cảm thức thời gian trong thơ chữ hán nguyễn du và thơ sonnet shakespeare - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Minh

CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ
CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ
SONNET SHAKESPEARE

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Minh

CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ
CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ
SONNET SHAKESPEARE
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
T
1

T
1

1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................6
T
1

T
1

2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................7
T
1

T
1

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................13
T
1

T
1

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................................14
T

T
1

1.1.1. Nguyễn Du ...........................................................................................................16
T
1

T
1

1.1.2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du .....................................................................................18
T
1

T
1

1.2. Shakespeare và thơ sonnet .......................................................................................21
T
1

T
1

1.2.1. Shakespeare ..........................................................................................................21
T
1

T
1

2.1.1. Thời gian – nỗi ám ảnh khôn nguôi với thi nhân .................................................34
T
1

T
1

2.1.2. Bước chân nhanh chóng, vô tình, không chờ đợi của thời gian ...........................37
T
1

T
1

2.2. Sức tàn phá của thời gian .........................................................................................44
T
1

T
1

2.2.1. Vũ khí của thời gian .............................................................................................44
T
1

T
1

2.2.2. Thời gian dẫn tới tuổi già .....................................................................................50
T

T
1

CHƯƠNG 3 : DẤU ẤN CÁ NHÂN TRONG CẢM THỨC THỜI GIAN Ở THƠ
CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ SONNET SHAKESPEARE........................ 72
T
1

T
1

3.1. Hai gương mặt thời gian ...........................................................................................72
T
1

T
1

3.1.1. Thời gian thuần nhất trong thơ Nguyễn Du .........................................................74
T
1

T
1


3.1.2. Thời gian hai mặt trong thơ Shakespeare .............................................................82
T
1



3.3.1. Giọng trầm ngâm suy tưởng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du .............................123
T
1

T
1

3.3.2. Giọng đối thoại, tranh luận trong thơ Shakespeare ............................................132
T
1

T
1

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 142
T
1

T
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 145
T
1

T
1

PHỤ LỤC ................................................................................................................. 150

những nỗi niềm nhân sinh muôn thuở. Nếu nét tương đồng đưa hai thi hào ở hai miền xa xứ
lạ đến gần nhau thì sự khác biệt lại cho phép ta suy nghĩ về đặc trưng tiêu biểu của hai con
người thuộc hai nền văn hóa, hai dân tộc.
1.3. Khi Ađam và Êva nhận ra sự trần trụi của mình giữa chốn vườn địa đàng cũng là
lúc họ có ý thức về bản thân, ý thức mình là một con người. Khi con người nhận ra sự hữu
hạn của mình giữa thế giới bao la, họ có ý thức về thời gian. Đằng sau sự cảm nhận ấy là cả
một thế giới quan, nhân sinh quan gắn với khí chất, đời sống riêng tư cũng như đặc điểm


dân tộc, môi trường văn hóa của mỗi cá nhân. Không hẹn mà nên, Shakespeare và Nguyễn
Du trong thơ mình đều dành mối quan tâm đặc biệt tới thời gian, thể hiện nó như một hình
tượng có sức ám ảnh lớn. Cảm thức thời gian có thể xem như một cánh cửa đi vào thế giới
nghệ thuật của hai thi sĩ.

2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Du và Shakespeare đều là hai thi hào lớn của dân tộc, những công trình
nghiên cứu về hai tác giả này rất đồ sộ. Ở đây chúng tôi chỉ quan tâm đến các tài liệu có liên
quan đến đề tài.
Về thơ chữ Hán Nguyễn Du
Để thuận tiện cho việc tìm hiểu, chúng tôi phân tài liệu về thơ chữ Hán Nguyễn Du
làm 2 dạng: dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác Nguyễn Du nói chung hoặc
nói về các vấn đề khác nhưng có đả động đến thơ chữ Hán; dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán
làm đối tượng nghiên cứu chính.
Về dạng tài liệu thứ nhất, ý kiến đầu tiên có thể kể đến là những nhận xét xác đáng
của Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam. Ở phần phân tích về
thời gian con người trong thơ ca trung đại, tác giả nhận định: “Phải sang thời kì ý thức cá
nhân được khẳng định ở bình diện thân xác như đã nói, ý thức thời gian con người mới
được biểu hiện rõ nét trong thơ và đến thời này con người trong thơ mới bắt được cái mạch
trong thơ các đời Hán, Ngụy, Đường” [42, tr.209]. Nhà nghiên cứu lấy sáng tác thơ chữ
Hán Nguyễn Du làm minh chứng để thấy “Bao trùm lên hết thảy là một cảm thức thời gian

Nguyễn Du, khẳng định bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán là một cứ liệu quan trọng nếu
muốn thực sự đi sâu vào thế giới tâm hồn, thấu hiểu những suy tư kín đáo của Nguyễn Du.
Các tác giả đã phần nào chỉ ra, lí giải thực chất cái gọi là “tâm sự hoài Lê” cùng thái độ
chính trị phức tạp trong thơ cụ Nguyễn Tiên Điền. Dù có khi bất đồng ở chỗ này chỗ khác,
các ý kiến trên thống nhất với nhau ở một điểm: khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo cùng
nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của thơ chữ Hán, xem đây như một kho báu còn chưa được
khai thác hết và vẫn hứa hẹn những điều bất ngờ. Nhưng công trình công phu, chi tiết về các
khía cạnh nghệ thuật thơ chữ Hán phải kể đến là luận án tiến sĩ Ngữ Văn của Lê Thu Yến:
Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du. Trên cơ sở xử lí những vấn đề liên quan
đến văn bản thơ, tác giả xem xét thơ chữ Hán Nguyễn Du từ góc độ thi pháp trên các
phương diện: hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn
ngữ. Trong phần thời gian nghệ thuật, tác giả đã phân tích thời gian úa tàn, thời gian kí ức,
thời gian khoảnh khắc để làm rõ cái nhìn riêng của nhà thơ đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ
thể. Tác giả có một số nhận định sâu sắc: “Qua khung thời gian được vẽ ra trong thơ, chúng
ta thấy rõ ràng dấu tích của con người cá nhân với những bứt phá vượt thời đại. Con người


cá nhân ấy luôn vùng vẫy, cựa quậy, quay đầu về quá khứ, trực diện với hiện tại, đánh dấu
hỏi vào tương lai… nhưng chưa đủ mạnh để có thể lật tung mọi ngõ ngách tâm hồn, tự mình
tìm khắc khoải giữa đời hoặc tiến lên một bước đấu tranh giành quyền sống quyết liệt như
con người của thế kỉ XX” [52, tr.140]. Công trình gần đây nhất về thơ chữ Hán là cuốn Đọc
và dịch thơ chữ Hán của Thảo Nguyên. Bên cạnh các bài dịch thơ, tác giả cũng đưa ra một
số lời bình chú có phần nghiệp dư nhưng nếu chú ý ta sẽ thu được một vài suy ngẫm thú vị.
Ngoài ra còn có một số luận văn như luận văn thạc sĩ của Vũ Thu Hường: Tìm hiểu phạm
trù Tha trong việc biểu hiện ý thức cá nhân trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, luận văn
tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Thảo: Giọng điệu nghệ thuật trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du cùng một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí chủ yếu tìm hiểu một tác
phẩm hoặc một vấn đề riêng.
Về thơ sonnet Shakespeare
Chúng tôi cũng phân chia tài liệu về thơ sonnet Shakespeare thành hai loại: tài liệu

đã sử dụng một thứ ngôn từ thật thi vị đơn giản nhưng trau chuốt. Không kể 37 kịch phẩm
bất hủ, riêng thi phẩm này đã đủ đưa Shakespeare lên hàng thi hào của Anh quốc” [19,
tr.119]. Do giới hạn của một cuốn sách khái quát về một đối tượng thuộc phạm vi rộng, tác
giả không đưa ra dẫn chứng, cũng không phân tích, song các nhận xét của ông đã giúp
chúng tôi rất nhiều trong bước đầu tìm hiểu sonnet Shakespeare. Tài liệu thứ hai có thể kể
đến là cuốn W. Secxpia thơ xônê chọn lọc của dịch giả Thái Bá Tân. Tác giả đã chọn dịch
77 bài sonnet tiêu biểu của Shakespeare kèm theo lời giới thiệu nhiều tâm huyết. Trong
phần này, Thái Bá Tân có giới thiệu sơ bộ về hình thức, bố cục và những yêu cầu nghiêm
nhặt đã trở thành bắt buộc của thể sonnet cùng quá trình phát triển của nó và đi vào sonnet
Shakespeare : “Nhìn chung, mặc dù chủ đề xen kẽ nhau khá phức tạp, đại khái ta có thể chia
toàn tập 154 bài xônê của Shakespeare thành hai phần lớn – một phần nói về người bạn, và
phần kia nói về người yêu. Cụ thể hơn, có thể chia thành từng nhóm như sau:
- Từ xônê 1 đến xônê 26: ca ngợi vẻ đẹp của bạn, thuyết phục bạn lấy vợ, có con để
truyền lại vẻ đẹp ấy cho các thế hệ sau
- Từ xônê 27 đến xônê 32: nỗi buồn xa cách
- Từ xônê 33 đến xônê 42: những nghi ngờ và rạn nứt đầu tiên trong tình bạn
- Từ xônê 43 đến xônê 75: nỗi buồn và lo sợ
- Từ xônê 76 đến xônê 96: lòng ghen tuông và đố kị đối với các nhà thơ khác
- Từ xônê 97 đến xônê 99: mùa đông của sự chia li
- Từ xônê 100 đến xônê 126: niềm vui của tình bạn được khôi phục
- Từ xônê 127 đến xônê 127 đến xônê 152: tình cảm mâu thuẫn của nhà thơ đối với
người yêu: “the Dark Lady”
- Hai bài 153 và 154 là hai xônê kết, ít liên quan đến toàn bộ “cốt truyện”, chủ yếu
phỏng theo các bài xônê cổ điển có trước” [43, tr.14 – 15]. Nhà nghiên cứu cũng chia sẻ
những khó khăn trong quá trình đến với tác phẩm để thấy: “Cho đến nay chưa hề có bản
dịch thơ Sêxpia nào ra tiếng Việt, nghĩa là chúng ta hoàn toàn chưa biết đến một Sêxpia
khác cũng vĩ đại như Sêxpia kịch, đó là Sêxpia thơ trữ tình. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng
có lẽ nguyên nhân cơ bản nhất là ở chỗ dịch thơ xônê của Sêxpia rất khó, hầu như vượt ra



tàn phá, cuốn sử biên niên của thời gian bị lãng phí, sự tàn tạ và cái chết của chính nhà thơ,
nỗi mất mát những người bạn quý, nỗi đau buồn, cô đơn và sự hủy diệt – tất cả được viết


bằng ngôn ngữ tuyệt nhất của nhà thơ – thứ ngôn ngữ được dùng để nói về những điều
không thể nói hay hơn, hoặc với một tình yêu sâu sắc hơn 2”[59, tr.6 – 7]. G. Wilson Knight
F
1
P

P

trong cuốn The Mutual Flame on Shakespeare ‘s sonnets and The Phoenix and the
Turtle, ở phần nghiên cứu về sonnet đã dành một chương để nói về vấn đề “time and
eterniry” (thời gian và sự trường tồn bất diệt). Theo tác giả, thời gian, cái chết và sự bất diệt
(time, death and eternity) là ba vấn đề lớn của sonnet. Nhà nghiên cứu đã đi vào các bài thơ
xuất hiện hình ảnh thời gian và chỉ ra “Hình ảnh so sánh cuộc sống con người với sự thay
đổi theo mùa hay theo ngày được nhấn mạnh từ đầu chí cuối” 3[63, tr.71], “dù nhanh hay
F
2
P

P

chậm, có một điều chắc chắn: thời gian không bao giờ ngừng nghỉ” 4[63, tr.74], nó “là sự
3F
P

P


chronicle of wasted time, the poet’s own decline and death, the loss of precious friends, woe, loneliness, and doom – the
are the grammar of the poet’s finest language, a language which he is using to say what has never been said better of
with profouder love.
3
The comparison of human life to seasonal or diurnal change is emphatic throughout.
4
Slow or fast, one thing is certain: Time is “never - resting” (sonnet 5).
5
Time is a mysterious continuum within which all nature is contained and limited.


để tuổi thanh xuân cũng như vẻ đẹp được bảo tồn. Ở tập thơ của Shakespeare, ba câu trả
lời được đưa ra 6”[64, tr.27]. Không dừng ở các nhận xét, tác giả còn có sự thống kê: “Thật
F
5
P

P

thú vị khi khám phá ra rằng từ sonnet 1 đến sonnet 126 từ “time” được sử dụng 78 lần và
không chỉ xuất hiện một lần trong các bài còn lại. Trong số các bài thơ đầu này, có 9 bài
phát triển chủ đề về sức mạnh của thơ ca chiến thắng thời gian, thứ nhiều lần được miêu tả
bằng những từ khác nhau như “mau lẹ”, “có khả năng phá hủy 7” [64, tr.30].
6F
P

P

Cũng theo các cuốn sách này, có khá nhiều tài liệu trực tiếp đề cập đến thơ sonnet
Shakespeare nhưng đều xuất bản ở nước ngoài nên chúng tôi chưa có cơ hội tiếp cận.

Nguyễn Du, chúng tôi sử dụng cuốn Nguyễn Du toàn tập (tập 1) do Mai Quốc Liên,
Nguyễn Quảng Tuân chủ biên. Về văn bản thơ sonnet Shakespeare, do chưa có bản dịch
nghĩa tiếng Việt, chúng tôi sử dụng nguyên bản tiếng Anh từ cuốn Shakespeare’s sonnets
của nhà xuất bản Đại học Yale và mạnh dạn đưa ra một hướng dịch của mình trên cơ sở
tham khảo một số tài liệu đáng tin cậy.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Bằng kết quả khảo sát, phân tích, người viết mong chỉ ra những
nét đặc sắc trong cảm thức thời gian ở hai tác giả, đặc biệt nhấn mạnh những chỗ tương
đồng và dị biệt, phần nào chỉ ra nguyên nhân cũng như ý nghĩa của nó.
Ý nghĩa thực tiễn: góp thêm một phần nhỏ đưa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ
sonnet Shakespeare đến gần hơn với độc giả, góp phần vào việc tìm hiểu cũng như giảng
dạy thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare trong trường phổ thông và đại học.

5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các câu thơ, bài thơ thể hiện
cảm thức thời gian trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare, sau đó hệ
thống hóa, đặt chúng vào các nội dung chung phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: đặt sáng tác của Shakespeare và Nguyễn Du trong cái nhìn
tương quan để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt. Vì không tìm thấy dấu vết ảnh hưởng
của Shakespeare tới Nguyễn Du, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh về mặt
loại hình, lí giải các tương đồng, dị biệt từ các hiểu biết về tiểu sử nhà văn cũng như đặc
điểm xã hội, môi trường văn hóa mà nhà văn sống. Bên cạnh đó, đặt hai tác giả này trong
mối quan hệ với các nhà thơ xuất hiện trước và sau họ để thấy nét độc đáo trên cái nền
chung của thời đại cũng như trong tiến trình lịch sử văn học.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong luận văn nhằm
kết hợp phân tích dẫn chứng với việc đưa ra những nhận định ở các chương, các phần.

6. Cấu trúc luận văn

được chiều hướng của nó 8. Biến động là vậy mà cuối cùng vẫn là một triều đại phong kiến
F
7
P

P

Thời Lê mạt, Nguyễn sơ là một thời kì vô cùng hỗn loạn, khi tất cả các quan hệ rường mối (vua – tôi, quân – thần, phụ
- tử…) bị đảo lộn, không còn ý nghĩa. Có thể thấy điều ấy qua đoạn tả cảnh chạy loạn của Lê Chiêu Thống được ghi lại
trong Hoàng Lê nhất thống chí: “Hoàng thượng (Lê Chiêu Thống) và Hoàng thái hậu chờ ở bờ sông lâu lắm (sông
Như Nguyệt) không thấy có đò, Hoàng thượng liền cho vời Thược (Nguyễn Cảnh Thược trấn thủ Kinh Bắc) đến hỏi,
Thược thưa:
- Các thuyền đều không ở đây, bệ hạ muốn gấp sang sông, xin hãy cho thần ít nhiều vàng lụa thì mới thuê được. Nếu
không dẫu đến sáng mai cũng vẫn ở đây. Giá như quân giặc đuổi đến, thần xin dùng cái chum gỗ để đưa bệ hạ qua
sông, chỉ e rằng những đồ ngự dụng không thể giữ được mà thôi.
Hoàng thượng nói:
- Trẫm có cả nước cũng không giữ nổi, còn tiếc cái gì?
Tức thì ngài sai mở hòm cho xem. Trong đó chỉ có một chiếc truyền quốc ngọc tỉ 40 lạng vàng mà thôi. Ngài bảo Cảnh
Thược:
- Đấy người muốn lấy gì thì lấy.
Thược thưa:
- Mong ơn bệ hạ ban cho, thần xin chia lấy một nửa.
8


nối tiếp trị vì, mọi thứ rồi quay về quỹ đạo cũ, không biết bao giờ kết thúc. Thời gian vừa
tuần hoàn lại vừa biến động, con người chẳng thể điềm nhiên nhìn thế sự xoay vần, nhưng
càng không thể lay chuyển được gì, chỉ có thể “trông thấy mà đau đớn lòng”.
Cuộc đời Nguyễn Du do đó cũng thăng trầm theo thời cuộc. Sống sung túc trong
cảnh xa hoa không được bao lâu, ông đã sớm nếm trải cảm giác mất mát của một đứa trẻ mồ

bờ, Thược lại cho người đuổi theo lột tấm ngự bào của Hoàng thượng đang mặc. Ngài ứa nước mắt cởi ra trao cho
hắn” (dẫn lại theo Nguyễn Đăng Thục [45, tr.34 – 35].
9
Ý thơ Nguyễn Du trong bài Độ Phú Nông giang cảm tác:
Du nhân vô hạn cảm
Phương thảo biến thiên nhai


chấp với cương thường của nhà Nho 10, cái thiên hướng “vô vi”, muốn giữ thiên tính tự nhiên
9F
P

P

của Đạo và tinh thần từ bi hỉ xả, thương khắp cả chúng sinh đã trộn lẫn thật kì lạ trong một
con người theo một công thức mà ta không thể lí giải.
Tóm lại, ở Nguyễn Du, người ta thấy một loạt các nghịch lí: sinh ra trong một gia
đình đại quý tộc, quyền thế bậc nhất lúc đương thời, có truyền thống cả về văn chương lẫn
khoa cử 11, nhưng Nguyễn Du lại phải sống long đong lận đận, chạy loạn khắp nơi, nhiều khi
F
0
1
P

P

đói không cơm ăn, bệnh không thuốc uống, vào tù ra tội; tuổi trẻ từng khao khát đem tài
năng giúp đời giúp nước nhưng vì thời thế nên đành nhìn thanh kiếm mà rơi lệ ; bản tính
vốn thanh sạch, chỉ muốn quanh năm làm bạn với làn mây núi Hồng, với người đánh cá,
người hái củi, nhưng vì miếng cơm manh áo, Nguyễn Du cho đến bạc đầu vẫn mãi bon chen

Thu Yến… gồm 250 bài. Ngoài ra còn các bản dịch thơ mang tính ngẫu hứng của những
người yêu mến Nguyễn Du như : Trần Văn Nhĩ (2007), Thảo Nguyên (2009). Có lẽ con số
này đến đây vẫn chưa phải đã chấm dứt. Với sức hấp dẫn của chữ Hán Nguyễn Du, ta hoàn
toàn có cơ sở tin tưởng trong tương lai, các tác phẩm vẫn sẽ tiếp tục giành được sự quan tâm
của người đọc nhiều thế hệ.
Về nguồn gốc và đặc điểm thể loại, trong các tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du sử dụng
các thể thơ vay mượn từ Trung Quốc, chủ yếu là tứ tuyệt và bát cú Đường luật. Đây đều là
những thể loại có quy định chặt chẽ về niêm, luật, vận, đối, số chữ trong câu, số câu trong
bài.
Về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về số phận cực khổ long đong của những
người dân thường bất hạnh, người tài hoa bạc mệnh và cả những nhân vật mà nhà thơ khi
tán thành, khi phê phán trong lịch sử Trung Quốc. Như có một thiết bị thu phát nhạy cảm từ
trái tim, Nguyễn Du đặc biệt dễ cảm thông với những khó khăn, vất vả của mọi kiếp người.
Nếu Văn chiêu hồn là khúc ca đầy ưu ái dành cho người chết thì thơ chữ Hán là tác phẩm
trong đó Nguyễn Du chia sẻ niềm yêu thương với những con người đang ngày ngày đối mặt
với cõi hồng trần khắc nghiệt. Ông thương cho mẹ con người ăn xin lưu lạc quê người áo
quần lam lũ, trưa rồi vẫn không có gì ăn (Sở kiến hành), ông thay lời người lính thú bao
năm xa nhà bày tỏ tâm sự như Ban Siêu đầu bạc mong chi ngày trở về quê hương (Đại tác
cửu thú tư quy), ông cũng xót xa khi chứng kiến cha con người hát rong miệng sùi bọt, tay
mỏi rời, gắng hết tâm sức gần một trống canh mà chỉ được năm sáu đồng tiền nhưng vẫn rối
rít cảm ơn, trong khi mọi người ăn uống thỏa thuê, còn cơm thừa canh cặn đổ cả xuống sông
(Thái Bình mại ca giả), cho đến cả con ngựa già bị bỏ quên dưới chân thành, con chó
chết… Nguyễn Du cũng dành tình cảm cho chúng. Trong Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du
từng thổ lộ: “Phong vận kì oan ngã tự cư” (Ta tự đặt mình vào vị trí những người mắc nỗi
oan lạ lùng vì nết phong nhã). Như một sự “đồng bệnh tương liên”, hay như Thúy Kiều thấy
mộ Đạm Tiên đã có cảm giác của những người cùng hội, nhà thơ tìm thấy rất nhiều người
đồng cảnh ngộ - người tài hoa bạc mệnh, xót thương họ cũng là xót thương cho mình.
Người tài hay khác người, khác đời, và chính cái khác đó đem bi kịch đến cho họ: Khuất
Nguyên một mình tỉnh trong khi những kẻ khác say nên đành ôm hận bên dòng Mịch La,


Về nghệ thuật, dù vay mượn thể loại của văn học nước ngoài, nhưng Nguyễn Du đã
thổi vào đó tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người Việt. Thơ ông có nhiều đóng góp đặc
sắc về ngôn ngữ, kết cấu…Nói như nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên: “Thơ chữ Hán Nguyễn


Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý
nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà
cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”(28, 7).

1.2. Shakespeare và thơ sonnet
1.2.1. Shakespeare
Shakespeare sinh ngày 23.4.1564 tại Stratford on Avon, một thị trấn nhỏ miền Trung
nước Anh. Cha ông, John Shakespeare, vốn xuất thân từ một gia đình nông dân, chuyển đến
đây từ năm 1557 và kiếm sống bằng nghề làm bao tay, từng giữ chức Thị trưởng. Thuở nhỏ,
gia đình Shakespeare rất khấm khá. Năm lên 7 tuổi, ông đến học tại trường ngữ pháp
(Grammar school) ở quê nhà. Năm 14 tuổi, vì gia đình sa sút, cha mất chức, Shakespeare
phải bỏ học. Năm 18 tuổi, ông kết hôn với người phụ nữ 26 tuổi Anne Hathaway. Họ có 3
đứa con, hai gái một trai nhưng cậu con trai bị ốm chết năm 11 tuổi. Sự mất mát này có tác
động rất lớn đến cuộc đời và sáng tác của Shakespeare. Năm 1588, Shakespeare rời xa quê
hương và vợ con, một mình đến London lập nghiệp. Đầu tiên, ông làm chân giữ ngựa, nhắc
vở rồi làm diễn viên ở một rạp kịch. Sau đó, từ chỗ cải biên lại các vở kịch cũ, soạn chung
với các tác giả khác một vài vở mới, ông đi đến sáng tác một mình cả kịch, thơ sonnet và
các trường ca, từng bước vươn lên chiếm lĩnh ngôi chủ soái kịch trường và thi đàn dân tộc.
Các nhà nghiên cứu thường chia cuộc đời sáng tác của Shakespeare thành 4 giai đoạn: giai
đoạn tập sự thử sức (từ 1590 - 1594); giai đoạn bùng nổ tài năng với cảm hứng chủ đạo là
lạc quan, yêu đời (1594 - 1600); giai đoạn sáng tác những tác phẩm hiện thực với cảm hứng
phê phán, phô bày mặt đen tối, sự khủng hoảng của xã hội (1601 - 1608); giai đoạn trở lại
với những tác phẩm nhẹ nhàng, kết thúc có hậu (1609 - 1613). Ông qua đời ngày 23.4.1616
tại quê nhà, để lại một sự nghiệp đồ sộ với hơn 40 vở kịch (bao gồm cả kịch lịch sử, bi kịch
và hài kịch), 5 trường ca (A Lover’s Complaint, The Passionate Pilgrim, The Phoenix and

Airlen và Xcotlen của Holinshed… có thể thấy điều cơ bản làm nên thành công của
Shakespeare chính là một nghị lực phi thường, một niềm đam mê nghệ thuật cháy bỏng và
một tinh thần lao động hiếm thấy. Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn còn tranh cãi rất
nhiều về Shakespeare, họ không thể giải thích được tại sao một con người sinh ra trong một
gia đình bình thường, kết thúc sự nghiệp học hành tại nhà trường ở tuổi 14, khởi nghiệp
bằng chân giữ ngựa rồi nhắc vở tại một nhà hát lại có thể viết ra những tác phẩm làm thay
đổi sân khấu kịch của một đất nước, một thời đại cùng những vần thơ say đắm lòng người
bao thế hệ, lưu tên tuổi của mình đến muôn đời. Nhiều chi tiết về cuộc đời cũng như sự
nghiệp sáng tác của Shakespeare vẫn còn là một bí ẩn, chỉ có một điều chắc chắn là ông đã
sống hết mình và đón nhận luồng gió mát lành của thời đại Phục Hưng để viết nên những
tác phẩm bất hủ.


1.2.2. Thơ sonnet Shakespeare
Sonnet là một thể loại đặc biệt của thơ trữ tình phương Tây, xuất hiện vào thời trung
cổ ở Italia (nguyên gốc tiếng Italia “soneto” có nghĩa là bài hát nhỏ) và trở nên nổi tiếng bởi
sáng tác của Dante Alighieri (1265 - 1321) và Francesco Petrarch (1304 - 1374). Thể thơ
này nhanh chóng phổ biến tại Pháp, Tây Ban Nha và trở nên quen thuộc với công chúng vào
cuối thời Phục Hưng. Tại Anh, Petrarch là nhà thơ Ý có ảnh hưởng lớn hơn cả với những
bài thơ tình yêu say đắm đầy ngưỡng mộ dành cho một người phụ nữ xinh đẹp, trinh bạch
và kiêu kì. Thomas Wyatt (1503 – 1542) và Henry Howard, Earl of Surrey (1517 - 1547) là
các nhà thơ Anh đầu tiên viết sonnet. Mặc dù nhiều bài còn mang tính chất phỏng dịch các
bài thơ của Petrarch và phần lớn học theo mô thức có sẵn, ở một mức độ nào đó, họ đã từng
bước mở rộng đề tài cũng như cấu trúc sonnet, gợi ý cách chia khổ, hiệp vần của sonnet
Anh như ngày nay. Tác phẩm của họ được tập hợp trong cuốn Songs and Sonnets (1557).
Tuy vậy, người khuấy động phong trào sáng tác sonnet tại Anh, cũng là người mà
Shakespeare chịu ảnh hưởng trực tiếp là Philip Sydney với tập Astrophel and Stella xuất
bản năm 1590.
Giống như thơ Đường luật, sonnet cũng là thể thơ có sự quy định rất chặt chẽ về số
câu, chữ, vần, nhịp và bố cục. Một bài sonnet thường có 14 câu. Thông thường người ta hay


b

The sweet, sad years, the melancholy years,

b

Those of my own life, who by turns had flung

a

A shadow across me. Straightway I was aware,

c

So weeping, how a mystic Shape did move

d

Behind me, and drew me backward by the hair;

c

And a voice said in mastery, while I strove,

e

“Guess now who holds thee?”
- “Death”, I said. But, there,


câu cuối (couplet) theo cách hiệp vần abab, cdcd, efef, gg trong đó tiêu điểm thường dồn
vào hai câu cuối. Ví dụ:
BEAUTY, SWEET LOVE
Johnson

12

Beauty, Sweet Love is like the morning dew

a

Whose short refresh upon the tender green

b

Cheers for atime, but still the sun doth show

a

And straight’s gone as it had never been

b

Soon doth it fade that makes the fairest flourish

c

Short is the glow of the blushing rose

d


g

Dẫn lại theo Nguyễn Xuân Thơm [73, tr.32 – 33]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status