Lời chào trong giao tiếp tiếng việt thể hiện qua một số tác phẩm văn học việt nam từ 1945 đến nay - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ TẠO ĐẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN HỒNG HẠNH

LỜI CHÀO TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. Đặng Thị Hảo Tâm
2. TS. Vũ Tiến Dũng

SƠN LA - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công
trình nào khác.
Tác giả

Nguyễn Hồng Hạnh



Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................................... 8
1.1. HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ ................................................................... 8
1.1.1. Định nghĩa về hành động ngôn ngữ .................................................... 8
1.1.2. Các loại hành động ngôn ngữ ............................................................. 8
1.1.3. Hành động chào và tiếp nhận lời chào ............................................. 15
1.2. LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP ........................................................... 15
1.2.1. Khái niệm lịch sự .............................................................................. 15
1.2.2. Quan điểm lịch sự của R.Lakoff ........................................................ 16
1.2.3. Quan điểm lịch sự của Leech ............................................................ 17
1.2.4. Quan điểm lịch sự của P.Brown và S.Levinson ................................ 19
1.3. LỊCH SỰ TRONG TIẾNG VIỆT ......................................................... 20
1.3.1. Việc nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt ...................................... 20
1.3.2. Các xu hướng nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt ....................... 21
1.4. PHONG CÁCH CHỨC NĂNG ............................................................ 21
1.4.1. Sự phân loại các phong cách chức năng của hoạt động lời nói
trong tiếng Việt ............................................................................................ 21
1.4.2. Phong cách sinh hoạt hằng ngày và lời chào trong phong cách
sinh hoạt hằng ngày .................................................................................... 22
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 26


Chương 2: NGHI THỨC CHÀO HỎI TRONG GIAO TIẾP CỦA
NGƢỜI VIỆT ................................................................................................ 27
2.1. KHÁI NIỆM LỜI CHÀO ...................................................................... 27
2.2. NGHI THỨC CHÀO TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA
NGƢỜI VIỆT ............................................................................................... 27
2.2.1. Chào bằng cúi đầu và hơi cúi lưng ................................................... 28
2.2.2. Chào bằng cách giơ tay lên cao........................................................ 29
2.2.3. Chào bằng cách gật đầu ................................................................... 30
2.2.4. Chào bằng cách khoanh tay vòng trước ngực và hơi cúi đầu .......... 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 110


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Ở bất cứ nơi nào và trong bất cứ tình huống giao tiếp ngôn ngữ nào
của con người, thì nghi thức giao tiếp đầu tiên bao giờ cũng bằng phát ngôn
chào. Lời chào có giá trị mở thoại hoặc kết thoại là hành động đặc trưng bằng
ngôn ngữ của con người. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có những hình thức chào
riêng của mình, mang những giá trị văn hóa riêng. Điều đó thể hiện đặc trưng
ngôn ngữ - văn hóa - tư duy của mỗi dân tộc. Với các quốc gia phương Đông,
vốn chịu ảnh hưởng của Nho giáo thì văn hóa chào càng được coi trọng. Cũng
như nhiều quốc gia khác trong khu vực châu Á, người Việt Nam rất coi trọng
văn hóa chào.
1.2. Ở Việt Nam, lời chào có vị trí hết sức quan trọng. Đối với người
Việt Nam lời chào là nghi thức lời nói lịch sự mở đầu mọi cuộc hội thoại, bắt
đầu của mọi quan hệ giao tiếp, thậm chí quyết định đến sự tồn tại hay phát
triển của những mối quan hệ đó:
Năng mưa thì giếng năng đầy
Năng liếc năng sắc, năng chào năng quen.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng thấm nhuần triết lý ứng xử của ông
cha qua câu tục ngữ “lời chào cao hơn mâm cỗ”.
Là sản phẩm của nền văn hóa Việt, lời chào thể hiện rõ nét bản sắc của
nền văn hóa đã sản sinh ra nó. Văn hóa chào của người Việt phản ánh phần
nào cốt cách, tâm hồn con người Việt. Lời chào của người Việt rất sinh động,
phong phú cả về hình thức và nội dung qua các thời kì phát triển của lịch sử
dân tộc.
1.3. Cũng như những ngôn ngữ khác trên thế giới, lời chào của người
Việt trong giao tiếp thuộc về nghi thức lời nói, thể hiện rõ lịch sự, tôn trọng,
khiêm nhường của những người tham gia giao tiếp. Theo dòng lịch sử phát


2


ngữ chào hỏi” của tác giả Nguyễn Vân Dung và bài nghiên cứu của thạc sĩ
Nguyễn Thị Hồng Ngân đã nêu một số cấu trúc lời chào của người Việt. Gần
đây nhất, năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương với cuốn “Lời chào
không nghi thức trong giao tiếp thông thường của người Việt”.
Nhìn chung, các đề tài đều đi vào nghiên cứu từng hành vi ngôn ngữ
chào hỏi trên các phương diện cấu trúc - ngữ nghĩa gắn với văn hóa giao tiếp
của từng cộng đồng dân tộc.
Trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã tìm hiểu sâu sắc về các hình
thức chào mời trong tiếng Việt được sử dụng trong quá trình giao tiếp. Tuy
nhiên do mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết quả của mỗi công trình
nghiên cứu đều khác nhau. Từ những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu
trước đây so với thực tế hiện nay, lời chào trong quá trình giao tiếp của người
Việt đã có sự biến đổi nhất định khi mà đất nước chúng ta đang hội nhập với
thế giới. Tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở thừa
nhận kết quả nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đó và bước đầu
tìm hiểu sự biến đổi của lời chào trong tiếng Việt từ năm 1945 đến nay.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lời chào trong một số tác
phẩm văn học Việt Nam từ 1945 đến nay và những lời chào trong giao tiếp
thường ngày của người Việt. Luận văn quan tâm nghiên cứu, khảo sát các
hành động chào được biểu hiện bằng ngôn từ. Các hành động chào biểu hiện
chào bằng các yếu tố phi lời (điệu bộ, cử chỉ như: bắt tay, mỉm cười, ra hiệu,
nháy mắt, gật đầu…tạm thời chưa có điều kiện nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là nghiên cứu lời chào với tư

Việt cũng như những bản sắc văn hóa Việt Nam ở hành động ngôn ngữ chào.

4


5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu nếu có tính khả chấp góp phần làm phong phú thêm
vốn hiểu biết về văn hóa chào hỏi trong tiếng Việt. Và qua đó, luận văn giúp
cho mọi người tiếp nhận và sử dụng lời chào trong tiếng Việt một cách có
hiệu quả. Thông qua việc nghiên cứu sự biến đổi về lời chào, hình thức chào
của tiếng Việt, luận văn có thể cho thấy sự phát triển phong phú về văn hóa
chào của người Việt trong quá trình phát triển giai đoạn từ 1945 đến nay.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã nghiên cứu lựa chọn và sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu như: nhập vai giao tiếp, quan sát, khảo sát,
thống kê, miêu tả, phân tích, so sánh để đi đến những kết luận khoa học vững
chắc đáng tin cậy về sự biến đổi của lời chào trong giao tiếp tiếng Việt.
6.1.1. Phương pháp điền dã
Phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải trực tiếp tham gia vào
cuộc thoại trực tiếp trong quá trình giao tiếp đóng vai người chào, người được
chào. Trong cuộc thoại bản thân chủ động mở đầu cuộc giao tiếp để hướng tới
lời chào và nhận hồi đáp lời chào nhằm thu thập tư liệu. Chẳng hạn khi gặp
một hoặc một nhóm người, tôi sẽ có phát ngôn chào mở thoại hoặc kết thoại
bằng lời để kích thích hành động chào ở đối tượng giao tiếp. Từ đó hành động
chào và tiếp nhận lời chào sẽ được đối tượng giao tiếp thể hiện.
Phương pháp điền dã cũng đòi hỏi người nghiên cứu phải quan sát, nghe,
ghi chép lời chào mở thoại khi gặp mặt và lời chào khi kết thúc cuộc thoại.
6.1.2. Phương pháp khảo sát, thống kê
Hai phương pháp này được sử dụng trong việc khảo sát một số tác


6


7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có
cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Những cơ sở lý thuyết chung.
Chương 2: Nghi thức chào hỏi trong giao tiếp của người Việt.
Chương 3: Lời chào của người Việt thể hiện qua một số tác phẩm văn học
từ 1945 đến nay.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ
1.1.1. Định nghĩa về hành động ngôn ngữ
Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một
hành động đặc biệt mà phương tiện ngôn ngữ. Đó là hành động ngôn ngữ.
Hành động nói là hành động được thực hiện bằng lời nói khi nói. Khi
gặp một người quen ta nói: chào anh, chào chị, tức là chúng ta thực hiện hoạt
động chào. Khi ta cảm ơn, xin lỗi, sai khiến là chúng thực hiện hành động
cảm ơn, xin lỗi, sai khiến... Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có thể nói
(hoặc viết) nhằm những đích nhất định: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin,
hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm ơn, giải thích, phàn nàn...
1.1.2. Các loại hành động ngôn ngữ
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo
lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động

động tạo lời phải nói là:
2) Xin chào các anh các chị!
Giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Pháp:
3) Je être étudiant. (Tôi là sinh viên - nam sinh viên)
thì anh ta chưa hoàn thành hành động tạo lời. Hành động tạo lời phải là:
4) Je suis étudiant. (người nói là sinh viên nam)
hoặc giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Anh:
5) I be a student.
thì anh ta cũng chưa hoàn thành hành động tạo lời. Hành động tạo lời
phải là:
6) I am a student.
9


1.1.2.2. Hành động mượn lời
Hành động ngôn ngữ liên quan tới đích tác động của diễn ngôn là hành
động mượn lời (hành động xuyên ngôn). Hành động mượn lời là những hoạt
động mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để
gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó như biến đổi trong nhận thức,
trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được ở người nghe, người
nhận hoặc ở chính người nói.
Ví dụ: Khi Chủ tịch Hội đồng coi thi nói:
7) Tôi tuyên bố khai mạc kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 2 cấp tỉnh năm
học 2015-2106.
thì hành động tại lời là hành động tuyên bố khai mạc kỳ thi. Mọi người
tham dự buổi khai mạc kỳ thi lập tức trật tự, chờ đợi nghi thức tiếp theo của
buổi lễ. Cái giá trị này thuộc về hiệu quả của hành động mượn lời.
Có thể tìm hiểu thêm ví dụ sau để thấy được tính chất phức tạp của
hành động mượn lời.
8) Tại một Hội nghị giao ban giữa học kỳ ở tỉnh A, lãnh đạo Sở Giáo

người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hành động tại lời được thực hiện nhờ
hiệu lực giao tiếp của phát ngôn. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả
thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng
với chúng ở người nhận. Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ mong muốn
được giải đáp điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người
nghe trả lời; khi ta chào thì người nghe sẽ có hành động tương ứng là chào...
Thông thường, nó lập thành một cặp thoại tương ứng: Chào - chào, hỏi - trả
lời, cầu khiến - chấp thuận (hoặc từ chối)... Đích của hành động tại lời được
gọi là đích tại lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả tại lời.
Dấu hiệu của hiệu quả tại lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động
tại lời, tức người nghe.
Ví dụ:
9) Sp1: Cậu đã làm bài tập chưa?

11


Sp2: Rồi.
Hiệu quả của hành động tại lời trong ví dụ (9) thể hiện ở phát ngôn trả
lời của Sp2: Rồi.
Đặc điểm của hành động tại lời nói là có ý định (đích), có tính quy ước,
có thể chế mặc dù quy ước và thể chế không được diễn đạt hiển ngôn nhưng
mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ vẫn tuân thủ một cách không tự giác.
Chẳng hạn, người Việt hỏi là thể hiện sự quan tâm và dần dần một số câu hỏi
được ước định trở thành lời chào giữa những người đã quen biết nhau. Ví như
khi ta gặp một người quen, ta biết họ đang trên đường đi chợ về, mang theo
rau, thịt, cá... ta vẫn hỏi:
10) Đi chợ về đấy à? hoặc: Mua nhiều đồ ăn vậy?
Hình thức các phát ngôn ở ví dụ (10) là câu hỏi nhưng đích của các
phát ngôn (10) là lời chào. Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, có một số lời

1.1.2.4. Điều kiện sử dụng các hành động tại lời (ở lời)
Trên cơ sở phân tích lời hứa trong tiếng Anh, Searle đã điều chỉnh và
bổ sung điều kiện thực hiện các hành động tại lời của Austin. Theo quan điểm
của Searle, mỗi hành động tại lời cần phải có những điều kiện mà còn gọi là
những quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt đúng hiệu quả của nó. Searle cho
rằng có bốn điều kiện, mỗi điều kiện là một điều kiện cần còn toàn bộ hệ điều
kiện là điều kiện đủ.
a) Điều kiện nội dung mệnh đề
Nội dung mệnh đề thường chỉ ra bản chất nội dung của hành động nói.
Nội dung của mệnh đề có thể là mệnh đề đơn giản (đối với hành động khảo
nghiệm, xác tín, miêu tả) hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín,
tức là những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời “có” hoặc “không”, “phải”,
“không phải”). Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngữ vi tương ứng với hành
động hỏi đưa ra hai khả năng người trả lời chọn lấy một mà trả lời. Nội dung
của mệnh đề có thể là hành động của người nói (như hành động hứa hẹn, thề,
cam kết) hay hành động của người nghe (như hành động ra lệnh, yêu cầu).

13


b) Điều kiện chuẩn bị
Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực lợi ích, ý định của người nghe và về các mối quan hệ giữa người nói
với người nghe. Chẳng hạn, trong hành động ra lệnh người nói phải tin rằng
người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh đồng
thời biết rằng giữa người nói và người nhận có vị thế xã hội có lợi cho người
nói. Sự hứa hẹn đòi hỏi người hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người
nghe cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện. Khảo nghiệm, xác tín
không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đó đúng mà còn đòi hỏi anh ta
phải có những bằng chứng.

chúng ở người nhận.
Do đó có thể hiểu, chào là một hành động dùng lời nói để bày tỏ thái
độ, tình cảm của một người đối với một hoặc một nhóm người khi gặp mặt
hoặc khi từ biệt.
Như vậy, hành động chào là hành động dùng để bày tỏ thái độ, tình cảm
của chủ thể giao tiếp đối với đối tượng giao tiếp khi mở đầu hay kết thúc cuộc
giao tiếp. Nó là phép lịch sự tối thiểu cần phải đạt được trong mọi cuộc giao tiếp.
1.2. LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
1.2.1. Khái niệm lịch sự
Lịch sự được dùng trong nhiều ngôn ngữ từ xa xưa. Ở Việt Nam lịch sự
bắt nguồn trong các chế định về “lễ” và được hiểu rất rộng. Lễ bao gồm mọi
cách xử sự trong một xã hội có tổ chức, nhất là xã hội phong kiến. Nhìn
chung lịch sự ngày xưa là những quy định xã hội do những người có quyền uy
đặt ra và mọi người phải tuân theo. Sự phát triển của xã hội cho thấy về sau
lịch sự mới biến dần thành một nhu cầu xã hội trong đời thường và nổi lên
tính lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn từ.
Đến nay, lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn và thường xuyên của
ngữ dụng học. Nhiều nhà nghiên cứu Âu-Mĩ đã xây dựng nên những quan
điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự, nâng cao vấn đề thực tiễn trong giao
tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness) theo đúng nghĩa
15


của tên gọi này. Đó là các công trình nghiên cứu của R.Lakoff, của G.N
Leech, của P.Brown và S.Levinson.
1.2.2. Quan điểm lịch sự của R.Lakoff
R.Lakoff đưa ra ba quy tắc:
Quy tắc 1: Không áp đặt (Don’t impose).
Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (Offer option)
Quy tắc 3: Tăng cường tình cảm bằng hữu (Encourage feelings of ca

người có quan hệ thân hữu. Quy tắc lịch sự tăng cường tình bằng hữu nên hầu
như mọi đề tài đều có thể đem ra trò chuyện với nhau giữa những người thân.
Nói gián tiếp, nói ngụ ý không thích hợp với quy tắc lịch sự thân hữu. Tương
phản với phép lịch sự phi quy thức, nguyên tắc chi phối phép lịch sự thân hữu
là không chỉ bày tỏ sự quan tâm thực sự đến nhau, thổ lộ những chi tiết riêng
tư về cuộc sống của nhau mà còn phải tin cậy nhau, thổ lộ những chi tiết về
cuộc sống riêng tư, những kinh nghiệm, những cảm xúc…của mỗi người với nhau.
1.2.3. Quan điểm lịch sự của Leech
Lí thuyết lịch sự của Leech được trình bày rõ trong cuốn Principle of
pragmatics (Những nguyên lí của dụng học). Leech quan niệm lịch sự là sự
bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói gây ra
cho người đối thoại. Lí thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm “thiệt”
(cost) và “lợi” (benefit) gây ra cho người nói và người nghe, nội dung khái
quát của nó nằm ở quy tắc: tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự và tăng tối
đa những lối nói lịch sự. Từ đó, Leech định nghĩa lịch sự là sự bảo toàn cân
bằng xã hội và quan hệ thân hữu giữa ta (người nói) và người (người nghe).
Nội dung của nguyên tắc lịch sự được Leech cụ thể hóa trong 6 phương châm
giao tiếp lịch sự như sau:
1. Phương châm khéo léo ( tact maxim)
Giảm đến tối thiểu những điều thiệt và tăng tối đa những điều lợi cho người).
17


2. Phương châm hào hiệp (generosity maixim)
Giảm đến tối thiểu những điều có lợi và tăng tối đa những điều thiệt cho ta.
3. Phương châm tán thưởng (approbation maxim)
Giảm đến tối thiểu những lời chê, tăng tối đa những lời khen đối với người.
4. Phương châm khiêm tốn (modesty maxim)
Giảm đến tối thiểu việc tự khen ta, tăng tối đa những điều tự chê ta.
5. Phương châm tán đồng (agreement maxim)

khiến và người được cầu khiến cho phương châm khéo léo. Tuy nhiên, hệ
thống này vẫn còn để lại những khoảng trống các phương châm khác còn
chưa được xác định về độ đo.
1.2.4. Quan điểm lịch sự của P.Brown và S.Levinson
Quan điểm của P.Brown và S.Levinson về lịch sự được trình bày trong
cuốn Politeness - Some Universals in language usage (Lịch sự - Một vài phổ
niệm trong sử dụng ngôn ngữ 1978/1987). Xuất phát điểm quan trọng của lí
thuyết lịch sự này là khái niệm thể diện (face).
P.Brown và S.Levinson đã phân biệt thể diện bao gồm hai phương
diện: thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face)
hay còn dịch là thể diện tích cực và thể diện tiêu cực.
Thể diện dương tính được P.Brown và S.Levinson xác định như là sự
mong muốn thân hữu (solidarity) tức là “mong muốn của mỗi thành viên rằng
những mong muốn của mình đồng thời cũng là mong muốn ít ra là của một số
người khác” hay nói cách khác là mong muốn hình ảnh cái tôi của mình được
người khác xác nhận, bênh vực, ủng hộ.
Thể diện âm tính được P.Brown và S.Levinson định nghĩa “là sự tự do
hành động” mà thực chất đó là “mong muốn của mọi thành viên trưởng thành
và có năng lực hiểu biết rằng hành động của mình không bị người khác ép
buộc”, hay nói cách khác là mong muốn tôn trọng lãnh địa riêng tư, quyền tự

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status