M U
1. Lý do chn ti
1.1. Con ngi hnh lc trong th ch Hỏn Nguyn Du v th Nguyn Cụng
Tr u li nhng n tng sõu sc cho ngi c
Nguyn Du c gi l i thi ho dõn tc khụng ch bi ụng cú Truyn
Kiu m vỡ ụng cũn cú khi lng sỏng tỏc ch Hỏn s v giu ý ngha nhõn
vn. Nhà phê bình Mai Quốc Liên cũng đã nhận xét về văn học chữ Hán của
Nguyễn Du nh sau: Truyện Kiều là diễn âm do Nguyễn Du lỡ tay mà thành
kiệt tác. Còn Thơ chữ Hán mới đích thị là sáng tác nên xem nó là phát ngôn viên
chính thức của Nguyễn Du[]. ỳng vy, th ch Hỏn Nguyn Du, ng sau nhng
trang vit ta thy hỡnh nh Nguyn Du vi cừi lũng ờ tờ tỏi, vi cỏ tớnh rừ mn
mt; y l nhng suy ngh sõu xa ca nh th v con ngi, v xó hi, v nhng
hin tng lch s phong phỳ din ra trc mt ụng. Nhng bi th ch Hỏn ca
Nguyn Du u l nhng ti liu rt quớ chỳng ta tỡm hiu v bc ng gp
ghnh ca mt con ngi thng xuyờn mang hai mt mõu thun rừ rt trong th
gii quan, thng xuyờn cú nhng xung t y bi kch trong tõm hn. Tuy nhiờn,
nu nhng mt siờu hỡnh trong th gii quan Nguyn Du mun dt Nguyn Du n
ch buụng xuụi theo nh mnh, thỡ nhng mt lnh mnh trong tỡnh cm, t tng
ca nh ngh s li kộo Nguyn Du v vi cuc sng, giỳp ụng phỏt hin ra cỏi p
rc r ca to vt v con ngi, cng nh lm cho ụng thao thc khụng nguụi trc
mi ni thng kh ca qun chỳng, Th ch Hỏn Nguyn Du thc s l mt cỏch
Nguyn Du t vn trc tip v s phn ca mỡnh, gn lin vi vn mnh ca
thi i, ca qun chỳng.
Nguyn Cụng Tr cng l mt nh th ln ca dõn tc. Trỏi ngc vi
Nguyn Du, ụng l mt nh th hu ht sỏng tỏc bng ch Nụm v thiờn v th loi
hỏt núi. Nguyn Cụng Tr c xem l ụng hong hỏt núi, ụng cú cụng trong
vic nõng th loi hỏt núi thnh mt th th hon chnh, linh hot. Th ụng th hin
s khinh b v ngỏn ngm th thỏi. Chỏn chng vi chn quan trng nhng ụng
khụng chỏn i. ễng vn yờu i, l ngi chu chi, vi ụng cỏi gỡ cng cú th
đánh giá về con người tác giả song chúng ta vẫn phải khẳng định nó kết tinh nhiều
giá trị nhân cách, đạo đức, nghệ thuật cao đẹp và cũng chính điều đó làm cho
Nguyễn Công Trứ trở thành một hiện tượng văn học.
1.2. Hình ảnh con người hành lạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du so với thơ
Nguyễn Công Trứ chưa được nghiên cứu sâu
Tư tưởng hành lạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ đã
được một số nhà nghiên cứu và luận văn tìm hiểu nhưng chưa thực sự được nghiên
cứu sâu . Hơn nữa, chưa có đề tài nào so sánh con người hành lạc trong thơ của hai
ông với ông. Vì thế, đây vẫn thật sự là một đề tài rất mới. Nghiên cứu về đề tài này
sẽ tạo ra những phát hiện thú vị không chỉ về thơ văn mà còn là cả con người, cá
tính đặc biệt cuả hai ông. Chúng ta sẽ bất ngờ trước những điểm chung thú vị của
cả hai tác gia lớn của văn học trung đại. Từ đó, soi vào hiện tại để thấy sự nối tiếp
chủ nghĩa nhân văn từ trước tới nay, đồng thời suy nghĩ về một cách sống đẹp hơn,
người hơn trong cuộc sống hiện tại. Ngoài ra, đề tài này sẽ góp phần vào công việc
nghiên cứu thơ văn Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, bổ sung cho các mảng
nghiên cứu về hai nhà thơ lớn của dân tộc.
1.3. Việc nghiên cứu đề tài này có tác dụng bổ trợ cho việc giảng dạy Ngữ
văn ở THPT
Nguyn Du l tỏc gia ln c a vo ging dy trong chng trỡnh Ng vn
cỏc cp t lõu, nht l THPT, vic tỡm hiu Nguyn Du c coi l trng tõm ca
chng trỡnh lp 10. Trong chơng trình văn học trung học cơ sở có một số đoạn
trích của Truyện Kiều. Lên lớp 10, sách Ngữ văn lại có một số đoạn trích khác của
Truyện Kiều và một bài về tác giả Nguyễn Du, một bài thơ chữ Hán l Độc Tiểu
Thanh kí. Nh vậy, số lợng bài học về tác phẩm của Nguyễn Du là khá lớn. Th
Nguyn Cụng Tr cng c a vo ging dy lp 11 trong nh trng ph
thụng. Nh vy, vic đi sâu nghiên cứu đề tài Con ngi hành lạc trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du v th Nguyn Cụng Tr sẽ giúp cỏc giáo viên dạy văn hiểu sâu
hơn về cỏc tỏc gi trờn để từ đó có những bài dạy hp dn hơn.
k 19 (Nh xut bn Giỏo dc, H Ni, 1997) cú mt nhn xột v quan nim hnh
lc ca Nguyn Cụng Tr, con ngi ch c hnh lc khi ó hon thnh nhim
v, ch cú th thnh thi th tỳi ru bu khi n tang bng trang trng v tay reo;
Hnh lc l s ói ng, l phn thng cho nhng k anh hựng cho nhng ngi
hnh ng [ ].
H Nh Chi trong Vit Nam Thi vn trớch ging (Nh xut bn Vn hoỏ Thụng
tin, H Ni 2000) ỏ ỏnh giỏ v quan nim cu nhn hng lc trong th vn
Nguyn Cụng Tr nh sau: c Nguyn Cụng Tr thng ca tng cnh nhn ca
tng nhit tỡnh n ni ngi ta cú th xem c nh mt thi s ca cnh nhn ni
ting nht trong thi vn Vit Nam []. H nh chi cũn cho rng: Sau nhng gi
phút hăng hái hoạt động thì người nam nhi có quyền hưởng nhàn, sống an nhàn và
hưởng lạc. Nhàn theo quan niệm này có thể xem như các phần thưởng dành riêng
cho người đã hoạt động nhiều cho nghĩa vụ, nhàn ở đây chỉ là cái bổ túc cho hành
động” []. Và vì nhàn có tính cách hưởng thụ nên nhàn và hành lạc thường đi đôi
với nhau trong tư tưởng của Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Viết Ngoạn trong Nguyễn Công Trứ - tác gia, tác phẩm, giai thoại
(Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) cho rằng: tìm về
với đời sống thường nhật, vui với thiên nhiên có thể xem là một giải pháp tối ưu
cho sự hoàn thiện nhân cách. Hành lạc như là một sự đãi ngộ, là phần thưởng cho
những kẻ dày công đóng góp và cũng như bù lại tuổi đã già, quên đi thế sự [ ].
Nguyễn Viết Ngoạn còn nhận xét hành lạc ở Nguyễn Công Trứ thực chất là hết sức
nhân văn bởi nó tự khẳng địng mình, không phải bằng thứ đạo đức phong kiến giả
tạo giả tạo khuôn phép, ỡm ờ, lố bịch mà bằng cái tài và cái tình thực sự của con
người nơi trần thế, bằng cái khoái cảm thích chí rất tự nhiên [].
Tại Hội thảo khoa học năm 1994 bàn về Nguyễn Công Trứ, các nhà nghiên
cứu đã có nhiều bài phát biểu, những chuyên luận khác nhau và đã có một số bài
đánh giá về con người ông. Năm 1996, tất cả các bài này được tập hợp và in trong
cuốn sách Nguyễn Công Trứ - Con người, cuộc đời và thơ []. Trước hết phải kể đến
Tiếp đến phải kể đến công trình Thơ văn Nguyễn Công Trứ do các tác giả
Trương Chinh, Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách giới thiệu, hiệu đính, chú thích, xuất
bản năm 1958, được xem là tài liệu đáng tin cậy về Nguyễn Công Trứ từ trước đến
nay. Trong công trình này, tác giả đã lý giải sơ lược nguyên nhân dẫn Nguyễn Công
Trứ đến ca ngợi tư tưởng hành lạc. Nhiều tác giả cho rằng, Nguyễn Công Trứ là
một người vì nước vì dân, sự hưởng lạc trong ông chỉ là sự giải thoát bản thân
mình để tìm một thú vui ở một nơi nào đó, mà ông sợ nếu không bắt kịp nó sẽ tuột
mất.
Năm 2001, nhà xuất bản Thanh niên Hà Nội đã xuất bản ấn phẩm có giá trị
thiết thực về thơ Nguyễn Công Trứ -cuốn “Đến với thơ Nguyễn Công Trứ” do nhà
thơ Ngô Viết Dinh sưu tầm, biên soạn. Khi bàn về thơ Nguyễn Công Trứ, các tác
giả cũng dựa vào những nét chính trong cuộc đời ông để hiểu một cách toàn diện
hơn về văn nghiệp của ông. Đặc biệt là bài viết của Nguyễn Duy Diễm khi bàn mấy
đặc điểm thơ của Nguyễn Công Trứ”, tác giả đã khẳng định: thi ca Nguyễn Công
Trứ có hai màu sắc tương phản rõ rệt: điểm hào hùng tranh đấu và điểm tai hoạ,
phóng dật. Chính do ở điểm tài hoa, phóng dật này mà ông đã tạo được những câu
thơ có vẻ đẹp trác tuyệt, kỳ thú làm say mê lòng người. Còn trong bài “nghệ thuật
văn chương Nguyễn Công Trứ do hai tác giả Nguyễn Duy Diễm, Bằng Phong cho
rằng: “Để có thể nhận định được giá trị về nghệ thuật văn chương của cụ, chung ta
hãy tìm cách so sánh những ưu, khuyết điểm của cụ trong tác phẩm, về những
phương diện ý tưởng, bố cục lời văn. Ở trong cuốn này đã chỉ ra đầy đủ về những
phương diện được thể hiện trong thơ Nguyễn Công Trứ và đi đến kết luận:
“Nguyễn Công Trứ đá đạt được một vị trí khá cao trong nền văn học nước nhà”.
Trên đây chúng tôi điểm qua về các công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ chữ
Hán Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ. Ngoài ra, còn có hàng chục bài viết,
chuyên luận về thơ hai ông. Người ta đã tìm ra được những nét thống nhất trong sự
nghiệp của hai ông là “một sĩ phu phong kiến có lương tâm”, “một thi sĩ tài hoa”,
“một sự nghiệp văn chương có giá trị bậc nhất”, ông là một nhân cách lớn trong
chiu so sỏnh hai tỏc gi vi nhau tỡm ra nột chung, nột riờng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tôi đi sâu vào nghiên cứu con người hành lạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn
Du so với thơ Nguyễn Công Trứ để có cái nhìn khái quát về thơ của hai ông cũng
như tìm ra biểu hiện cụ thể của con người hành lạc và đối chiếu so sánh hai tác giả
với nhau để tìm ra nét chung, nét riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích miêu tả
5.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
5.3. Phương pháp tổng hợp
5.4. Phương pháp thống kê phân loại
6. Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về con người hành lạc trong thơ của hai tác giả
Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Kết quả nghiên cứu này có thể phần nào giúp
chúng ta nhìn nhận đúng hơn về con người của hai tác giả, nhất là Nguyễn Du. Việc
thực hiện đề tài này có giá trị về mặt lý luận và mặt thực tiễn, nhất là ứng dụng tốt
phục vụ quá trình giảng dạy học và nghiên cứu về hai tác giả. Hơn nữa, việc nghiên
cứu này còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu quan trọng cũng như gợi mở ra những
hướng đi mới trong tương lai ở những đề tài khoa học lớn hơn.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai
qua 3 chương:
Chương 1. Khái quát về hình ảnh con người hành lạc trong thơ trung đại
Chương 2. Con người hành lạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du so với Nguyễn
Công Trứ
Chương 3. Nghệ thuật thể hiện con người hành lạc trong thơ chữ Hán của
hoạt động tình dục, thú vui được chơi những trò chơi mới lạ….
Chúng tôi tán đồng với quan điểm thứ hai này. Bởi đây là một quan niệm khá đầy đủ toàn diện. Và theo
quan niệm này, chúng ta có thể thấy rằng, tư tưởng hành lạc ở một mức độ nhất định vẫn có mặt tích cực.
Bởi vì nó nói lên nhu cầu cơ bản, tự nhiên, thuộc bản năng của con người: Khi có tư tưởng hành lạc tức là khi
con người lên tiếng đòi quyền vốn có của mình. Tuy nhiên nếu sa đà vào hành lạc, đẩy tư tưởng hành lạc đến
mức cực đoan cùng thì khi đó tư tưởng này đã bộc lộ mặt tiêu cực, đáng phê phán.
2. Tư tưởng hành lạc của một số tác giả tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại
Một trong những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam là văn chương chưa trở thành một
ngành chuyên biệt mà nó còn gắn với thuật ngữ văn sử triết bất phân. Các nhà văn, nhà thơ trước hết là
nhà nho hoạt động chính trị phục vụ cho triều chính, cho đất nước. Mỗi tác giả đều mang trong mình
hoài bão cống hiến cho một xã hội thái bình, thịnh trị. Khi không thực hiện lý tưởng tốt đẹp đó của mình,
họ phản ứng lại với xã hội bằng nhiều cách khác nhau. Với những nhà nho quân sự như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm…con đường ẩn dật trở thành phương châm SSđể bảo toàn khí tiết quay về với cuộc
sống ẩn dật, họ đề cao cuộc sống nhàn tản, ca ngợi cuộc sống thanh bạch an bần lạc đạo còn với các nhà
nho tài tử như Nguyễn Du và đặc biệt là Nguyễn Công Trứ họ không chỉ tìm về cuộc sống an nhàn, vui
thú cùng thiên nhiên mà còn tìm đến thú vui hành lạc nữa. Trong chương một này chúng tôi sẽ đi vào
trình bày sự suất hiện mang tính quy luật tư tưởng hưởng lạc ở một số tác giả tiêu biểu trong văn học
Việt Nam trung đại như Nguyễn Traĩ, Nguyễn Bỉnh khiêm, Nguyễn Du, Dương Lâm, Dương Khuê…Qua đó
một mặt, làm rõ sự xuất hiện của tư tưởng hưởng lạc ở các tác giả là một hiện tượng phổ biến trong
chiều dài phát triển của lịch sử văn học Việt Nam trung đại. Mặt khác từ mối quan hệ đối sánh hai chiều
của nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện tư tưởng hưởng lạc giữa các tác giả tiêu biểu trước và sau
Nguyễn Công Trứ và các tác giả cùng thời với Nguyễn Công Trứ để làm rõ đặc trưng riêng biệt, tư tưởng
nổi bật trong nội dung hưởng lạc của thơ văn ông.
1.2.1. Nguyễn Trãi (1380 - 1442)
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi cống hiến sức mình làm nên
thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Khi đất nước hoà bình, Nguyễn Trãi có hoài bão giúp vua Lê Thái Tổ dựng
nghiệp, kiến thiết một đất nước thịnh vượng trong đó “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Nhưng hoài bão
đó của Nguyễn Trãi không thực hiện được. Bởi chính lúc này, tư tưởng hoà bình hưởng lạc đã nảy nở
chim:
Bẻ cái trúc hòng phân suối
Quét con am để chừa mây
Trì tham nguyệt hiện chẳng buông cá
Rừng tiếc chim về ngại phát cây
(Thơ nôm: Mạn thuật,bài 26)
Về với Côn Sơn, tuy cuộc sống có phần thiếu thốn do phải: “cày lấy ruộng mà ăn, đào lấy ao mà
uống” nhưng bù lại bao nhiêu thảnh thơi, vui thú cho tinh thần:
Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Đàn cầm suối trong tai dõi
Còn một non xanh là cố nhân
(Bài 60)
Như vậy Nguyễn Trãi chán cảnh bon chen chốn quan trường:
Hai chứ công danh chẳng cảm cộc
Một trường ân oán những hầm hè.
Mà lui về ở ẩn. Nhưng chưa bao giờ tư tưởng nhàn tản của ông sa vào trụy lạc, sa vào hành lạc,
ngược lại ông luôn lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống. Và điều đáng nói ở đây nhất là ở Nguyễn Trãi thân
nhàn mà tâm không nhàn, dù vui với cuộc sống ẩn đật nhưng
Bụi một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuộn nước triều dâng
(Thơ nôm: Thuật hứng,bài 5)
1.2.2. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 - 1583)
Nếu như ở Nguyễn Trãi, vẫn đề xuầt xử là một cuộc đấu tranh nội tâm, lâu dài, quyết liệt thì với
Nguyễn Bỉnh Khiêm đó không phải là nỗi băn khoăn lớn. Bởi ông hiểu được lẽ tự nhiên của xã hội, thấy
được quy luật tuần hoàn của mọi việc. Ông cho rằng, khi gặp thời thịnh thì người tài giỏi cần ra giúp
nước, giúp dân. Nhưng khi gặp thời loạn, thấy mình bất lực trước thời cuộc thì “độc thiện kì thân”, lánh
xa thời thế. Ý thức được thời thế thịnh suy, dưới triều mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thấy triều chính nổi
Rồi nhàn thì nhàn tiên vô sự
Ngâm ngợi cho nên cảnh hữu tình.
Đi cùng “nhàn”trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chữ “tiên”, “vô sự”, “lâng lâng”, “tự tại”. Ta thấy
“nhàn tiên vô sự” xét đến cùng là giữ trọn danh giá của mình trong thời loạn, là “lạc đạo vong bần” giữa
những phần tử gian xảo đua chen danh lợi “nhàn tiên, vô sự”là không để dục vọng xấu xa làm vẩn đục
tâm hồn, là khép danh lợi ồn ào phiền não lại, là tìm đến thiên nhiên như tìm đến một người bạn thân
thiết, đáng tin cậy của nhà thơ:
Trăng thanh gió mát là tương thức
Nc bic non xanh y c tri.
Nh vy, n Nguyn Bnh Khiờm, ch trng xut th cng ch dn n t tng cu nhn,
tỡm n cuc sng an bn lc o, vui thỳ cựng thiờn nhiờn di dng tinh thn, ch nú cha t
n nh iờm ca hnh lc, lc thỳ.
1.2.4 Một số tác giả thuộc khuynh hớng văn học hởng lạc thoát ly cuối thế
kỉ XIX
Vào cuối thế kỉ XIX, lịch sử xã hội Việt Nam rất phức tạp.Từ đó các tầng lớp
trong xã hội đơng thời có những thái độ về các vấn đễ xã hội khác nhau.Vì thế văn
học cũng hình thành nhiều khuynh hớng không giống nhau trong đó có khuynh hớng văn học thoát ly hởng lạc với các đại biểu nh :Dơng Lâm, Dơng khuê, Chu
Mạnh Trinh, Trần Lê Kỉ.Đây là những nhà thơ có hoàn cảnh xuất thân từ tầng lớp
quý tộc suy tàn trong hoàn cảnh mới khi thực dân Pháp đặt ách thống trị nớc ta, họ
không đủ can đảm đứng về phía nhân dân đấu tranh chống ách đô hộ. Ngợc lại họ
ra làm quan cho chúng , tuy nhiên với họ "ra làm quan chỉ để có đủ điều kiện thỏa
mãn cuộc sống hởng lạc cá nhân và sáng tác cũng chỉ là một cách để thỏa mãn
cuộc sống ấy. Cho nên tính chất hởng lạc là đặc điểm chủ yếu của khuynh hớng
văn học này"[604,7]. Đối với họ lý tởng trí quân trạch dân nh Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Trãi hay ý thức cao về chí nam nhi nh Nguyễn Công Trứ thật sự
xa lạ . Lý tởng nhà nho ở họ đã mất hết ý nghĩa mà ý nghĩa cuộc đời và thơ văn
chất vẫn là cái cá nhân bản năng tính dục đợc che đậy bằng cách kết hợp với các
thứ thú vui tao nhã . Sự đề cao một chiều ý thức này đã làm phai nhạt ý thức xã hội,
thậm chí quay lng với cuộc sống. Đó là một bớc lệch của ý thức cá nhân.
Nh vậy, t tởng hành lạc cha xuất hiện ở các tác giả trớc Nguyễn Du nh
Nguyên Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Họ mới chỉ tìm vào t tởng cầu nhàn, vui với
cuộc sống thanh bạch cùng thiên nhiên . Đến Nguyễn Du t tởng hành lạc bắt đầu
xuất hiện (chúng tôi sẽ lý giải điều này ở chơng sau) và thể hiện mạnh mẽ, có lúc
quá sa đà nh ở Nguyễn Công Trứ. Tính chất sa đà này đợc nâng lên mức độ tận
cùng trong thơ văn của một số tác giả thuộc khuynh hớng thoát ly hởng lạc cuối thế
kỉ XIX.
Chng 2
NI DUNG HNH LC TRONG TH NGUYN CễNG TR
Nguyn Du (1766 - 1820)
Nguyên nhân dẫn đến t tởng hành lạc trong Thơ chữ Hán Nguyễn
Du.
T tởng nghệ thuật của một nhà văn nhà thơ không phải là một hiện tợng tiên
nghiệm. Qua những nếm trải của cuộc đời và va chạm với thực tế xã hội, t tởng
nghệ thuật của họ mới hình thành. Chính vì vậy, có thể lý giải đựoc vì sao nhà văn
này, nhà thơ nọ lại có t tởng nh thế, tâm hồn nh thế, cá tính nh thế. Đi vào lý giải
điều này thực chất là tìm ra nguồn gốc phát sinh t tởng nghệ thuật. Nguyên nhân
dẫn đến t tởng hành lạc trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du bao gồm nguyên nhân
khách quan và nguyên nhân chủ quan .
2.3.1. Nguyên nhân khách quan.
Đi vào tìm hiểu nguyên nhân khách quan thực chất là lý giải sự tác động của
yếu tố xã hội , kinh tế, văn học tới t tởng Nguyễn Du.
2.3.2.1. Có thể nói rằng, phần lớn cuộc đời Nguyễn Du sống trong nghèo khổ
và trải qua biết bao thăng trầm . Chính điều này cũng một phần dẫn đến t tởng hành
lạc trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du .
Nguyễn Du lúc còn nhỏ tổi sống trong một gia đình đại quý tộc của một dòng
họ nổi tiếng làm quan và thơ văn. Cha Nguyễn Du từng làm quan đến chức Thợng
th bộ hộ, anh (cùng cha khác mẹ) Nguyễn Khản làm đến chức Tham tụng, hai ngời
rất giỏi thơ văn. Sau khi mồ côi cha mẹ Nguyễn Du ở với Nguyễn Khản là một ngời
mê hát ả đào nên trong nhà không lúc nào ngớt tiếng tơ tiếng trúc. Chính cái hào
hoa của gia đình quý tộc và khí chất đa tình của ngời anh đã ảnh hởng đến con ngời
Nguyễn Du để sau này trong Thơ chữ Hán ta bắt gặp một Nguyễn thi nhân thật
nhạy cảm, tinh tế trớc vẻ đẹp của những ngời ca kỹ.
Nhng Nguyễn Du sống trong cảnh màn lan trớng huệ không đợc bao
lâu.Sau khi Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh ông về quê vợ sống mời năm gió bụi và từ
đây cuộc sống của nhà thơ đầy khốn khó.Nhà thơ phải sống nay đầu sông , mai
cuối bể, ăn nhờ ở đậu, đau ốm liên miên nghèo không có thuốc đến nỗi cha đầy ba
muơi tuổi mà tóc đã bạc trắng:
-Tiêu bạch phát mộ phong xuy
(Tự thán)
(Tóc bạc bơ phờ bay trong gió chiều)
Trong Thơ chữ Hán, hình ảnh ngời thanh niên tóc bạc ấy xuất hiện với tần số
cao.Ta thấy Nguyễn Trãi cũng nói đến tóc bạc :
-Lỡng nhãn hôn hoa, đầu cánh bạch
Quyên ai hà dĩ đáp quân ân
(Thơ chữ Hán:Thứ Cúc Pha tặng thi)
(Hai mắt đã hoa đầu lại bạc
Mảy may cha báo đáp ơn vua)
Nhng tóc bạc của Nguyễn Trãi là vì lo cho dân cho nớc, còn Nguyễn Du mái
tóc bạc bởi bệnh nhng nghèo không có thuốc. Thế mới thật đáng thơng.