BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hồng
THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
VÀ THƠ VƯƠNG DUY
DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Hồng
THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
VÀ THƠ VƯƠNG DUY
DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ THU YẾN
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.................................................................. 8
1.1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán........................................................................ 8
1.1.1. Thời đại ............................................................................................... 8
1.1.2. Cuộc đời ............................................................................................ 10
1.1.3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du .................................................................. 13
1.2. Vương Duy và thơ Vương Duy................................................................ 14
1.2.1. Thời đại ............................................................................................. 14
1.2.2. Con người.......................................................................................... 16
1.2.3. Sự nghiệp .......................................................................................... 18
1.3. Nguyên lí văn học so sánh ....................................................................... 19
1.3.1. Nguyên lí chung của văn học so sánh ............................................... 19
1.3.2. Cơ sở để so sánh Nguyễn Du và Vương Duy ................................... 21
Chương 2. NHỮNG ĐIỂM GẶP GỠ GIỮA THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN
DU VÀ THƠ VƯƠNG DUY............................................................. 25
2.1. Cảm hứng thế sự ...................................................................................... 25
2.1.1. Hiện thực xã hội ................................................................................ 25
2.1.2. Số phận con người............................................................................. 39
2.2. Cảm hứng cá nhân .................................................................................... 48
2.2.1. Tự thán .............................................................................................. 49
2.2.2. Nỗi sầu li biệt .................................................................................... 59
2.3. Cảm hứng về không gian ........................................................................ 66
2.3.1. Không gian lữ thứ ............................................................................. 66
nhận, ảnh hưởng và tiếp biến. Do đó văn học của mỗi quốc gia mang tính quốc tế,
nó vừa mang những nét chung của khu vực, của nhân loại lại đồng thời có những
tính chất riêng biệt đặc trưng cho văn học của mỗi dân tộc. Chính vì vậy việc so
sánh các tác giả khác nhau của những dân tộc khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu sâu
hơn, đánh giá toàn diện hơn thành quả nghệ thuật của mỗi người. Không chỉ vậy
qua so sánh chúng ta còn rút ra được bản chất, quy luật tồn tại, phát triển và sáng
tạo của văn học. Đồng thời cũng thấy được sự ảnh hưởng, tiếp nhận và tiếp biến
giữa những nền văn học khác nhau của từng khu vực, từng quốc gia khác nhau.
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là “tập đại thành” của nền văn
học trung đại nước ta, những tác phẩm ông để lại đã trở thành tài sản quý giá, mẫu
mực cho nền văn học cổ điển nước nhà. Vương Duy là nhà thơ nổi tiếng đời
Đường, ông được tôn vinh là Thi Phật, là nhà thơ xuất sắc của phái thơ Điền viên
sơn thủy cùng với Mạnh Hạo Nhiên. Cả hai nhà thơ tuy sống ở thời đại khác nhau
nhưng cùng dùng một ngôn ngữ (chữ Hán) và cùng thể thơ (Đường luật) để sáng
tác, đồng thời đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo cũng như Lão
giáo. Chính vì vậy giữa họ có những nét tương đồng và khác biệt nhất định và có
thể đối thoại, so sánh với nhau. Qua so sánh Nguyễn Du và Vương Duy giúp chúng
ta hiểu rõ nét đặc sắc của mỗi nhà thơ, để tôn vinh những bản sắc riêng ấy cũng
như đặc trưng của hai nền văn học Việt Nam – Trung Hoa.
Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc đã hình thành từ
lâu đời. Sở dĩ hình thành mối quan hệ trên phương diện văn học bởi vì trong lịch sử
dân tộc ta nhiều lần chịu sự xâm lăng cũng như đô hộ của Trung Hoa, nền văn hóa
Trung Hoa đã ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa Việt Nam, văn học cũng là một
loại hình văn hóa cho nên tất yếu cũng chịu ảnh hưởng và hình thành nên mối quan
hệ này. Trong thời kì trung đại, cùng với sự thống trị của nhà nước phong kiến, cả
2
hai đất nước đều bị chi phối và ảnh hưởng bởi các học thuyết, tôn giáo, triết học,
đạo đức như Nho, Phật, Lão… Tuy nhiên mỗi nhà thơ lại có một hoàn cảnh riêng,
dung “thiền thú”. Riêng tác giả Trần Thị Thu Hương trước đó đã nghiên cứu sâu về
cảnh giới nghệ thuật trong thơ Vương Duy với công trình Một số đặc trưng cảnh
giới nghệ thuật thơ Vương Duy.
Cùng hướng nghiên cứu đó chúng tôi cũng tìm thấy hai bài viết của tác giả
Đinh Vũ Thùy Trang và Võ Thị Minh Phụng về tư tưởng thiền trong thơ Vương
Duy. Đặc biệt là tác giả Võ Thị Minh Phụng đã tiến hành so sánh chất thiền trong
thơ Vương Duy và thơ Huyền Quang để thấy rõ sự “xa rời trần tục mà tu theo tinh
thần xuất thế của Phật giáo”. Ngoài ra còn phải kể đến công trình đặc biệt chuyên
sâu của Nguyễn Diệu Minh Chân Như so sánh chất “đạm” trong thơ tuyệt cú của
Vương Duy và wabi trong thơ Haiku của Basho. Như vậy, hầu hết các công trình
nghiên cứu về Vương Duy đều thiên về tìm hiểu chất “thiền” trong thơ ông. Còn lại
những đánh giá khác về thơ Vương Duy xuất hiện trong các sách lịch sử về văn học
Trung Quốc cùng với một vài nhà thơ khác thuộc thi phái Sơn thủy điền viên là
Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy nhưng cũng chỉ đề cập ngắn gọn về cuộc đời và
sự nghiệp văn học của Thi Phật như Văn học sử Trung Quốc quyển 1 của Dịch
Quân Tả (Huỳnh Minh Đức dịch), Văn học sử Trung Quốc do Đặng Thai Mai
dịch...
Còn về những công trình nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du, đã có những tác
giả trong các chuyên luận và bài viết của mình bàn luận, đánh giá về thơ chữ Hán
của Nguyễn Tiên Điền như Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Mai Quốc Liên, Nguyễn Huệ
Chi, Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thị Nương,…Các tác giả trên đã tiếp
cận thơ chữ Hán Nguyễn Du dưới những góc độ khác nhau.
Nguyễn Lộc cho rằng thơ chữ Hán Nguyễn Du thể hiện tâm sự của nhà thơ
trước cuộc đời; tác giả Lê Thu Yến khảo sát đặc điểm về nghệ thuật trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du; Nguyễn Huệ Chi lại đi sâu phân tích thế giới nhân vật đa dạng
trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du…
Chỉ có vài công trình nghiên cứu đi theo hướng văn học so sánh lấy Nguyễn
Du làm đối tượng chúng tôi tìm hiểu được là luận án Tiến sĩ của Hoàng Trọng
Quyền tiến hành so sánh Nguyễn Du và Đỗ Phủ trên phương diện tư tưởng nghệ
5
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là đối sánh thơ của Nguyễn Du và Vương
Duy dựa trên vấn đề cảm hứng trong sáng tác của cả hai nhà thơ. Để từ đó hiểu
thêm về Nguyễn Du trong góc nhìn so sánh với Vương Duy.
Chúng tôi tiến hành khảo sát ba tập thơ của Nguyễn Du với 250 bài và 170 bài
thơ của Vương Duy chủ yếu trong tuyển tập của Giản Chi (134 bài), trong Vương
Duy chân diện mục (Vũ Thế Ngọc) và các tuyển tập thơ Đường ở Việt Nam (36
bài).
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm
đặt sáng tác của hai nhà thơ trong thế đối sánh với nhau, so sánh và đối chiếu để rút
ra những điểm gặp gỡ cũng như sự khác biệt trong việc thể hiện cảm hứng sáng tác
mang tính bản chất, tính đặc thù riêng của mỗi tác giả, mỗi nền văn học. Qua so
sánh chúng tôi nhằm xác lập vị trí của hai nhà thơ trong hệ thống văn học cổ điển
mỗi nước.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp này chúng tôi tiến
hành phân tích, khảo sát những biểu hiện, những nét tương đồng của Tố Như và
Vương Duy.
Phương pháp lịch sử - xã hội: Mỗi một nhà thơ sống ở một thời đại khác nhau,
những yếu tố lịch sử, xã hội thời đại có tác động không nhỏ đến những sáng tác của
họ. Thông qua tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, thời đại, cũng như yếu tố văn hóa thời
đại sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện và lí giải được những đặc trưng
trong cảm hứng sáng tác của hai nhà thơ.
Phương pháp tiểu sử - thực chứng: phương pháp này nhằm giúp chúng tôi
dùng những cứ liệu lịch sử đã được xác thực để chứng minh, lí giải những ảnh
hưởng của chúng đối với sáng tác của hai nhà thơ.
Phương pháp hệ thống và thống kê: chúng tôi coi mỗi bài thơ của hai nhà thơ
là một yếu tố trong hệ thống toàn bộ sáng tác của họ, qua đó tiến hành khảo sát
hứng cá nhân và đặc biệt là cảm hứng về không gian.
Chương 3: Sự khác biệt giữa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Vương Duy
Trong chương này, chúng tôi cố gắng làm rõ sự khác biệt giữa thơ chữ Hán
Nguyễn Du và thơ Vương Duy. Sự khác biệt trong cách thể hiện tinh thần Phật giáo
7
và Đạo giáo; sự khác biệt trong cách cảm hứng về thiên nhiên, về con người; cảm
hứng về thời gian. Chính những dị biệt này đã tạo nên hai phong cách độc đáo của
mỗi người.
8
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán
1.1.1. Thời đại
Nguyễn Du sinh ra trong một thời đại có thể nói là hỗn loạn, rối ren.
Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX được coi là thời kì khủng hoảng sâu sắc
nhất của chế độ phong kiến, đồng thời đây cũng là thời kì diễn ra những sự kiện
lịch sử trọng đại.
Thứ nhất là sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến. Chiến tranh
giữa các phe phái bùng nổ mà tiêu biểu là cuộc đối đầu giữa họ Trịnh ở Đàng
Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Đàng Ngoài với cơ chế “Vua Lê chúa Trịnh” đã bức người dân vào tình thế
“một cổ hai tròng”, vua chúa, quan lại chỉ lo ăn chơi hưởng thụ hơn là việc cai trị
đất nước. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã dành khá nhiều trang viết để
lên án thực trạng sa đọa của quan lại, vua tôi nhà Nguyễn và bè lũ chúa Trịnh cũng
như tình cảnh thống khổ của người dân lúc ấy: “Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân
cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức
với đó là hạn hán, đói kém xảy ra, tiền kẽm không tiện lợi để lưu thông dẫn đến
buôn bán không thông. Người dân lại nổi dậy đòi quyền sống. Xã hội phong kiến
Việt Nam lúc này dường như đã đi vào con đường sụp đổ không thể cưỡng nổi.
Thứ hai là những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của các phong trào nông dân.
Xã hội phong kiến thối nát đã đẩy người dân vào tình cảnh thống khổ vô cùng,
không thể chịu nổi những áp bức đó, họ đã đứng lên đấu tranh.
Tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu
Cầu, Hoàng Công Chất…và thành công nhất là phong trào Tây Sơn do ba anh em
Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã đánh bại cả ba tập đoàn phong
kiến Lê – Trịnh – Nguyễn. Tiếc thay vị vua anh hùng, sáng suốt của phong trào
nông dân là Nguyễn Huệ lại ra đi một cách đột ngột khi tuổi đời còn trẻ. Người anh
hùng áo vải Quang Trung đã ra đi khi những cải cách thay đổi đất nước còn dang
dở. Từ sau khi ông mất nhân dân hai miền tiếp tục “oằn mình” chịu đựng những
cuộc chiến tranh.
10
Thời kì này chiến tranh diễn ra liên tục, hầu như năm nào cũng có những cuộc
đụng độ giữa các triều đại, các phe phái xảy ra, tầng lớp thống khổ nhất không ai
khác ngoài nhân dân lao động.
Sau khi triều đại Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh xây dựng triều Nguyễn. Dưới
sự cai trị khắc nghiệt theo Nho giáo chính thống của nhà Nguyễn, cuộc sống của
người dân dưới chính sách thuế khóa, lao dịch nặng nề hơn thời trước đầy cơ khổ,
lầm than. Chính vì vậy những cuộc khởi nghĩa nông dân tiếp tục nổ ra khiến giai
cấp thống trị hoảng sợ, khủng hoảng trầm trọng.
Nói chung đó là “những cuộc bể dâu”, những “phen thay đổi sơn hà”.
Như vậy, Nguyễn Du đã sống qua ba triều đại lần lượt là: Lê – Trịnh, Tây
Sơn, và Nguyễn. Ông đã chứng kiến tất cả những cuộc binh biến tàn khốc của các
tập đoàn phong kiến cũng như những cuộc khởi nghĩa nông dân đòi quyền sống.
Nhà thơ không chỉ chứng kiến mà còn trải nghiệm những nỗi cơ khổ của người
với văn chương, với nghiệp bút nghiên chăng?
Nguyễn Du sinh ra lúc gia đình còn có cuộc sống sung túc, êm đềm, song đến
năm nhà thơ mười tuổi thì cha mất, hai năm sau đó mẹ cũng mất. Lúc này Nguyễn
Du đến nương tựa tại nhà anh là Nguyễn Khản. Xuất thân từ một gia đình quyền
quý, tuổi thơ vàng son sống trong hạnh phúc ngắn ngủi của Nguyễn Du lại sớm kết
thúc, có lẽ lúc ấy cậu bé họ Nguyễn hụt hẫng biết bao.
Năm 1786, Nguyễn Khản mất, Nguyễn Quýnh (anh cùng cha khác mẹ của
Nguyễn Du) nổi lên chống Tây Sơn bị bắt và cũng bị giết, quân Tây Sơn đốt sạch
dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền. Lúc này Nguyễn Du cùng những anh em còn lại
cũng chia tay nhau mỗi người đi về một hướng khác nhau. Bản thân Nguyễn Du về
quê vợ ở Thái Bình. Sau khi người vợ họ Đoàn mất Nguyễn Du về lại quê nhà Hà
Tĩnh song nhà cửa đã bị quân Tây Sơn phá mất.
Nguyễn Du từng có ý định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng bị tướng
Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt giam. Song nhờ có anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn và
anh ruột là Nguyễn Nễ đang làm quan cho nhà Tây Sơn nên chỉ bị giam ba tháng
rồi được tha. Từ đó ông về ở hẳn ở Tiên Điền với những tâm sự nặng nề. Có lẽ
12
những năm gió bụi này đã để lại trong Nguyễn Du bao nỗi niềm giằng xé, đau đớn
với những điều bất đắc chí.
Nguyễn Du sống ở Hồng Lĩnh cho đến năm 1802, tình hình đất nước đổi thay.
Triều Tây Sơn từ sau khi Quang Trung mất đã không còn hưng thịnh nữa, và rồi
không lâu sau bị Nguyễn Ánh tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là
Gia Long. Nguyễn Ánh cho vời những cựu thần nhà Lê ra làm quan, trong đó có
Nguyễn Du.
Dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du làm quan được thăng chức rất nhanh, từ Tri
huyện Phù Dung lên Tri phủ Thường Tín, Đông các học sĩ ở Kinh đô, giám khảo
trường thi ở Hải Dương, Cai bạ ở Quảng Bình, rồi đến Cần Chánh điện học sĩ, rồi
được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, lại phong thành Hữu Tham Tri bộ Lễ.
thơ này mang nặng nỗi buồn cô đơn, ý thức thương cho bản thân mình, thân người,
và chính vì đang ở nơi đất khách, sống trong cảnh nương nhờ nên lời thơ đau đáu
một nỗi nhớ quê nặng trịch, đọc mà thấm thía đến tận xương tủy. Toàn tập thơ gồm
78 bài, chia làm ba mốc: “Mười năm gió bụi” có 27 bài, “Dưới chân núi Hồng
Lĩnh” có 31 bài, “Ra làm quan ở Bắc Hà” có 18 bài.
Nam trung tạp ngâm sáng tác trong khoảng thời gian 1805 – 1812, thời gian
Nguyễn Du làm quan ở kinh đô Huế và làm Cai bạ ở Quảng Bình. Tập thơ phản
ánh con đường làm quan của Nguyễn Du. Con người phải giữ mình để tránh va
chạm, tránh tị hiềm ghen ghét. Ông làm thơ trong thời gian này để nói lên nỗi buồn
thế thái nhân tình bên cạnh nỗi nhớ quê nhà và nỗi niềm thương thân. Toàn tập thơ
gồm 40 bài.
Bắc hành tạp lục gồm 132 bài thơ chữ Hán, sáng tác trong vòng một năm, từ
tháng 2 đến tháng chạp năm Quý Dậu (1813). Khi ông dẫn đầu một phái đoàn sứ bộ
sang Trung Quốc. Mở đầu tập thơ là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên
đường sang Trung Quốc. Cũng giống như hai tập thơ trên, những bài thơ trong Bắc
hành tạp lục cũng là thơ tâm sự. Tuy nhiên, Nguyễn Du có sự đổi mới, đã không
còn những bài thơ riêng về hoàn cảnh của mình nữa. Thơ ông đề cập đến hiện thực
cuộc sống của người dân Trung Hoa và ngâm vịnh về những di tích lịch sử, đồng
thời bày tỏ tình cảm với những danh nhân lịch sử nước bạn. Giọng điệu trong Bắc
hành tạp lục dường như đã bớt u sầu so với hai tập thơ trước.
14
Có thể khái quát về đề tài trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du như sau:
một là đề tài hiện thực cuộc sống của con người, bao gồm cả hiện thực cuộc sống
của chính nhà thơ; hai là đề tài thiên nhiên. Cũng như những nhà thơ trung đại
khác, Nguyễn Du cũng làm thơ về thiên nhiên khá nhiều. Ông đặc biệt viết nhiều
về thiên nhiên quê hương mình với tất cả những gì vốn có của nó, từ hiền hòa êm
dịu cho đến hoang dại, hiểm nguy. Không chỉ vậy, thiên nhiên cũng là đối tượng
hay gợi cho thi nhân những suy nghĩ sâu xa về cuộc đời, về thân phận. Ba là đề tài
dụng hai vị lương thần là Diêu Sùng và Tống Cảnh làm tể tướng. Nhờ đó kinh tế
dần phát triển, nông nghiệp đã phát minh ra máy cày tay và đồng xa. Nông nghiệp
được đề cao và quan tâm, đất nước nhờ đó mà ổn định, bước vào thời kì thịnh
vượng. Kinh đô Trường An đông đúc và phồn thịnh bậc nhất.
Bên cạnh đó, Đường Huyền Tông cũng trọng dụng tể tướng Trương Cửu Linh.
Nhà vua nghe theo chính sách cải cách quan lại của ông, đồng thời quan tâm đến
việc dùng người tài, lại yêu cầu các địa phương bồi dưỡng và tiến cử nho sĩ ưu tú
cho đất nước.
Tuy nhiên những năm cuối đời nhà thơ (755- 761) xã hội xảy ra biến loạn.
Mốc đánh dấu chính là sự kiện loạn An Sử (755). Loạn An Lộc Sơn nổ ra đã làm
cho xã hội nhà Đường rối loạn. An Lộc Sơn là tiết độ sứ người Hồ, nổi lên định
cướp ngôi nhà Đường. Đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi chạy vào đất
Thục. Tuy sau đó nhà Đường đã dẹp được loạn An Sử nhưng từ đây mâu thuẫn dân
tộc, giai cấp vẫn âm ỉ cháy, nhà Đường bắt đầu thời kì xuống dốc.
Tóm lại, trong 300 năm đời Đường, có thể lấy năm 755 – xảy ra loạn An Sử
làm mốc để đánh dấu hai thời kì khác nhau. 100 năm đầu là thời kì thịnh vượng. Từ
sau loạn An Sử là thời kì mà mâu thuẫn xã hội trở nên sâu sắc, triều đình hủ bại,
chiến tranh xảy ra liên miên, người dân bị đẩy vào cảnh điêu linh. Diễn biến lịch sử
này đã để lại dấu ấn trong thơ ca Đường.
Vương Duy sống trong cả hai thời kì khác nhau của lịch sử nhà Đường, từ thời
kì hưng thịnh đến khi bắt đầu loạn lạc. Tuy loạn lạc xảy ra vào những năm cuối đời
nhà thơ nhưng nó cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của ông.
16
Nhìn chung cuộc đời Vương Duy bình lặng hơn và nhà thơ ít trải qua nhiều
biến cố, thăng trầm lịch sử như Nguyễn Du. Điều này cũng là một nhân tố tạo nên
sự khác biệt giữa hai nhà thơ.
1.2.2. Con người
Vương Duy (701 – 761) tự là Ma Cật, người đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc
làm quan cho ngụy triều. Sau khi ngụy triều đổ, Vương Duy suýt bị tội nặng, may
nhờ có em trai là Vương Tấn đứng ra xin từ quan để chuộc tội, Vương Duy mới
được tha. Sau đó, ông tiếp tục ra làm quan thăng đến Thượng Thư Hữu Thừa.
Tất cả những biến cố trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến tầng lớp trí thức, nho sĩ
đương thời, Vương Duy cũng nằm trong số đó. Chính vì vậy mà những năm cuối
đời của Vương Duy, mỗi khi bãi triều nhà thơ thường ngồi lặng lẽ một mình đốt
hương, đọc kinh, niệm Phật.
Vương Duy sinh ra trong một xã hội mà nền giáo dục Nho giáo phát triển
mạnh mẽ. Chịu sự giáo dục đó, Vương Duy cũng dùi mài kinh sử và đi thi lấy công
danh. Cả cuộc đời Vương Duy là một vị quan luôn làm tròn trách nhiệm. Ngay cả
khi về ở ẩn tại Võng Xuyên, Vương Duy vẫn ngày ngày lên triều rồi sau đó lui về
dinh thự của mình vui với đạo.
Vương Duy có một người mẹ là tín đồ Phật giáo trong nhiều năm, ngay từ thuở
nhỏ ông đã sống trong không khí đượm mùi đạo. Tư tưởng của đạo Phật cũng từ đó
ngấm vào tâm hồn nhà thơ. Những bài thơ sơn thủy của thi nhân tinh tế, nhẹ nhàng
nhưng luôn hàm chứa ý vị Thiền sâu sắc. Đối với Lão giáo, Vương Duy cũng thấu
hiểu và yêu thích. Trong thơ mình ông nhắc đến tấm gương của những bậc cao
nhân Đạo giáo với một tấm lòng ngưỡng vọng, ông cũng vô số lần bày tỏ ý muốn
được ẩn cư nơi non xanh. Và nửa cuộc đời sau của mình Vương Duy đã thực hiện
trọn vẹn ý định ấy.
Như vậy, con người Vương Duy là sự thống nhất giữa ba tư tưởng Nho, Phật
và Đạo. Ông sống với trách nhiệm làm quan của một nhà Nho, vui với Phật và Đạo.
Trong thơ Vương Duy cũng biểu hiện rõ nét sự thống nhất ấy.
Năm 761, năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường Túc Tông (Lí Hanh),
Vương Duy qua đời, thọ 61 tuổi.
18
1.2.3. Sự nghiệp
Vương Duy (701 – 761), như vậy sự nghiệp sáng tác của ông nằm trọn trong
Với Vương Duy, để thể hiện triết lí Thiền tông cũng như đạt đến sự điêu luyện
của trạng thái giác ngộ thì ông chọn hình thức thơ nhỏ nhất về mặt dung lượng là
ngũ ngôn tuyệt cú chỉ với hai mươi chữ để chuyển tải một nội dung tư tưởng sâu
sắc. Thơ càng ngắn, càng ít chữ thì càng súc tích, từ đó tạo nên tính chất cô đọng,
hàm súc. Với dung lượng ít ỏi, thơ Vương Duy chú trọng gợi nhiều hơn tả, đọc
những bài thơ sơn thủy nhưng đậm chất Thiền và Đạo chúng ta phải nghiền ngẫm
thật lâu để có thể ngộ ra diệu ý trong đó. Đó chính là hiệu quả của “ý tại ngôn
ngoại” (ý ở ngoài lời), lời thì giản mà ý thì sâu.
Là một thi nhân, Vương Duy còn nổi tiếng với vai trò là một nhạc sư. Có lần
Kỳ Vương mời Vương Duy lại cung Cửu công chúa, em Kỳ Vương và Đường
Minh Hoàng, gẩy đàn chơi. Sau khi đánh đàn xong công chúa hỏi tên khúc nhạc là
gì, Vương thưa: “Uất luân bào”. Rồi hỏi do ai sáng tác, Vương thưa là của mình.
Đến lúc này công chúa mới sửng sốt nói: “Ta thường đánh khúc đàn này cho
Hoàng huynh nghe. Vẫn tưởng là sáng tác của bậc nhạc sư xa xưa, không ngờ nay
mới biết là của tiên sinh” [42, tr.25].
Ngoài sáng tác thơ ca Vương Duy còn tinh thông hội họa. Ông là gương mặt
tiêu biểu cho trường phái tranh sơn thủy của Trung Quốc, và đồng thời là người
sáng lập ra Nam Tông họa phái. Tài tử Tô Đông Pha khi nhận xét về Vương Duy
đã nói: “Vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa, quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu
thi.” (Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có họa, ngắm họa của Ma Cật, trong
họa có thơ.)
1.3. Nguyên lí văn học so sánh
1.3.1. Nguyên lí chung của văn học so sánh
Văn học so sánh hiện nay đã trở thành một bộ môn khá ổn định và có triển
vọng trong giới nghiên cứu văn học. Tuy vậy, không phải văn học nào cũng là văn
học so sánh, nó hoàn toàn khác với thao tác so sánh văn chương.
So sánh văn chương là một phương pháp nghiên cứu văn học có đối tượng bất
kì. Chúng ta có thể so sánh hai hay nhiều đoạn văn, đoạn thơ với nhau; hoặc có thể
so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia; tác giả này với tác giả khác; giai đoạn văn