạ.)
Từ những phân tích như trên, chúng ta có thể suy ra rằng nắm được một
ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu... của ngôn ngữ đó
mà còn phải nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời của

15


16


(12) I be a student.
thì anh ta cũng chưa hoàn thành hành động tạo lời. Hành động tạo lời phải là:
(13) I am a student.
Sản phẩm của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu của cú pháp
tiền dụng học.
1.1.1.3. Hành động mượn lời
Khi nói về nội dung của diễn ngôn, chúng ta đã nói đến đích tác động
của hoạt động giao tiếp. Hành động ngôn ngữ liên quan tới đích tác động của
diễn ngôn là hành động mượn lời (hành động xuyên ngôn). Hành động mượn
lời là những hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn
các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó như biến đổi
trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được ở
người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Ví dụ:
(14) Sp1: Đóng cửa lại!
Sp2: Đứng dậy đóng cửa, khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng.
Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả
mượn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành
động tại lời. Hành động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động
tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích
của hành động tại lời như khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng khi nghe
mệnh lệnh. Đây cũng là hiệu quả thuộc về hành động mượn lời. Chẳng hạn,
khi chủ tọa nói :
(15) Tôi tuyên bố khai mạc hội thi giáo viên dạy giỏi tỉnh Lai Châu
năm học 2014-2015.
thì hành động tại lời là hành động khai mạc hội thi. Mọi người tham dự hội



18


Cũng có trường hợp và chắc không phải là ngoại lệ, khi vị quan chức X
nói như vậy thì những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y sẽ nảy sinh suy nghĩ: Hay
là vị quan chức này "bật đèn xanh" để cho họ lo lót chạy tội?...
Như vậy, hiệu quả mượn lời của phát ngôn là những hiệu quả ngoài
ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn), rất phân tán, không có tính quy
ước và khó tìm ra cơ chế chung nên người nói không thể tính toán, kiểm soát
hết được.
1.1.1.4. Phát ngôn ngôn hành và biểu thức ngôn hành
Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn - sản phẩm của một hành động tại lời
nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp chân thực. Nói
một cách ngắn gọn nói là hành động bằng lời. Để làm rõ cho cách hiểu này,
người ta thường xuất phát từ những phát ngôn tiêu biểu, đại thể như:
(16) Tôi đánh cuộc với anh là đội Man đỏ sẽ thắng Man xanh trong
trận này.
(17) Em cảm ơn thầy ạ.
(18) Anh khuyên em nên bỏ hút thuốc đi để đỡ hại cho sức khoẻ.
Trong những ví dụ trên, hành động tại lời ví dụ (16) là hành động đánh
cuộc, ví dụ (17) là cảm ơn, ví dụ (18) là khuyên. Những phát ngôn như thế
được gọi là những phát ngôn ngôn hành. Phát ngôn ngôn hành là phát ngôn sản phẩm của một hành động tại lời nào đó khi hành động này được thực hiện
một cách trực tiếp, chân thực.
Có thể phân biệt biểu thức ngôn hành và phát ngôn ngôn hành. Biểu
thức ngôn hành là thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu
lực tại lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một
hành động tại lời nào đó. Biểu thức ngôn hành (còn gọi là biểu thức ngữ vi,
biểu thức ngôn trung ...) vừa là phương tiện vừa là sản phẩm tại lời. Phát ngôn
ngôn hành là sự hiện thực hoá một biểu thức ngôn hành trong giao tiếp gắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status