Tiểu tuyết trăm năm cô đơn của G.Marquez dưới góc nhìn phân tâm học - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG

TIỂU THUYẾT TRĂM NĂM CÔ ĐƠN CỦA
G.MARQUEZ DƢỚI GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
Mã số: 60220245

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Duy Hiệp

Hà Nội – 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU __________________________________________________ 3
1. Lý do chọn đề tài ________________________________________3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ________________________________4
1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ________________________12
3. Phƣơng pháp nghiên cứu _________________________________12
4. Đóng góp của luận văn __________________________________14
5. Cấu trúc đề tài _________________________________________14
CHƢƠNG 1. MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH ____15
1.1 Ucsula với nỗi sợ tội loạn luân___________________________ 15
1.1.1 Loạn luân và những giải thích cổ điển __________________16
1.1.2 Ucsula người phụ nữ luôn bị ám ảnh bởi tội loạn luân _____17
1.2. Hôsê Accađiô Buyênđya con ngƣời hai cá tính và giấc mơ về


Tiểu kết: ________________________________________________72
KẾT LUẬN _______________________________________________ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ___________________________________75

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lời giới thiệu đầu sách Trăm năm cô đơn, Nguyễn Trung Đức
từng viết: “Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn nhất
của Gabriel Garcia Marquez, nhà văn người Côlômbia người được giải
Nobel về văn học năm 1982. Trăm năm cô đơn ra đời năm 1967 đã gây dư
luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm mộ.
Theo số liệu của tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn được in bằng
tiếng Tây Ban Nha hơn nửa triệu bản, chưa kể hai lần in ở Cuba xã hội chủ
nghĩa (một lần hai vạn bản, lần sau tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin
phép tác giả được dịch tác phẩm này ra các thứ tiếng khác. Sau gần hai
mươi năm, Trăm năm cô đơn đã có mặt khắp nơi trên hành tinh chúng ta để
đến với mọi người và mọi nhà. Rõ ràng Trăm năm cô đơn là một cuốn sách
ăn khách mặc dù tác giả của nó không viết với mục đích câu khách.” (8,5)
Trăm năm cô đơn để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc bởi những
trang viết đầy trăn trở của Marquez, độc giả như bị cuốn sâu vào thế giới cô
đơn của con người, với vòng luẩn quẩn và ám ảnh quanh dòng họ bảy đời
đang bị lưu đày vào cõi cô đơn, sống lay lắt vào nỗi nhớ và không thôi trốn
chạy lo sợ về tội loạn luân. Chính sự hấp dẫn của những trang viết đầy trăn
trở này tôi chọn đề tài “Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Marquez
dƣới góc nhìn phân tâm học”.
Qua việc nghiên cứu này, tôi muốn tìm hiểu xem những ám ảnh của

hình hệ giới dưới hình thức làng Macondo); đề cập đến vấn đề thời gian
lịch sử và thời gian vòng tròn theo chu kỳ … Nhà nghiên cứu khẳng định:
cách kể chuyện của Marquez được xem như tiêu biểu cho chủ nghĩa huyền
ảo nhưng đây là một thứ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo theo phương thức
4


hài, lướt qua một cách thản nhiên giữa hiện thực và cái kỳ diệu để làm kinh
ngạc các nhân vật ngờ nghệch trong khi đương đầu với một thế giới mà họ
không hiểu thấu. Nhưng sự hài hước này lại đi kèm với một cảm giác trắc
ẩn, xót xa mà tác giả có vẻ như chia sẻ với các số phận nhân vật. Tuy chỉ
dành một phần để bàn về tác phẩm Trăm năm cô đơn nhưng công trình
nghiên cứu này đã gợi mở nhiều điều cho những người nghiên cứu về
Marquez. Đặc biệt ở khía cạnh các yếu tố huyền ảo, tính hài hước, yếu tố
thời gian, cách xây dựng cốt truyện, tuyến nhân vật … Cách đặt ngược vấn
đề: phải chăng tiểu thuyết là một ẩn dụ của sự thất bại của quá trình hiện
đại hóa? khiến cho người đọc phải suy ngẫm.
Đào Thị Thu Hằng trong bài viết Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm
Kawabata và Marquez trong cuốn Văn học so sánh – nghiên cứu và triển
vọng, Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh (tuyển chọn), NXB
ĐHSP, 2005. Tác giả đã so sánh chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng
tác của hai nhà văn nói trên và qua đó đã khám phá đặc sắc về không gian
và thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn.
Đỗ Xuân Hà trong bài viết Tiểu thuyết hiện thực huyền ảo: Trăm năm
cô đơn của Gabriel Garcia Marquez trong cuốn Văn học thế giới thể kỉ
XX, NXB ĐHQGHN, 2006. Trong bài viết này, Đỗ Xuân Hà thông qua
những nét tiêu biểu nhất về con người cũng như những sáng tác của
G.Marquez trong Trăm năm cô đơn trên các mặt nội dung và nghệ thuật và
chỉ ra phương pháp sáng tác trong Trăm năm cô đơn là chủ nghĩa huyền ảo
kết hợp với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo và các yếu tố hoang đường.

tính gợi mở cho những người quan tâm tìm hiểu về những nhà văn này.
Phần 2 của chuyên luận gồm 6 chương, được sắp xếp theo thứ tự:
Chương 1: Lịch sử Comonbia và hiện thực của Marquez
Chương 2: Những người thầy
Chương 3: Khát vọng trở thành người giỏi nhất thế giới
Chương 4: Tự sự nhiều điểm nhìn trong Cụ già với đôi cánh khổng lồ
6


Chương 5: Những cô gái điếm buồn của Marquez
Chương 6: Trăm năm cô đơn
Đóng góp của phần 2 này chủ yếu tập trung ở chương 4,5,6 những
chương 1,2,3 mang tính tổng thuật nhiều hơn là nghiên cứu. Trong giới hạn
của bài viết này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu chương 6. Trong chương này
tác giả chia làm 7 phần: 1. Câu chuyện một trăm năm, 2. Gia hệ Trăm năm
cô đơn, 3. Nhân vật, 4. Huyền thoại về cái cô đơn, 5. Macondo huyền thoại,
6. Trần thuật mê lộ - biên niên sử huyền thoại, 7. Ngọn sóng văn chương.
Trong 7 phần nêu trên thì phần 1,2,3 mang tính chất tóm tắt và giới thiệu,
có sự tương đồng với nhiều những tài liệu tham khảo trước đó. Sự dẫn nhập
này mang tính hướng dẫn ban đầu cho những ai mới tiếp xúc với văn bản,
khá bối rối với gia hệ phức hợp trong tác phẩm. 4 phần còn lại nhà nghiên
cứu đi sâu khảo sát về các huyền thoại, nghệ thuật trần thuật. Trong Huyền
thoại về cái cô đơn, Lê Huy Bắc có tiếng nói chung với những nhà nghiên
cứu trước đó, cho rằng nỗi cô đơn là chủ đề chính trong sáng tác của
Marquez, nó vừa là nỗi cô đơn bản thể vừa là sự cảnh báo để hướng đến sự
đoàn kết để mưu cầu hạnh phúc. Trong Trăm năm cô đơn người ta có thể
tìm thấy muôn vàn cấp độ, dạng hình cô đơn, từ Jose luôn cảm thấy ám ảnh
về tội lỗi trong quá khứ, những đam mê khoa học bất tận, Arcadio cô đơn
vì hôn nhân cận huyết, Aureliano Segundo cô đơn ngay trong sự giàu sang
bất tận của mình, Rebeca cô đơn vì thói quen lập dị không giống ai …

bị kết án Trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai
để tái sinh trên mặt đất này”. Trong bài viết này, Nguyễn Trung Đức đã đi
sâu tìm hiểu những bức thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm,
đặc biệt là qua số phận của nhân vật. Đó là một phương thức thâm nhập sâu
để tìm hiểu tư tưởng của nhà văn. Nhưng chúng tôi cho rằng ngoài những
điều nêu trên còn có một bức thông điệp khác quan trọng là sự dự báo. Một
dòng họ có thể bị tuyệt diệt, vùng đất huyền thoại có thể bị nhấn chìm, loài

8


người cũng có thể biến mất như chưa từng tồn tại nếu con người vẫn cứ xây
cất cho mình những tòa tháp cô đơn.
Phan Tuấn Anh có bài đăng trên Tạp chí Sông Hương 259/9-10 số ra
ngày 01/10/2010, tựa đề Hình tượng Macônđô trong Trăm năm cô đơn.
Trong bài viết này tác giả đã kiến giải về hình tượng Macondo – hình
tượng xuyên suốt nhiều sáng tác quan trọng của Marquez , từ vấn đề nguồn
cội tên gọi, tần suất đến ý nghĩa biểu trưng. Người viết đưa ra nhận xét khá
táo bạo: “Có thể nhận định rằng, nếu “nỗi cô đơn” là chủ đề lớn nhất mà
Marquez dành cả cuộc đời để theo đuổi, thì hình tượng trung tâm nhất, có
tính xuyên suốt các tác phẩm của nhà văn người Colombia lại không phải
là một nhân vật cụ thể, mà chính là hình tượng về vùng đất Macondo.”
Bằng sự đối chiếu với những cứ liệu lịch sử, văn hóa, Tuấn Anh đã chỉ ra
mối liên hệ mật thiết giữa sự phát triển của làng Macondo với tiến trình
phát triển của Châu Mỹ Latinh. Những cứ liệu này soi sáng và chứng minh
rõ hơn ý nghĩa biểu trưng của Macondo – xã hội Mỹ Latinh thu nhỏ.
Nghiên cứu về tác phẩm này còn có các đề tài nghiên cứu khoa học các
cấp, khóa luận, luận văn, tôi xin được điểm qua một số công trình: Khóa
luận tốt nghiệp Khảo sát tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong hai tiểu thuyết
Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả của Garcia Marquez của Nguyễn

“Tính dục trong Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez” đã đề cập đến các
vấn đề nhân vật đam mê tính dục; tính dục với đề tài loạn luân và vô thức
và nghệ thuật biểu hiện tính dục.
Một số bài nghiên cứu bằng tiếng Anh, tôi khảo cứu được như:
Gabriel Garcia Marquez do Harold Bloom (giáo sư khoa Nhân học
trường ĐHH Yale) hiệu đính và giới thiệu, NXB Chealsea. Đây là một
cuốn sách tập hợp nhiều bài nghiên cứu công phu về Marquez. Trong đó có
một số bài viết về tác phẩm Trăm năm cô đơn như: Gabriel Garcia
Marquez từ Aracata đến Macondo, Những sản phẩm khoa học của Jose

10


Acardio Buendia – con người đi tìm bản thể của Floyd Merrell, Trăm năm
cô đơn – huyền thoại và lịch sử của Roberto Gonzalez Echevarria …
Một cuốn sách khác khảo sát trên diện rộng về tác phẩm này là Trăm
năm cô đơn: những phương thức thâm nhập của Regina Janes, NXB
Twayne, 1991. Regina Janes đã cung cấp một phân tích toàn diện hấp dẫn
về Trăm năm cô đơn, bàn đến nhiều phương thức đọc, giải thích tác phẩm
này theo các phương cách khác nhau. Janes tiếp cận tác phẩm này qua bình
diện văn học và lịch sử, bình luận theo nhiều hướng: chính trị, tiểu sử học,
liên văn bản, từ góc độ của huyền thoại và hiện thực huyền ảo. Trong quá
trình đó, Janes cung cấp một cuộc khao sát có sức thuyết phục về tiểu
thuyết, và kết luận, “Nếu Garcia Marquez có bước đi riêng tạo ra huyền
thoại hiện đại, thì dường như đó là mong muốn giữ gìn, bồi dưỡng, nuôi
dưỡng ý thức của chúng ta về cõi không thực. Không chỉ thể giới thực mà
chúng ta đang sa lầy mà cả những cuốn sách chúng ta đọc cũng đang phủ
nhận chính chúng ta, một cách tạm thời, cần có một thế giới tốt hơn để có
thể xác tín được.”
Một công trình khác đã định hình rõ nét hơn về lí thuyết ứng dụng

Đề tài này được nghiên cứu trên phạm vi bản dịch tác phẩm Tiếng Việt
của dịch giả Nguyễn Trung Đức, tái bản lần thứ năm, NXB Văn học, 2004.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đảm bảo nghiên cứu tác phẩm trên bình diện sâu rộng tôi kết hợp
sử dụng các phương pháp khác nhau như: phê bình phân tâm học, phê bình
huyền thoại, nghiên cứu liên ngành kết hợp với các thao tác: đối chiếu, so
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê. Trong đó phương pháp chính là phân
tâm học
Thuật ngữ phân tâm học do Sigmund Freud đặt ra năm 1896. Thời
gian đầu, đó chỉ thuần túy là một khoa học và là một phương pháp trị bệnh,
sau ảnh hưởng lan rộng sang địa hạt văn học, trở thành một phương pháp
12


phê bình. Với tư cách là một phương pháp phê bình, phân tâm học xem tác
phẩm văn học như một thế giới huyễn tưởng phản ánh những ước muốn âm
thầm cũng như những dồn nén trong vô thức của tác giả. Xin lưu ý, với các
nhà phân tâm học, vô thức không phải là sự thiếu vắng ý thức mà là một
cõi riêng.
Sự khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn
đến sự ra đời của Phân tâm học. Một trường phái tâm lý học khách quan đi
sâu nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ
đạo của đời sống tâm lý người, là đối tượng thực sự của tâm lý học.
Người sáng lập ra Phân tâm học là S.Freud (1856 - 1939) bác sĩ thần
kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc, du học ở Áo,
Pháp, Đức … Ngay từ khi chữa chứng dồn nén và chứng thần kinh tương
khắc, Freud đã đi tới kết luận không chỉ riêng con bệnh mà cả những người
bình thường cũng mang trong mình những xung khắc tâm thần tương tự.
Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và kinh nghiệm thực hành khi điều
trị cho nhiều người bệnh ở Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân

ứng dụng phân tâm học, để khám phá ra những ám ảnh, những con người
trăn trở, trằn trọc, luẩn quẩn trong cái cô đơn của ngàn đời, sự bế tắc,
những ham muốn, nhục dục … những giấc mơ vừa thực vừa ảo.
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chƣơng 1. Macondo với những giấc mơ ám ảnh
Chƣơng 2. Nhân vật cô đơn bị ám ảnh tính dục
Chƣơng 3. Sự vô thức của tập thể

14


CHƢƠNG 1. MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH
Năm 1900. Freud công bố công trình Lý giải các giấc mơ. Việc phân
tích cặn kẽ các giấc mơ của người nào đó đã trải qua là một thành công của
ông, con đường đi đến làm rõ cái vô thức. Các giấc mơ đã tạo nên sự hấp
dẫn đặc biệt đối với Freud, bởi theo ông, có thể từ việc phân tích các giấc
mơ, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn cấu trúc tâm thần người, rõ hơn về cái
vô thức trong con người. Từ các ca lâm sàng trong chữa trị bệnh tâm thần,
ông đã đi đến kết luận: Các giấc mơ đều không xa lạ với người nằm mơ,
đều luôn khó hiểu với người đó. Các giấc mơ đều có một ý nghĩa nhất định
nào đó. Không những giấc mơ có một ý nghĩa mà ý nghĩa của giấc mơ là
nguyên nhân gây nên giấc mơ. Trong các giấc mơ có các “ý tưởng tiềm ẩn”
cần được khám phá. Nội dung biểu hiện của giấc mơ có thể thực hiện trá
hình những ham muốn bị dồn nén vào vùng vô thức. Bên cạnh đời sống
thực tại, các nhân vật của Marquez còn sống trong đời sống của những giấc
mộng. Giấc mơ là thuộc tính của tư duy thần thoại. Các nhà khoa học tin
rằng giấc mơ ẩn chứa nhiều điều thần bí nhưng liên quan nhất định đến đời
sống thực của con người, có sự liên thông giữa thế giới mộng ảo và đời
sống tâm lí cũng như quá trình nhận thức của con người thường nhật. Và

đình sẽ làm cho ham muốn mất đi.
Lý thuyết thứ hai coi những hậu quả sinh học là có thể có của sự tái
sinh sản giữa những người cùng dòng máu. Sự kết hợp giữa những người
thân thích ở con người, động vật và một số thực vật có thể có những hiệu
quả di truyền có hại theo hai kiểu: tăng dần số của những khuyết tật di
truyền và trong trường hợp lặn lại ở nhiều thế hệ, một hiện tượng “suy sụp
về dòng máu”, còn gọi là “thoái hóa”. Ở các nước phương Tây. Đó là lý do
thường được nêu ra. Trong các tín ngưỡng trên toàn thế giới, thường xảy ra
16


những sự sinh đẻ không bình thường được gán cho những tập quán loạn
luân đã biết rõ hay được giả định.
Cuối cùng, lý thuyết thứ ba dựa vào những lý do xã hội hay những
biểu tượng tập thể. Tiểu luận của Emile Durkheim công bố năm 1897 là
một ví dụ rõ ràng. Ông khẳng định tất cả các xã hội đều phải trải qua giai
đoạn thờ vật tổ. Thế nhưng, việc thờ vật tổ cũng chìm ngập trong nỗi khiếp
sợ máu vật tổ, mà vật tổ cũng lại thuộc nhóm họ hàng của người ta. Phạm
tội loạn luân là có nguy cơ tiếp xúc với máu vật tổ ấy. Do đó mà có sự cấm
kỵ thật sự về hành vi này. Ý tưởng của Durkheim là có hiệu quả: nó không
chỉ tính đến sự loạn luân sinh học mà đến cả những quy tắc riêng của mỗi
xã hội về cái bên trong và cái bên ngoài của nhóm cùng dòng máu. Nhưng
ý tưởng ấy không có chỗ dựa vững chắc: việc thờ vật tổ có lẽ không bao
giờ tồn tại dưới hình thức người ta gán cho nó, ít ra cũng không phải là một
giá trị phổ biến, và sự sợ máu không có lien quan tất yếu với những quan
hệ tính dục.
Theo từ điển Tiếng Việt: “loạn luân dùng để chỉ quan hệ nam nữ về
xác thịt với nhau giữa những người cùng máu mủ trái với phong tục tập
quán hoặc pháp luật.” (24,574) Dù trong bất cứ trường hợp nào, vô tình hay
cố ý thì hành động loạn luân vẫn không thể chấp nhận được và đáng lên án

chính vì điều này đã đẩy bà vào cảnh ngộ trớ trêu, luôn sống vô thức với
những ám ảnh quá khứ. Bà cố sống để căn dặn con cháu về cái nguy cơ
đáng sợ về đứa con có cái đuôi lợn. Nhưng rồi không trốn thoát khỏi mặc
cảm và bị cuốn sâu vào vực thẳm của sự cô đơn. Trong thế giới cô đơn và
hoài nhớ ấy những người trong dòng họ Buênđia đã phạm phải tội loạn
luân. Như vậy, có thể thấy vì sợ loạn luân nên cố chạy trốn, chạy trốn rồi
lại mắc vào đúng tội lỗi đó. Hình ảnh : “Một đứa con suốt đời mặc quần
rộng thùng thình và chết vì bệnh chảy máu khi đã sống một cuộc đời bốn
mươi hai tuổi xuân luôn là trai tân, bởi y sinh ra và lớn lên với cái đuôi
18


xoắn hình mở nút chai ở cuối có một túm lông” (8,49). Đây chính là sản
phẩm của bà cô Ucsula lấy ông chú Hose Accadio Buendia. Đó là tấm
gương tày kiếp mà mãi đến già bà vẫn không quên cảnh báo với con cháu
hãy mở to mắt mà nhận họ hàng.
Dựa vào sơ đồ phả hệ của dòng họ Buenđia, chúng ta có thể nhận thấy
hầu như các thế hệ trong dòng họ không thoát khỏi tội loạn luân với những
người cận huyết. Trước khi Ucsula Igoaran lấy Hose Accadio Buendia thì
tổ tiên của họ cũng đã phạm phải điều cấm kỵ đó. Chính họ đã dẫm lên vết
xe đổ đó. Là người sống gần hết chiều dài của dòng họ, chứng kiến các thế
hệ con cháu ra đời, trưởng thành và hủy diệt, bà như sự tổng kết chiêm
nghiệm về những thói hư tật xấu của dòng họ. Bà sống để canh chừng, coi
sát nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi vòng xoáy của định mệnh.
“Con cái nhà đến lạ, tất cả đều giống nhau như hệt. Lúc đầu được nuôi
dưỡng rất chu đáo, do đó tất cả đều ngoan ngoãn, nết na, hiền lành dường
như đến con ruồi cũng không đủ can đảm để giết. Ấy thế mà râu vừa lún
phún đã lại hư thân mất nết rồi.” (8,180). Trước quyết định đám cưới của
cặp đôi Rebecca và Hose Accadio bà đã phản đối kịch liệt, và xem như họ
đã chết. Nhà văn Marquez xây dựng tình huống, ngôi nhà hạnh phúc của

trong một thời gian dài. Ông là người có cả sức mạnh cơ bắp và trí tuệ. Hai
đặc điểm này di truyền cho con cháu theo hai nhánh: Những Arcadio khỏe
mạnh, sống sôi nổi, còn những Aureliano thông minh những cô đơn và lánh
đời. Sau khi bị mê hoặc bởi những phát minh của người Digan. Hôsê
Accađiô Buênđya say sưa lao vào những tìm kiếm khoa học, rồi phát điên
và cuối cùng chết dưới tán cây dẻ.
Những hành động của Hose Accadio Buendia là điển hình, điềm báo
cho những đặc tính nổi trội để di truyền cho những thế hệ sau. Việc Hose
Accadio Buendia lấy em họ Ucsula là hành động mang tính loạn luân, hành
động vượt ra ngoài chuẩn mực đạo đức muôn đời. Và sau những thế hệ con

20


cháu cũng đam mê tính dục và đặc biệt ham muốn với những người cận
huyết. Hành động giết chết Prudencio Aghila là hành động bạo lực, hiếu
chiến khiến ông phải day dứt cả đời. Ông buộc phải bỏ làng đi để tìm thấy
sự thanh thản và trở thành một tù trưởng giỏi. Chính đặc tính này đã di
truyền cho nhiều thế hệ sau này đặc biệt là đại tá Aureliano Buendia. Một
hành động nữa của Hose Accadio Buendia cũng được xem là điềm báo cho
đặc tính di truyền của dòng họ Buendia đó là hành động bỏ làng ra đi. Đây
là hành động tự tách mình khỏi cộng động, đẩy mình vào cõi cô đơn tiền
định. Đặc tính này hầu hết các con cháu Buendia đều mắc phải.
Hose Accadio Buendia là người tháo vát, với trí tuệ thông suốt ông đã
bố trí ngôi làng hợp lý và gọn gàng. “…đã bố trí các nhà theo hình thức sao
cho từ mọi nhà đều có thể đi ra sông và không một nhà nào phải gánh nước
vất vả hơn nhà nào, đánh những con đường chạy thật khéo để mọi nhà đều
phải chịu nắng như nhau vào mùa nóng. Chỉ trong ít năm, Macondo là một
làng ngăn nắp gọn gàng và chuyên cần … đó là một làng hạnh phúc, là nơi
chưa một ai ngoài ba mươi tuổi, và chưa hề có người chết”. (8,29) Sức

tới …” (8,102) Và suốt thời gian đó ông luôn nhớ tới Prudenxio Aghila “Cả
đêm ông nằm trên giường, mắt mở thao láo, mà gọi Prudenxio Aghila, gọi
Menkyadet, gọi tất cả những người đã chết để họ tới cùng chia sẻ với ông
nỗi chán chường.” (8,103) Trong suốt phần đời còn lại bên gốc cây dẻ,
sống với kí ức, nói chuyện với kí ức. Mặc dù người chăm sóc ông, trò
chuyện với ông là Ucsula nhưng thực ra “người duy nhất mà cụ tiếp xúc từ
đã lâu là Prudenxio Aghila. Với dáng vẻ tiều tụy vì tuổi già trong cõi âm
phủ, Prudenxio Aghila cứ mỗi ngày hai lần đến nhà nói chuyện với cụ. Hai
người nói chuyện về gà chọi. Hai người hứa hẹn với nhau sẽ xây dựng một
chuồng nuôi những chú gà chọi tuyệt vời, không chỉ để vui vẻ trước một
trận thắng mà còn để giải khuây trong những ngày chủ nhật man mác buồn
ở cõi âm phủ.” (8,167).

22


Như vậy, Hose Accadio Buendia thủy tổ của dòng họ Buendia ở
Macondo đã tự lưu đày vào cõi cô đơn, sống suốt cuộc đời nhức nhối với
tội lỗi trong quá khứ, và đến chết cũng chết trong nỗi cô đơn. Sự cô đơn đã
tồn tại như bản năng của con người “tập trung những ý, hướng, những động
cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được
quyết định bởi bản năng, còn ý thức của chúng thì không biết được”
(13,1353). Nỗi cô đơn đó xuất phát điểm từ cội nguồn, bản thể riêng của
con người, nó cố hữu, ăn sâu vào tâm tưởng và dần dần đẩy con người vào
cõi tuyệt vọng.
1.2.2 Hôsê Accađiô Buênđya trăn trở về những phát minh khoa học
Đọc Trăm năm cô đơn, chúng ta không chỉ chứng kiến một cuộc chạy
trốn tội loạn luân, chứng tích của cuộc nội chiến giữa Đảng Tự Do và Bảo
thủ, còn chứng kiến những bước chuyển mình của xã hội Mỹ La tinh thu
nhỏ, một Macondo sôi động. Khi người Digan mang đến những phát minh


đình di gan rách

của giới tự nhiên và còn vượt quá rất xa

rưới dựng một túp

những phép mầu và trò chuyện huyền ảo,

lều bạt ngay cạnh

nghĩ rằng có thể sử dụng phát minh vô bổ

làng … Đầu tiên,

ấy vào việc moi vàng từ trong lòng đất.

họ mang tới đá
nam châm.
người Kính viễn

Những

Hôsê Accađiô Buênđya lại nẩy ra ý định

digan trở lại làng vọng và

sử dụng phát minh ấy như một thứ vũ khí

vào tháng ba, lần kính lúp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status