Tiểu thuyết của thuận và đoàn minh phượng từ góc nhìn phân tâm học - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỊ THANH PHƢƠNG

TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN VÀ
ĐOÀN MINH PHƢỢNG TỪ GÓC
NHÌN PHÂN TÂM HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƢ PHẠM NGỮ VĂN

ĐÀ NẴNG, NĂM 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN

TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN VÀ
ĐOÀN MINH PHƢỢNG TỪ GÓC
NHÌN PHÂN TÂM HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn:
TS. NGUYỄN THANH TRƢỜNG
Người thực hiện:
HOÀNG THỊ THANH PHƢƠNG

Khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: Tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh
Phượng từ góc nhìn phân tâm học là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS. Nguyễn Thanh Trường.
Mọi hình thức tham khảo từ các nguồn tài liệu đều được trích dẫn một cách cụ
thể, chi tiết và đảm bảo độ tin cậy.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công
trình này.
Đà Nẵng, ngày … tháng … năm …

Ngƣời thực hiện

Hoàng Thị Thanh Phƣơng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề.........................................................................................................1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................................4
5. Bố cục khóa luận.....................................................................................................4
NỘI DUNG.................................................................................................................. 5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG..............................................5
1.1. Khái quát về lí thuyết phê bình phân tâm học...................................................5
1.1.1. Phê bình phân tâm học - hệ thống lí thuyết “mở” phân tích chiều sâu tâm
lí.............................................................................................................................. 6
1.1.2. Tiếp nhận lí thuyết phê bình phân tâm học trong Văn học Việt Nam..........10
1.2. Ảnh hƣởng của phân tâm học trong tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986.......12
1.2.1. Bức tranh tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986............................................... 13
1.2.2. Vận dụng phân tâm học trong tiểu thuyết nữ Việt Nam sau 1986...............17

KẾT LUẬN................................................................................................................ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................ 67


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phê bình văn học vừa là một ngành khoa học, vừa là một hoạt động nghệ thuật. Ở
phương Tây, loại hình này đã có một bề dày lịch sử phát triển với nhiều xu hướng tiếp
nhận và vận dụng. Trong đó, có lí thuyết phân tâm học. Phân tâm học manh nha ở
phương Tây đã hơn một thế kỉ qua và có nhiều biến thiên theo từng giai đoạn khác
nhau. Ở Việt Nam, trong vài thập niên trở lại đây, phân tâm học mới được nghiên cứu
ứng dụng và đem lại nhiều đột phá mới cho lí luận. Dựa trên cạnh khía đó, đề tài này
dưới góc nhìn phân tâm học như một đường tiệm cận mới, giải quyết những siêu thể
văn học trong một giai thời cụ thể.
Văn học Việt Nam từ sau 1986 đã có nhiều đổi mới rõ rệt. Sự lột xác ấy khởi
nguồn và phát triển theo một quá trình huyết mạch và không ngắt quãng. Những đổi
thay của bối cảnh xã hội và tư tưởng đã hình thành nên nhiều hệ ý thức khác nhau.
Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngòi viết của các nhà văn/ tác giả sau này. Một nét
đậm ở bức tranh đó là sức sống mạnh mẽ của dòng văn Hải ngoại, trong đó có Đoàn
Ánh Thuận (Thuận) và Đoàn Minh Phượng .
Thuận và Đoàn Minh Phượng là hai cây bút trẻ nhưng đạt rất nhiều thành công
trên văn đàn và nghệ thuật. Hai nữ nhà văn hiện đang sinh sống và làm việc ở nước
ngoài, nhưng các tác phẩm luôn mang những tâm thức hướng về quê hương và cội
nguồn. Qua đó, tín hiệu của những dấu chỉ về thế giới nội tâm của con người với phức
cảm nghệ thuật được phát sáng. Không chỉ tác động trên tư tưởng, những chuyển di về
hình thức đến nội dung cũng có những dấu mốc mới lạ. Dựa trên quan hệ của lịch sử
và xã hội, cùng sự vận động của con người trong đó, đặc biệt là cách “mượn” ngôn từ
để phản ánh thực tại của nhà văn nữ, chúng tôi vận dụng lí luận để giải mã những lối
dẫn xúc cảm, khai phá thế giới nội tâm với đường ranh của nghệ thuật viết. Đó chính là
lí do tôi lựa chọn đề tài “Tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng từ góc nhìn

học và Ngôn ngữ) đã đi tìm những dư chấn hậu chiến từ thực tại của tác giả lẫn thế
giới tác phẩm tựa như một chấn thương chiến tranh “di căn”, “dòng văn học chấn
thương là sản phẩm của một thời đoạn lịch sử đầy biến động dữ dội. Dù không muốn
khơi lại “tro tàn quá khứ”, thì vẫn phải thừa nhận đó là sự xuất hiện hợp quy luật. Bởi
vì, lịch sử phát triển của một dân tộc, bên cạnh những chiến công, kỳ tích làm nên tầm
vóc và vị thế dân tộc, không thể tránh khỏi có những trang thương đau, đầy máu và
nước mắt. Dầu mới chỉ là những phân tích ban đầu, nhưng theo tôi, hoàn toàn có thể
tiên lượng văn học chấn thương ở Việt Nam chưa thể dừng lại, thậm chí, còn có xu
hướng phát triển mạnh hơn. Những vết thương từ quá khứ chưa chịu buông tha, vẫn
bướng bỉnh đeo bám và “di căn” thành nhiều dạng, tạo nên nhiều vấn đề nhức nhối,
2


bất ổn trong cuộc sống hiện tại” [18]. Những sang chấn ấy dội lại đời sống nội tâm
của con người những lạc điệu, trật nhịp và va nứt tinh thần nặng nề. Cảm thức đó bị đè
nén và chực vỡ bung giữa ranh giới bao bọc mỏng manh của tinh thần.
Những dấu ấn liên văn bản trong mô hình hóa thế giới trong bài viết Tiểu thuyết
Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại của Thái Phan Vàng Anh đăng trên
Văn nghệ Quân đội ngày 14/09/2010 như những bản lề xoay khép cho ngôn ngữ và thế
giới siêu mẫu bên trong nội tại con người. “Trong quá trình vận động và phát triển,
tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiện
đại: giải - khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đời
sống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái siêu nhiên huyền bí và đời thường; những
kiểu cấu trúc mới, mảnh vỡ, liên văn bản, gián cách; trò chơi cấu trúc, trò chơi ngôn
ngữ, bút pháp nhại, nghịch dị, huyền ảo…” [19] mà những ngòi bút mới đương đại
đang nhặt nhạnh và vá ghép mảnh vỡ như thế ấy.
Bên cạnh đó, trong Sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt
Nam đương đại của Nguyễn Thái Hoàng trên Tạp chí Cửa Việt số 249, tháng 6 năm
2015 có nhắc đến Thang máy Sài Gòn và một số tiểu thuyết của Thuận như sự “phi lí
đến tàn nhẫn, cô đơn là định mệnh không thể tránh khỏi của con người và hơn lúc nào

4.Phƣơng pháp nghiên cứu
-

Phương pháp thống kê phân loại

-

Phương pháp so sánh - đối chiếu

-

Phương pháp phân tích - tổng hợp

-

Phương pháp phân tâm học

5.Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết thúc và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được
triển khai gồm ba chương.
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương 2: Con người trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng tham
chiếu từ bản lược đồ phân tâm học
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh
Phượng nhìn từ lí thuyết phân tâm học

4


NỘI DUNG

trong khám phá chiều sâu tinh thần hữu thể. Ở bệ dự phóng này, phân
5


tâm học đã thực sự nảy nở và phát triển, trườn vào và nhập cuộc với nhiều lĩnh vực
khác. Mà hành trình sau đó có sự góp mặt nghiên cứu của Jung, Lacan... Từ đó trở
thành những tiền đề để phân tâm học thể hiện những chức năng đa chiều của ngành.
Trong văn học, có thể thấy sự nước đôi của ứng dụng phân tích với các mối liên hệ:
nghiên cứu tâm lí, phán đoán lâm sàng, giải thích nguyên căn, đồng nhất tác giả và bạn
đọc... bởi hệ thống thực tiễn và lý thuyết. Các công trình được dàn công xây dựng liên
quan lý thuyết vô thức, bản năng, cấu trúc nhân cách toàn diện đã dung nạp những dữ
kiện tâm lí, hoàn cảnh và động cơ ứng xử/ phản hồi để sự kiện được nhìn nhận đánh
giá có chiều sâu/ chiều rộng hơn. Như một phiên bản 3D, phê bình phân tâm học ra đời
mở ra một miền mới mẻ với các ứng dụng của nó để khai thác những mảng khuất của
văn học và nghệ thuật.
1.1.1. Phê bình phân tâm học - hệ thống lí thuyết “mở” phân tích chiều sâu
tâm lí
Phân tâm học với những dấu hiệu mới manh nha ra đời, đã phải đón nhận và trải
qua nhiều luồng dư luận trái chiều. Bản thân của sáng tạo nói chung hay phê bình nói
riêng, đều là quá trình lao động có ý thức. Tuy nhiên, phân tâm học đang đi ngược lại lấy căn nguyên, tiền đề của vô thức để giải quyết hầu hết mọi vấn đề. Do vậy, phê bình
phân tâm học có thời bị xem như một kẻ lạ mặt - bước vào ngưỡng cửa của văn đàn
chỉ toàn những người quen. Thế nhưng, với bản chất và đặc thù của nội tại, phê bình
phân tâm học mang những chìa khóa mới, hé mở những cánh cửa lạ. Chỉ khi thực
chạm ngõ đến, người thích đi ngang hay kẻ ưa khám phá cũng muốn bước qua ngưỡng
cửa ấy ít nhiều.
Nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ phân tâm học là đi từ những vô thức, lấn sâu
vào thế giới tâm lí - trước là của người sáng tạo, sau là nhân vật trong tác phẩm, thậm
chí là cả thị hiếu bạn đọc và xã hội đương thời. Mọi khâu bước đó đều đi theo mạch
phá vỡ lớp vỏ ngôn từ, mà sau đó là ẩn giấu những tri kiến của thẩm mĩ hay dụ ý nghệ
thuật. Nhà phê bình phân tâm học Pháp J. Lacan từng quan niệm rằng nhà phân tâm

Phê bình phân tâm học thường lần theo dấu vết thời thơ ấu của nhà văn, đi tìm
những “chấn thương tinh thần” mà nhà văn trải qua. Nhà phê bình tin rằng những chấn
thương tinh thần này có khả năng được tái hiện trong tác phẩm của nhà văn qua vô
thức như là một sự giải thoát các mặc cảm thời thơ ấu (mặc cảm Oedipe, mặc cảm
hoạn, mặc cảm bị ruồng bỏ…) của nhà văn. Đồng thời, chính những dấu ấn tác động từ
tiểu sử/ cuộc đời người sáng tác, phân tâm học dường như mở ra cánh cửa khám phá
những sự mượn/gửi/ hàm ẩn vô tình hay cố ý ngay trong tác phẩm. Trong không gian
của nghệ thuật, sáng tạo được tỏa sáng, bùng nổ hay thậm chí là vượt thoát khỏi những
giới hạn của hiện thực. Đôi khi, người nghệ sĩ lạc nhịp trong không gian ngưng đọng
và bức bối của tinh thần đó, những mơ tưởng hay huyễn ảo được nảy sinh. Sự kì vọng
7


đó đưa cá nhân/ tập thể hay một tâm thức của dân tộc/ thời đại đi tìm lại nguyên cội,
thực hiện một phép “thần thánh hóa” cho cuộc đời không nói được sự thật, mà gửi gắm
qua ngôn ngữ. Song song đó, con người không chỉ lưu giữ ký ức của cá nhân mà còn
có khả năng lưu giữ ký ức của tập thể. Đó là phát hiện của G. Jung - nhà phân tâm học
thế hệ hậu S. Freud. Những ranh giới của tâm thần này lần theo dấu vết của nơi cất dấu
kí ức để kiến giải được những biểu tượng về bản năng, cổ mẫu hay vô thức tập thể.
Các biểu tượng / cổ mẫu có liên hệ sâu xa với các tập tục, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa
của một tộc người, một cộng đồng dân cư, mang tâm thức cội nguồn. Lí thuyết này là
nền tảng cho mô hình khám phá nghệ thuật với kim chỉ nam “một tập hợp hỗn độn
nhiều màu sắc nhưng không có nhiều lí tính” [12; 135]. Chúng được lưu giữ từ thế hệ
này đến thế hệ khác qua nhiều hình thức vật chất và tâm thức của con người. Ở thế giới
tâm thức đó vẫn kết nối với cấu trúc thuộc - về - mọi - người. Nghĩa là ai cũng có.
Hành trình cá nhân hóa xuất hiện khi người nghệ sĩ sáng tác, định khối cho nhân vật/
đối tượng của mình. Tuy nhiên, sự cá nhân hóa ấy không nằm ngoài làn ranh của cổ
mẫu và bản năng, người quen của hệ thống vô thức. Nghệ sĩ là người nhạy cảm và vì
thế họ có khả năng lưu giữ vô thức tập thể một cách hệ thống. Chính G. Jung đã giúp
phê bình phân tâm học mở rộng phạm vi khảo sát và thoát khỏi những trường hợp bị ép

dụng có giá trị: trong quan hệ tình cảm, sáng tác văn học, điều tra hình sự…”
[23]. Do vậy, nhà phê bình phân tâm học có thể dựa vào sự hiểu biết về phân tâm học
của mình để đánh giá sự sáng tạo của nhà văn hoặc nắm bắt những ẩn số mà nhà văn
cất giấu. Tính dục trong lí thuyết phân tâm không chỉ quy chụp ở những gì liên quan
đến quan hệ với người khác giới. Đó còn bao gồm những khoái cảm, sự dễ chịu, thăng
hoa trong thỏa mãn. Đây được xem là nguồn gốc cho mọi xúc cảm đỉnh cao, bao gồm
cả tình yêu. Hệ thống lí thuyết này đặc biệt chú ý đến libido (khát dục) nhằm thỏa mãn
ham muốn trong dục vọng, cũng như bản năng sống và bản năng chết thỏa mãn cơ chế
giải phóng con người. Hơn nữa, nó bao hàm rất nhiều trạng thái tinh thần của mặc cảm
và khát vọng hướng tới, thúc đẩy con người đi tìm cân bằng, bù đắp nhưng thiếu hụt,
che đậy mặc cảm cá nhân. Với nghệ thuật, hành trình này đã tạo nên sự thăng hoa cho
sáng tạo. Cuộc chiến của ngôn ngữ với tính hình tượng, biểu tượng có lớp lang mang
nhiệm vụ chuyên chở, “che đậy” những xung đột tinh thần ấy. Dưới tiếp nhận và tri
kiến của nhà phê bình, quá trình khám phá diễn ra dưới ánh sáng văn minh và đưa ra
văn đàn, đón nhận nhiều dư luận - đồng thời là phép thử đúng sai của phân tâm học với
nghệ thuật.
Sau cùng, mỗi thực thể/ cá nhân luôn cần một xã hội và phải tồn tại trong xã hội.
Trong tập thể hay cộng đồng đó, con người bộc lộ với chính mình về nhân cách toàn
diện, thể hiện ở ba mặt: cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi. Cái ấy là lãnh địa chứa nguồn gốc
của ham muốn sinh học, không có lý trí và tính lôi cuốn. Đây là bản năng nguyên
9


thủy nhằm thỏa mãn tức thì, thỏa mãn bản năng và khoái cảm vốn cần. Cái tôi lại là kẻ
giáp ranh phía trên: ý thức, biểu hiện những hoạt động ý thức của con người. Tự ngã
phân biệt được chúng - mình, là kim chỉ nam cho nhân cách cá nhân với thế giới bên
ngoài. Vượt bậc hơn, cái tôi này luôn định hướng điều khiển cái ấy, xây dựng nên
những giới hạn nhất định - đây là một trong những đỉnh cao mà sáng tạo nghệ thuật đi
tìm kiếm. Trên cùng nữa chính là cái siêu tôi, tập hợp những thanh lọc và tinh hoa của
môi trường sống bên trong và bên ngoài con người. Cái siêu tôi chống lại cái ấy và

đoạn 1945-1975, nơi mà các phương pháp sáng tác và phê bình văn học được sử dụng
khá rộng rãi, thì phê bình phân tâm học cũng không chiếm một vị trí quan trọng.
Văn hóa Việt Nam cho đến thời điểm 1975 và có thể kéo dài hơn một thập niên
nữa về sau không phù hợp và cũng không cổ xúy cho việc “khoe” cái phần bản năng
của mỗi con người. Vì thế, trong khâu sáng tác, nhà văn thường kháng cự với bản năng
và vô thức. Sự kháng cự tự nhiên này chối bỏ một phần tiếp nhận của phân tâm học ở
bất cứ lối tư duy nào. Do vậy, một bộ phận phê bình văn học Việt Nam cho rằng vận
dụng phân tâm học là một sự khập khiễng.
Một số bộ phận phê bình văn chương xưa nay vẫn thường là suy diễn, hoặc áp
chiếu trên hệ lí thuyết tiểu sử, xã hội học... như một sự quen thuộc. Phê bình phân tâm
học dầu đã gia nhập một thời gian, nhưng chưa có cửa “tùy tục” bởi những định kiến
xã hội, lối cũ nên vẫn như một vị khách lạ. Đặc biệt, có giai đoạn sau 1960 trở đi có
những sự đứt gãy, mà nói như Bùi Mạnh Tiến thì “lịch sử văn học, do bị chi phối bởi
các điều kiện ngoài văn học, đã hoàn toàn không nhắc đến” [17; 149]. Sự đứt gãy ấy
sau này được chắp nối và có dấu hiệu cải tiến, đuổi kịp xu thế. Mà, một trong những
ngòi bút phức hợp tiêu biểu là Đỗ Lai Thúy. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy tiếp cận với
phân tâm học đã lâu, có nền tảng; nhưng thực sự đưa ra công trình/ tiểu luận thì được
đánh dấu bởi giai đoạn sau đứt gãy với Bút pháp của ham muốn, Hồ Xuân Hương Hoài niệm và phồn thực... và nhiều chuyên luận, biên tập - dịch thuật khác.
Nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ phân tâm học là đi tìm những mảnh vỡ
vô thức của nhà văn ẩn giấu dưới lớp vỏ ngôn từ mà hình thức cất giấu này ở mỗi nhà
văn thường không giống nhau. Do vậy, nhà phê bình buộc phải nối dài những kiến giải
và suy luận của các nhà phân tâm học. Trên thực tế, lịch sử Việt Nam đã tiếp cận lí
thuyết phương Tây sau gần nửa thế kỉ. Đồng thời, lại có những khoảng trống tư liệu
nên sự kế thừa hệ hình phê bình phân tâm học không liên tục. Kết quả là phê bình phân
tâm đôi khi rơi vào sự luẩn quẩn và lặp lại giữa các hình thức thể hiện của hiện đại và
hậu hiện đại.
Ngày nay ở Việt Nam, khi mà những rào cản chi phối đến sáng tác và phê bình
văn học được gỡ bỏ, thì phê bình phân tâm học có chỗ đứng trở lại trong khoa nghiên
cứu văn học. Phê bình phân tâm học hiện nay ở Việt Nam tồn tại dưới hai dạng: Thứ
nhất, nhà phê bình giả định tác phẩm của nhà văn là sự phóng chiếu những ham muốn

[16; 205]. Đây quả là một câu hỏi rất đời, rất thực. Đơn giản mà trả lời, thì anh cứ viết,
cứ thể hiện quan điểm của anh đi. Nếu người ta có chấp thuận, thì anh có thêm người
đồng hành, nếu phần lại là phản đối, là bổ xẻ, thì anh có thêm sự tương tác mà tìm ra
hướng đi mới. Nhưng để cụ thể hơn, sâu sát hơn, phải là viết ra sao?
Trước khi đặt vấn đề với tư tưởng, quan niệm nhà văn muốn gửi gắm, hẳn phải
xem lại ngòi bút của nhà văn ấy chuyển di ra sao. Có nghĩa, muốn thể hiện tư tưởng/
12


quan niệm/ cuộc đời thì cần lựa chọn sao cho thật khéo một kĩ thuật để mình gửi gắm.
Muốn thể hiện cuộc đời, phải xây dựng được một kĩ thuật tương xứng như thế. Điều đó
được thâu tóm trong câu nói của Sartre: Mọi kĩ thuật diễn tả đều đưa về một quan niệm
siêu hình của tác giả. Khi đó, mục đích của kĩ thuật là thứ sinh, là song song với
ý đồ của người cầm bút làm văn. Kĩ thuật và quan niệm được liên kết với nhau trên
một trục ý thức. Người sáng tác/ nhà văn, muốn viết, phải vận hành những cảm, những
trải nghiệm và tri thức của mình để nhào nặn ra đứa con thành phẩm. Khoanh vùng
hơn, hai bình diện ấy là tiền đề lẫn kết cấu để ở các thể loại văn chương. Đặc biệt là
tiểu thuyết. Nếu không ý thức được quan niệm và kĩ thuật xây dựng, tiểu thuyết trở
thành một con dao hai lưỡi, hoặc sắc bén gọt sâu lớp vỏ cuộc đời, hoặc trở ngược “ăn”
luôn phần “đời” - tư tưởng của người viết.
Tiểu thuyết ở Việt Nam trong độ gần thế kỉ trở lại đây đã có rất nhiều biến đổi mạnh
mẽ. Cú lột xác của thể loại này phản ánh sâu sắc sự nhạy thời, tiếp nhận văn đàn Đông Tây và ý thức bày tỏ, thể hiện cũng như đời sống hóa nghề viết của giới nghệ thuật.

Từ sau năm 1975, về phương diện sáng tác, văn học đã có sự chuyển mình. Đây
là giai đoạn “quán tính” của thời kì tiền đổi mới. Thời đoạn này, tiểu thuyết vẫn đang
vặn mình theo dòng chảy tự nhiên của lãng mạn, sử thi. Dầu đang trên đà tiếp nhận văn
học thế giới, chịu bão hòa và vô định bởi nhiều luồng dư luận, tiểu thuyết Việt Nam đã
ướm thử rất nhiều mẫu phục trang, sẵn sàng cho mình một tâm thế trước khi bước vào
Đổi mới từ sau 1986. Bức tranh sắc nét và mới lạ nhất, đồng thời là bộ phận có ảnh
hưởng bởi tư duy ứng dụng phân tâm học, hẳn không thể không nhắc đến hệ tiểu

vỏ vật chất trực tiếp của tư duy”. Bối cảnh xã hội đang vùng vẫy trong cách mạng,
trong cái đói nghèo, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa... Ngay khi miếng cơm chưa nuôi
vừa vặn cái bụng, triết lí cá nhân phó mặc trong tác phẩm văn học liệu chừng có thực ý
nghĩa và đáng để quan tâm.
Nhưng lại một lần nữa vận động theo quy tắc của lịch sử, tiểu thuyết Việt Nam,
cụ thể là tiểu thuyết nữ, đã vượt thoát, trườn lên tất thảy, định hình định khối và kịp gọi
cho mình một cái tên trước khi bước qua cơn hồng thủy của Đổi mới.
Vậy, diện mạo của tiểu thuyết nữ Việt Nam từ sau năm 1986 là như thế nào?
Diện mạo ấy trước nhất, là biến đổi của tư duy cá nhân và định kiến xã hội. Ăng ghen từng nói đại ý rằng, “sự giải phóng phụ nữ là thước đo của sự giải phóng xã hội.
Cho nên mỗi bước tiến lên của xã hội được ghi dấu bằng chính sự giải phóng sức sản
xuất tinh thần, trong đó có sáng tác của văn học nữ giới” [8; 137]. Tâm thế của người
phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ phương Đông luôn bị bó hẹp bởi những điều thường nhật,
tủm mủn, những thường tình đến khắt khe của lễ giáo phong kiến, đạo đức và chế độ...
Văn và đời, đời và văn xoắn luyến lấy nhau, còn người sáng tạo là kẻ ngoài cuộc quan
sát tất thảy. Do vậy, góc nhìn của giới là như nhau, chỉ khác ở tiếng nói được - phép 14


phát ngôn. Thậm chí, cần thừa nhận rằng, nữ giới sở hữu nhanh nhạy hơn về tâm lí và
cảm xúc bởi năng lực của tâm lí. Sự khác biệt được xem là hạn chế trong sáng tác văn
chương, ấy là chiều kích bao la của không gian và những xung đột phức tạp của xã hội.
Diện sống của nữ giới bị giới hạn bởi “quyền”. Cường quyền, nam quyền, thần quyền,
tôi quyền buộc phụ nữ xoay quanh đời sống gia đình. Đó là những mâu thuẫn nước đôi
của sáng tạo nghệ thuật ở nữ sĩ.
Do vậy, dầu có sự tiến bộ hay ưu việt, khuynh hướng chung cũng không được thể
hiện. Cho đến sau Cách mạng, sát kề Đổi mới, phụ nữ dần được bình quyền, hình
thành một dòng văn học của giới. Tương đối mà nhận xét, tư tưởng và độ cảm của nam
giới và nữ giới trong nghệ thuật là lý tưởng như nhau. Mặt khác, nữ giới rất đa dạng,
tinh tế với năng lực ngôn ngữ. Đặc trưng của tính giàu tình cảm đó vô hình trung bồi
đắp cho nghệ thuật một lớp phủ ấm áp, dịu dàng, trữ tình nhất định. Song song đó,
năng lực tưởng tượng được dự phóng mạnh mẽ: “Nhiều lúc tôi thoát khỏi bản thân

thời chiến. Tiếp cận với sau Đổi mới, có thể điểm qua những vườn ươm đầu với nghệ
thuật vị nghệ thuật với tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là một minh chứng, ...
Vượt thoát những rào cản của tư tưởng, những luật lệ tự tạo của định kiến, Thiên sứ đã
trả lại bản thể cho cái muốn nói và cái cần nói, khi mà bối cảnh Đổi mới chưa kịp câu
nệ giữa mối quan hệ chính trị và bình diện tri thức/ quyền lực. Tuy vấp nhiều rào cản
buổi đầu, nhưng phải thừa nhận rằng: “Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài
khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai. Những
viên chức văn hóa của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam
hiện tại, bà đã vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều
cấm kỵ của xã hội […] Mặc dù bị công kích trên diễn đàn công khai, Phạm Thị Hoài
chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểm chính trị. Thay vào đó, những kẻ phỉ
báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan quá đáng về Việt Nam, bà đã sỉ nhục “sứ
mệnh thiêng liêng của một nhà văn”, thậm chí bà còn viết “dung tục” nữa. Nhưng,
ngay cả những nhà phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có
con mắt u ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt
về nhịp điệu của tiếng Việt” [20]. Với không gian toàn cầu hóa, không có sự phân biệt
giữa tri nhận của tân thời phương Tây với cái nôi truyền thống nước nhà, mọi sự tiếp
nhận, hấp thụ đều bình đẳng. Thế nhưng, cùng sự thay đổi về quan niệm con người,
cũng kéo theo đó là sự thay đổi hình thức thể hiện ở các nhà văn. Sáng tác trong môi
trường đó, các nữ sĩ đã tự mở đường biên, tạo cơ hội bộc lộ tinh thần nữ quyền của
chính mình và của giới. Tâm thế trên văn đàn nói chung, và với tác phẩm - thể loại nói
riêng: chính là sự sáng tạo vượt thoát và tự chủ.
Với dòng tiểu thuyết nữ Hải ngoại, phải khách quan mà đánh giá với sự xác nhận
đặc biệt: Bởi đây là đại diện cho những con người di dân, những mảnh ghép của dân
16


tộc mang cảm thức lưu vong. Những con người xa quê hương ấy, hòa nhập/ hòa tan
trong ngôn ngữ mới mà tiếng quê có khả năng trở thành ngôn ngữ thứ hai. Với cảm
thức xa xứ, viết, sáng tạo vô hình trở thành hình thức cho họ lặp lại kí ức, hoài niệm và


nghĩa là thua kém. Hoàn toàn ngược lại, trừ một số mặt, còn nói chung tâm lý nữ giới
rất thích hợp cho sáng tác nghệ thuật, trong đó có văn học” [9; 255 - 256]. Tiểu thuyết
nữ sau 1986 trở đi chưa có một lí luận hay hệ quy chiếu chuẩn nào với ứng dụng nói
trên, nhưng có thể đánh giá và sắp xếp vào hai đặc trưng sau đây.
Thứ nhất, đó chính là tính tự thuật của nữ quyền.
Tiếp cận với tính tự thuật này, nôm na, cần có một cái đầu tỉnh táo. Bởi tính tự
thuật của nữ quyền của các nhà nghiên cứu lí luận, mà đặc biệt là ở Pháp và Đức đã có
nhiều tranh cãi, đấu tranh cũng như phân bua để tìm một lí lẽ phù hợp nghiên cứu. Ban
đầu, thuyết S. Frued, sau này là Jung hay Lacan quy chụp cao trào của tính nữ bởi
khiếm khuyết, thiếu hụt. Nữ quyền đã lên tiếng để tìm sự cân bằng, đồng pha cho
những quan niệm về người phụ nữ bị xem như thứ yếu, thứ lệ thuộc, hay kẻ chịu ơn
như kinh Cựu ước nhắc đến (người phụ nữ được sinh ra từ một chiếc xương sườn của
đàn ông)... Ở điểm này, phân tâm học đã bị lên tiếng phản đối vì cho rằng dục năng
của con người chi phối tất cả. Tuy nhiên, cái được thừa nhận ở đây phải là bóng tối của
bản ngã - những góc khuất của tâm lí và xúc cảm mà không nhìn thấy hay sờ nắm
được. Sự khác biệt về giới, không đơn thuần dừng lại ở những như cầu khác nhau của
bản năng tính dục hay khát khao, ham muốn... Đòn bẩy cho tiếng nói nữ quyền, bộc ra
những tính nữ ở đây chính là trong tự thân của bản thể. Như vậy, thấy được rằng tính
tự thuật sắp được nhắc đến tựa như một bản lề xoay khép giữa phân tâm học và thế
giới nghệ thuật thuộc về nữ giới.
Tính tự thuật là một đặc trưng của tâm lí. “Tự thuật không phải đặc tính riêng
của nữ giới, nhưng đây là nét ưu trội nhất làm nên “bản mặt” của văn phong nữ
giới... Đó là phương thức để nữ giới thể hiện sự nếm trải giới tính, vừa là mục đích để
giải phóng những kìm hãm của bản thân” [11; 138]. Bản thể con người luôn tự tạo ra
rất nhiều mặt nạ cho mình trong đời thực. Ở mỗi bối cảnh, tâm thức ấy chọn lấy một
kiểu dạng khác biệt để khuất lấp đi bản thể chân thực vốn có. Sự giả dạng ấy vô tình
đẩy con người đến một lỗ hổng không ánh sáng, mò mẫm và dựa dẫm. Do vậy, để an
toàn, là âm thầm bước đi hoặc rút lại, không bàn luận. Đôi khi, sự âm thầm và nén chặt
ấy tạo nên một khối mâu thuẫn, xung đột của chính cá nhân không được giải quyết.

Nói cụ thể hơn, lối viết nữ song bước cùng những dấu chỉ của phân tâm học đã
đồng dạng với bối cảnh, lộ trình và đặc điểm của tiểu thuyết nữ giai đoạn này. Như đã
đề cập ở trên, tiểu thuyết với góc nhìn thể loại được xem như quang cảnh và ý thức. Ở
quang cảnh, người viết/ nhân vật/ bạn đọc đều luân phiên “bị nhìn” [16; 225], sự luân
phiên này đa dạng hóa một tính tình, một tình cảnh để người viết/ bạn đọc đứng ngoài,
giữ một khoảng cách và thâu tóm nội dung của một lát cắt cuộc đời kéo dài một dạng
thức “truyện dài”. Ngược lại, ở ý thức, người viết/ bạn đọc chính là nhân vật, là
“nhìn” [16; 225]; tự quan sát, tự cảm cuộc đời “chung” của mình. Qua đó, bộc lộ rõ
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status