Thơ chữ hán nguyễn du và thơ sonnet shakespeare từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
--------------------------

Nguyễn Thị Minh

THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ
SONNET SHAKESPEARE TỪ GĨC NHÌN
KÝ HIỆU HỌC VĂN HĨA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam)


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
--------------------------

Nguyễn Thị Minh

THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ SONNET
SHAKESPEARE TỪ GĨC NHÌN KÝ HIỆU HỌC
VĂN HĨA
Chun ngành: Ngơn ngữ và văn hóa Việt Nam
Mã số: 62 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Chuyên ngành : Ngơn ngữ và văn hóa Việt Nam )

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ THU YẾN

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: KÝ HIỆU HỌC VĂN HĨA VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ
THỂ TÍNH TRONG VĂN HỌC THUỘC TRÀO LƯU NHÂN VĂN CHỦ
NGHĨA ......................................................................................................... 28
1.1. Ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa với việc nghiên cứu văn học ... 28
1.1.1. Ký hiệu học .................................................................................. 28
1.1.2. Ký hiệu học văn hóa .................................................................... 34
1.1.3. Nghiên cứu văn học từ kí hiệu học văn hóa - một vài định hướng
cơ bản ..................................................................................................... 50
1.2. Chủ thể tính trong văn học trào lưu nhân văn chủ nghĩa ................... 68
1.2.1. Khái niệm chủ thể tính................................................................. 68
1.2.2. Chủ nghĩa nhân văn cùng quan niệm về chủ thể thời Nguyễn Du
và Shakespeare....................................................................................... 74
CHƯƠNG 2: CHỦ THỂ NỘI QUAN: VẤN ĐỀ THÂN XÁC .................. 80
2.1. Ý thức về chữ thân ............................................................................. 80
2.1.1. Thân xác con người trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet
Shakespeare ........................................................................................... 80
2.1.2. Mối quan hệ giữa thân xác và tinh thần....................................... 87
2.2. Các kí hiệu của thân xác .................................................................... 99
2.2.1. Tóc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du ............................................. 99
2.2.2. Mắt trong thơ sonnet Shakespeare ............................................. 116
CHƯƠNG 3: CHỦ THỂ TƯƠNG CHIẾU: NHỮNG SỨC CĂNG TRONG
BẢN CHẤT NHỊ NGUYÊN CỦA CON NGƯỜI .................................... 131


3.1. Chủ thể trong quan hệ với cuộc đời ................................................. 131
3.1.1. Phân biệt “tôi” với “thiên hạ” .................................................... 131
3.1.2. Hướng về cuộc đời trần thế bằng tinh thần hoài nghi .............. 146
3.2. Chủ thể trong quan hệ với chính mình ........................................... 156

(eurocentrism hay Western-centrism) của phái Liên Xô, đang ngày càng phát
triển, hòa vào dòng chảy của nghiên cứu văn hóa. Đại diện tiêu biểu của
trường phái Liên Xơ là Konrad. Bằng các nghiên cứu của mình, ơng đã khẳng
định Phục Hưng là một hiện tượng mang tính tồn thế giới chứ khơng riêng gì
ở châu Âu. Mặc dù người viết khơng hồn tồn đứng về phía những người


2

cho rằng ở Việt Nam cũng có một thời kì Phục Hưng theo đúng nghĩa như
những gì đã diễn ra ở phương Tây thế kỉ 15-17, song có thể nói các phân tích
của Konrad đã tạo một tiền đề nhất định cho sự so sánh Nguyễn Du và
Shakespeare: con người sống trong điều kiện có sự xuất hiện của đơ thị ngay
trong lòng xã hội phong kiến, khi các giá trị văn hóa, tư tưởng cũ đang rạn nứt
và đổ vỡ, tiếng nói của họ dễ có những điểm chung đặc biệt với tư cách một
chủ thể.
1.2. Trong bối cảnh hiện tại, nghiên cứu văn học Việt Nam rất cần mở
rộng, hòa nhập với xu thế chung của thế giới. Trong đó, nghiên cứu văn học
từ kí hiệu học là một phương pháp nền tảng nhưng chưa thực sự được quan
tâm chú ý, chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu có hiệu quả. Vậy ký hiệu học
có thể đóng góp gì cho so sánh văn học? So sánh văn học từ ký hiệu học sẽ
thấy một vấn đề: các chất liệu âm thanh thì ngơn ngữ nào cũng có, nhưng việc
tổ chức các chất liệu ấy thì khác nhau. Các chất liệu tư tưởng, cảm xúc thì
cộng đồng nào cũng có, nhưng tổ chức chúng lại khác nhau. Cần phân biệt
giữa sự tương đồng trên bề mặt với sự tương đồng ở bề sâu. Chẳng hạn, sự
tương đồng về chủ đề trong sáng tác của một số tác giả trên thực tế lại có
nghĩa rất khác nhau theo ký hiệu học. Ngược lại, nhìn vấn đề ở bề sâu, người
ta đôi khi lại phát hiện ra những nét tương đồng mà nhìn trên bề mặt chẳng có
gì liên quan đến nhau. So sánh văn học từ góc nhìn ký hiệu học mở ra khả
năng nhìn vào bề sâu của các đối tượng mà thoạt tiên rất khác biệt. Do vậy, so

văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vơ tận về ý nghĩa.
Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã
đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc”* thì sự chênh
lệch này rõ ràng là một khiếm khuyết cần phải khắc phục. Về các nguyên
nhân dẫn đến thực tế này, chúng tôi sẽ bàn đến trong một bài viết khác, ở đây
*

Lời nói đầu của Mai Quốc Liên trong “Nguyễn Du tồn tập, tập 1 – Thơ chữ Hán, NXB Văn học, 1996,

trang 7”.


4

chỉ ghi nhận điều này trước khi đi vào cụ thể các nghiên cứu về thơ chữ Hán.
Để thuận tiện cho việc tìm hiểu, chúng tơi phân tài liệu về thơ chữ Hán
Nguyễn Du làm 2 dạng: dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác
Nguyễn Du nói chung hoặc nói về các vấn đề khác nhưng có đề cập đến thơ
chữ Hán; dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán làm đối tượng nghiên cứu chính.
Dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác Nguyễn Du nói
chung hoặc nói về các vấn đề khác nhưng có nhắc đến thơ chữ Hán
Về dạng tài liệu thứ nhất này, ý kiến đầu tiên có thể kể đến là của
Nguyễn Đăng Thục trong cuốn Thế giới thi ca Nguyễn Du. Tác giả đã gợi lại
khơng khí xã hội thời Lê mạt Nguyễn sơ qua các dẫn chứng lấy từ Hồng Lê
nhất thống chí, từ đó phân tích tâm hồn Nguyễn Du thể hiện qua các sáng tác
của ông. Khi nhắc đến thơ chữ Hán, tác giả chủ yếu gắn nó với tâm Thiền như
một biện pháp giải thốt của nhà thơ khỏi tình cảnh bế tắc. Đây cũng là một
cách tiếp cận khá lạ so với đương thời, và bằng các nhận định của mình,
Nguyễn Đăng Thục cũng phần nào hé lộ tư tưởng văn hóa trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du.

khứ cũng như đương thời”†. Ông nhấn mạnh tư tưởng “tài mệnh tương đố” ở
Nguyễn Du, xem xét các tác phẩm của Nguyễn Du như một quá trình dưới tác
động của hiện thực. Vấn đề có hay khơng nên dùng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện
thực” để gọi tên một xu hướng trong văn học trung đại còn gây nhiều tranh
luận, song tác giả cũng đã thể hiện một tinh thần làm việc nghiêm túc trong
thế đối thoại với những người nghiên cứu cùng thời và trước đó. Đây là một
điều đáng ghi nhận.
Trong cuốn Loại hình học tác giả văn học: Nhà Nho tài tử và văn hóa
Việt Nam, Trần Ngọc Vương xếp Nguyễn Du vào loại hình nhà Nho tài tử
cùng với Phạm Thái, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Tản
Đà… và lí giải sự xuất hiện của loại hình tác giả này trong một thời điểm đặc
biệt: cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX khi mọi thay đổi to lớn diễn ra trên
tất cả các phương diện: quan niệm văn học, tư tưởng thẩm mĩ, hệ thống chủ
*


Đỗ Đức Dục, tlđd, trang 104.
Đỗ Đức Dục, tlđd, trang 112.


6

đề đề tài, hình tượng văn học trung tâm, hệ thống thể loại, ngôn ngữ văn học.
Tác giả lấy Nguyễn Du (bên cạnh Cao Bá Quát) là điển hình tiêu biểu cho
kiểu “nhà nho coi văn chương (hiểu theo nghĩa sáng tác văn học) là sự
nghiệp chính của đời mình” (108 - 109). Ơng có cách phân tích cụ thể, thấu
đáo “Tuy làm quan đến bậc đại thần, Nguyễn Du vốn xuất chính bằng một
chức quan võ nhỏ. Ơng khơng có cái vinh quang đạt được bằng con đường
quen thuộc là đỗ đạt cao trong các kí thi, sự nghiệp cai trị, hoạn lộ cũng
khơng có thành tựu gì nổi bật. Không thấy ông trăn trở nhiều theo hướng

đàn ở Thăng Long… Cả mấy tập thơ chữ Hán của ông đều là tiếng khóc than
cho đời người bị phơi pha, tan nát, oan uổng”†. Các nhận định trên là những
gợi ý cho chúng tơi trong việc nghiên cứu Nguyễn Du từ góc nhìn văn hóa,
cần ln đặt nhà thơ trong dịng chảy của văn học dân tộc có tính đến các đặc
điểm riêng biệt của từng thời kì.
Trong một đề tài khá hiếm phân tích Nguyễn Du từ cái nhìn so sánh,
luận án tiến sĩ Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về
tư tưởng nghệ thuật, tác giả Hoàng Trọng Quyền đã so sánh Nguyễn Du –
Đỗ Phủ trên các phương diện quan niệm sáng tác, cảm quan hiện thực, tư
tưởng nhân văn, cảm hứng chủ đạo để thấy “hành trình tư tưởng thơ của các
tác giả là con đường tiến đến bản chất hiện thực (…). Trong diễn tiến tư
tưởng nghệ thuật của các nhà thơ, các yếu tố tích cực của Nho, Phật, Lão có
những ảnh hưởng nhất định nhưng chính hiện thực cuộc đời mới là yếu tố
đóng vai trị quyết định”‡. Tác giả cũng lí giải về những điểm tương đồng và
về tư tưởng nghệ thuật của hai nhà thơ lớn này, có phần là do ảnh hưởng của
Đỗ Phủ đến Nguyễn Du, phần do tương đồng về thời đại, hoàn cảnh sống
cũng như khí chất “đồng thanh tương ứng”, “đồng bệnh tương liên” giữa hai
người. Các dẫn chứng dùng để phân tích phần lớn là thơ chữ Hán, song
*



Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 188.
Trần Đình Sử (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB GD, trang 190.
Hoàng Trọng Quyền (2005), Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về tư tưởng nghệ

thuật, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm TPHCM, trang 201.


8

9

“Nguyễn Du và con đường hoạn lộ qua thơ chữ Hán”. Tác giả lần theo con
đường làm quan của Nguyễn Du để tìm hiểu tâm sự của nhà thơ về thời thế,
về bản thân, về phận người. Tất nhiên, ta cần phân biệt giữa con người đời
thực với nhân vật trữ tình trong thơ, với hình tượng tác giả - người kể. Song
các tư liệu trên cũng đã cung cấp nhiều cứ liệu quan trọng giúp khớp nối các
yếu tố tiểu sử giúp hiểu đúng, hiểu sâu hơn văn bản.
Dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán làm đối tượng nghiên cứu chính
Về dạng tài liệu thứ hai, chúng tơi lại chia ra các bài viết lẻ và các sách
chuyên luận. Về các bài viết, có thể kể đến: Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm
sự của nhà thơ của Nguyễn Lộc, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ
chữ Hán của Hoài Thanh, Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán của
Xuân Diệu, Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán của
Nguyễn Huệ Chi, Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán của Trương
Chính, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Du trong
những bài thơ chữ Hán của Đào Xuân Quý, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của
Mai Quốc Liên… Các bài viết đều đưa ra những nhận định khái quát về thơ
chữ Hán Nguyễn Du, khẳng định bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán là một
cứ liệu quan trọng nếu muốn thực sự đi sâu vào thế giới tâm hồn, thấu hiểu
những suy tư kín đáo của Nguyễn Du. Các tác giả đã phần nào chỉ ra, lí giải
thực chất cái gọi là “tâm sự hoài Lê” cùng thái độ chính trị phức tạp trong thơ
cụ Nguyễn Tiên Điền. Dù có khi bất đồng ở chỗ này chỗ khác, các ý kiến trên
thống nhất với nhau ở một điểm: khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo cùng
nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của thơ chữ Hán, xem đây như một kho báu còn
chưa được khai thác hết và vẫn hứa hẹn những điều bất ngờ.
Hai vấn đề đặc biệt được các tác giả quan tâm gồm thứ nhất là cái tơi
trữ tình của nhà thơ và thứ hai là các nhân vật được miêu tả trong thơ chữ
Hán. Cả hai đối tượng này lại được các nhà nghiên cứu soi chiếu trong mối


Nhiều tác giả (2011), Nguyễn Du tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, trang 177.
*



11

độ cảm hứng sáng tác, chỉ ra lịng thương mình, thương người thương đời của
nhà thơ. Đặc biệt, riêng tác phẩm “Độc Tiểu Thanh kí” được nhiều nhà nghiên
cứu đánh giá là một trong các bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du.
Đáng chú ý là đã có nhiều người khám phá vẻ đẹp ngôn từ, chữ nghĩa, thể loại
của bài thơ này và có nhiều nhận xét có giá trị.
Về các sách chuyên luận, có thể nói đến thời điểm hiện tại, cơng trình
cơng phu, chi tiết về các khía cạnh nghệ thuật thơ chữ Hán phải kể đến là luận
án tiến sĩ Ngữ Văn của Lê Thu Yến: Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán
Nguyễn Du. Trên cơ sở xử lí những vấn đề liên quan đến văn bản thơ, tác giả
xem xét thơ chữ Hán Nguyễn Du từ góc độ thi pháp trên các phương diện:
hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật, ngơn
ngữ. Tác giả, qua q trình khái qt nghệ thuật đã đi đến định danh các kiểu
hình tượng con người trong thơ Nguyễn Du theo những gì bộc lộ ra từ tâm
hồn họ: con người lãng mạn, con người lo âu, con người đau khổ; gọi tên các
kiểu thời gian: thời gian úa tàn, thời gian kí ức, thời gian khoảnh khắc; dựng
lại các mơ hình khơng gian: không gian nhỏ hẹp, không gian rộng lớn. Trong
phần ngôn ngữ, tác giả phân tích các kiểu câu, các loại từ được sử dụng trong
thơ chữ Hán để thấy nét riêng của Nguyễn Du.
Cơng trình gần đây nhất về thơ chữ Hán là cuốn Đọc và dịch thơ chữ
Hán của Thảo Nguyên. Bên cạnh các bài dịch thơ, tác giả cũng đưa ra một số
lời bình chú có phần nghiệp dư nhưng nếu chú ý ta sẽ thu được một vài suy
ngẫm thú vị.
Như vậy, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du có thể

Shakespeare do vậy càng hiếm hơn nữa. Tài liệu sớm nhất mà chúng tơi tìm
được là cuốn Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh của tác giả Đỗ Khánh
Hoan – Trưởng ban văn hóa Anh – Mĩ Đại học Văn khoa Sài Gòn, xuất bản
lần đầu năm 1971, được sửa chữa và in lần thứ hai năm 1974. Trong cuốn
*

Tuyển tập Shakespeare in năm 2006 cũng chỉ có kịch.


13

sách này, tác giả đã phân tích q trình lịch sử của ngôn ngữ Anh, nêu lên một
cách khá đầy đủ các hình thức thi ca Anh, trong đó có sonnet mà ông gọi là
thể “thập tứ hàng thi”. Khi nhận xét sơ bộ tiến trình phát triển của thể sonnet,
ơng có nhiều nhận định đáng chú ý: “Thập tứ hàng thi (Anh) kiểu
Shakespeare và thập tứ hàng thi kiểu Milton là những biến đổi đầy tính cách
thí nghiệm đã được cơng nhận, bởi vì có nhiều bài thơ giá trị đã được sáng
tác theo khuôn khổ này; tuy nhiên, nếu khơng có Shakespeare và Milton chắc
uy tín của chúng chưa hẳn lộng lẫy như thế”*. Tác giả cũng khẳng định:
“Cũng như trong các kịch phẩm, qua tập thập tứ hàng thi gồm 154 bài,
Shakespeare tỏ ra hiểu cuộc đời, hiểu trái tim con người hơn ai hết. Thêm vào
đó ông đã sử dụng một thứ ngôn từ thật thi vị đơn giản nhưng trau chuốt.
Không kể 37 kịch phẩm bất hủ, riêng thi phẩm này đã đủ đưa Shakespeare lên
hàng thi hào của Anh quốc”†. Do giới hạn của một cuốn sách khái quát về
một đối tượng thuộc phạm vi rộng, tác giả không đưa ra dẫn chứng, cũng
không phân tích, song các nhận xét của ơng đã giúp chúng tơi rất nhiều trong
bước đầu tìm hiểu sonnet Shakespeare. Tài liệu thứ hai có thể kể đến là cuốn
W. Secxpia thơ xônê chọn lọc của dịch giả Thái Bá Tân. Tác giả đã chọn
dịch 77 bài sonnet tiêu biểu của Shakespeare kèm theo lời giới thiệu nhiều
tâm huyết. Trong phần này, Thái Bá Tân có giới thiệu sơ bộ về hình thức, bố

hoàn toàn chưa biết đến một Sêxpia khác cũng vĩ đại như Sêxpia kịch, đó là
Sêxpia thơ trữ tình. Ngun nhân thì nhiều, nhưng có lẽ ngun nhân cơ bản
nhất là ở chỗ dịch thơ xônê của Sêxpia rất khó, hầu như vượt ra ngồi khả
năng của người dịch, ngay cả những người dịch tài năng và kinh nghiệm.”†.
Có thể nói trong tình hình tư liệu tiếng Việt cịn ít ỏi, cuốn sách của Thái Bá
Tân cùng các bản dịch thơ của ông là một nỗ lực đáng quý đưa thơ sonnet đến
với độc giả Việt Nam.
Tài liệu bằng tiếng Anh
Đối với dạng tài liệu này, chúng tôi cũng chia thành hai dạng: các bài
viết lẻ đăng trên tạp chí và các sách chuyên khảo.
Về dạng tài liệu thứ nhất, chúng tôi thu thập từ hai nguồn: tạp chí
chuyên về Shakespeare của “Hiệp hội Shakespeare Anh” (the British
*


Thái Bá Tân (dịch) (1995), W. Sexpia – Thơ xônê chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội, trang 14-15.
Thái Bá Tân, tlđd, trang 17.


15

Shakespeare Association*) và tuyển tập phê bình sonnet Shakespeare qua các
thời đại do James Schiffer biên tập. Theo đó, các tác giả chú ý đến một số vấn
đề sau:
Một là trình tự sắp xếp các bài sonnet. Đây là nội dung chính trong bài
viết của Cathy Shrank đăng trên tạp chí Shakespeare tập 5, số 3 năm 2009.
Thơ sonnet Shakespeare lần đầu được xuất bản năm 1609 tại Luân Đôn dưới
tên là “SHAKE-SPEARES SONNETS”, bìa sách ghi “chưa từng được in trước
đó”, bên trong là 154 bài thơ theo trình tự từ sonnet 1 đến sonnet 154. Nhưng
vào năm 1640, John Benson xuất bản một cuốn sách dưới cái tên

đến mức người ta gọi đó là “nghiên cứu văn hóa Shakespeare”
(Shakespearean cultural studies).
Vấn đề thứ hai cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm là vấn đề
truyền thống trong các bài sonnet. Chữ “truyền thống” (tradition) ở đây bao
gồm cả truyền thống tư tưởng lẫn truyền thống văn chương. Sonnet
Shakespeare không tách rời thời đại Phục Hưng khi mà niềm tin vào thần
thánh, nhà thờ đang có nguy cơ đổ vỡ, các nhà tư tưởng, bên cạnh việc phục
hồi các giá trị của nền văn minh Hy Lạp, cũng đặt niềm tin sâu sắc vào con
người, vào tình yêu, vào tất cả những gì hiện hữu. Sonnet Shakespeare đồng
thời khơng tách rời hệ đề tài, lối biểu đạt của cội nguồn của nó – sonnet Ý
cùng các nhà sáng tác sonnet Anh đi trước. Chỉ có điều, đến ơng, tất cả đều
đạt độ kết tinh. Và đây là một yếu tố bộc lộ khía cạnh văn hóa trong sonnet
Shakespeare. Vì văn hóa là kí ức cộng đồng bao gồm cả ý thức và vô thức, tác
phẩm là một thông điệp dồn nén trong nó các trầm tích văn hóa. Cũng giống
như con người khơng thể sống tiếp mà khơng có q khứ, cái mới chỉ có thể
hình thành trên nền tảng của cái cũ.
Ngồi ra, các nhà nghiên cứu cịn chú ý đến một số vấn đề khác như
vần, nhịp, nhạc tính của thơ* cùng các nhân vật bí ẩn “a young man” và “a
sensual woman” là đối tượng mà Shakespeare muốn gửi gắm, nhắn nhủ trong
các bài thơ của mình. Đặc biệt, vấn đề được xem như hiện tượng văn hóa thời
*

Sonnet từ Ý vào anh đã có nhiều thay đổi về vần, nhịp, bố cục để thích nghi với ngôn ngữ và đôi

tai thẩm âm của người Anh, trong đó Shakespeare là người có cơng lớn tạo nên phong cách riêng của sonnet
Anh. Cho nên, ông không phải người đầu tiên viết sonnet theo kiểu Anh, nhưng sau này người ta vẫn gọi
sonnet Anh là sonnet kiểu Shakespeare để phân biệt với sonnet theo kiểu Ý.


17



18

các bản chép tay và bản in sonnet qua quá trình lịch sử, phần 5, 6 và phần 7
dành nói về ba chủ đề chính trong sonnet: các mơ hình của ham muốn, ý niệm
về bóng tối, kí ức trong sonnet. Các phần cịn lại nói về mối quan hệ của
sonnet Shakespeare với các vở kịch và trường ca khác của ơng. Việc nhóm
các tác giả với cách viết, quan điểm khác nhau theo cùng một chủ đề của
người biên tập đã giúp chúng tơi rất nhiều trong việc có được cái nhìn đa
chiều về các vấn đề trong sonnet. Trong Shakespeare’s Sonnets, Tiến sĩ
James K. Lowers thuộc Đại học Hawaii có đưa ra những kiến giải về các vấn
đề cơ bản nhất của sonnet Shakespeare: thời điểm sáng tác (date of
composition); trật tự và cách sắp xếp (order and arangement); các nghi vấn
mang tính tự truyện (question of autobiography) liên quan tới các nhân vật
“the fair young man”, “the dark lady”, “the rival poet”; các chủ đề nổi trội
(dominant themes) và tập hợp các bài phê bình hay của các nhà nghiên cứu.
Tác giả xem ba trong số các chủ đề nổi trội của sonnet Shakespeare là sự bất
tử qua thế hệ sau (immortality through offspring), sự bất tử qua thơ ca
(immortality through verse), sự bất tử qua tình u (immortality through
love).
Cơng trình nghiên cứu cơng phu và kĩ lưỡng về thơ sonnet Shakespeare
được nhiều người nhắc đến là của Giáo sư Đại học Harvard Helen Vendler:
The Art of Shakespeare’s Sonnets. Trong cuốn sách này, bằng việc diễn giải
chi tiết 154 bài sonnet của Shakespeare, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hình
tượng được ẩn giấu và đặc điểm phong cách các bài thơ, nêu lên được những
tầng nghĩa quan trọng trong mỗi dòng thơ cũng như cách các phần kết hợp với
nhau để tạo ra ý nghĩa. Trước khi đi vào từng bài thơ, tác giả cũng dành một
phần giới thiệu kĩ lưỡng về cấu trúc, giọng điệu của sonnet, về Shakespeare
như một người kể chuyện, một nhà thơ. Phương pháp của Helend Vendler khá

Vol. 74, No. 1 (Mar., 1998), pp. 81-103. Nguồn: https://www.jstor.org.

Trong bài viết, Shapiro cũng chú thích: sonorants bao gồm các âm mũi (được thể hiện bằng các chữ cái: m,
*

n, ng); âm nước ( được thể hiện bằng chữ cái r) và các âm lướt (được thể hiện bằng các chữ cái h, y, w); còn
obstruents bao gồm các phụ âm còn lại, là các phụ âm đúng nghĩa.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status