hiện tượng song trùng trong “trăm năm cô đơn” của g márquez - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

HIỆN TƯỢNG SONG TRÙNG
TRONG “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN” CỦA G.
MÁRQUEZ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành phố Hồ Chí Minh-2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

HIỆN TƯỢNG SONG TRÙNG
TRONG “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN” CỦA G.
MÁRQUEZ
Chuyên ngành: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Mã số: 60.22.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐÀO NGỌC CHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh-2011


2.1 Nhân vật .............................................................................................................................9
2.2 Kết cấu ............................................................................................................................. 14
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................................... 20
3.2 Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................................... 20
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 20
5. Đóng góp của đề tài ............................................................................................................ 21
6. Cấu trúc của luận văn ........................................................................................................ 22
Chương I Hiện tượng song trùng và Gabriel García Máquez ................................................ 24
1.1

Biểu tượng song trùng trong văn học .......................................................................... 24

1.1.1

Khái niệm song trùng .......................................................................................... 24

1.1.2

Biểu tượng song trùng trong một số tác phẩm văn học ........................................ 27

1.1.2.1

Các tác phẩm của F.Dostoevski ........................................................................... 28

1.1.2.2 Các tác phẩm khác .................................................................................................. 38
1.2 G.Máquez và “Trăm năm cô đơn”.................................................................................... 46
1.2.1 G.Máquez “đỉnh cao ngọn sóng văn chương” ............................................................. 46
1.2.2 G. Márquez và hiện tượng song trùng ....................................................................... 51
Chương II Song trùng và nghệ thuật xây dựng nhân vật ..................................................... 54

Mĩ Latin bao gồm Trung và Nam Mĩ với 19 quốc gia vùng Caribbe và 26 quốc
gia Nam Mĩ. Tất cả đều sử dụng chung tiếng Tây Ban Nha, trừ Brazil nói tiếng Bồ
Đào Nha. Trước khi thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xâm lược, các quốc gia
Mĩ Latin đã có một nền văn hóa bản địa hết sức đa dạng và độc đáo với những cuốn
kinh thánh chép tay rất tỉ mỉ, công phu được truyền khẩu từ đời này sang đời khác
của người Inca, Maya, Aztec. Văn hóa truyền khẩu thời này hầu hết nằm trong hai
lĩnh vực thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo.
Từ nửa sau thế kỉ XX, văn học Mĩ Latin đã có những bước đột phá mạnh mẽ
làm cho cả thế giới phải hướng mắt về châu lục này với việc bùng nổ phong cách
sáng tác mới: Magical realism (Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo), hàng loạt những tác
giả tài năng xuất hiện đã đem đến cho văn chương nhân loại những tiếng nói mới mẻ
và độc đáo. Tính đến nay, văn học Mĩ Latin đã có 6 tác giả nhận giải Nobel văn học
danh giá: Gabriela Mistral (1945), Miguel Angel Asturias (1967), Pablo Neruda
(1971), Gabriel García Márquez (1982), Octavio Paz (1990), Mario Vargas Llos
(2010). Mỗi người một vẻ, họ đều là những tài năng xuất sắc của văn chương nhân
loại.
Alvaro Mutis, một trong hai nhà tiểu thuyết thành công nhất trong lịch sử văn
chương Colombia, vừa theo nghĩa được giới phê bình tán thưởng vừa theo nghĩa
giành được nhiều giải thưởng quan trọng, đồng thời là đôi bạn thân từ hơn nửa thế kỷ
nay với G.Márquez, trong lần trả lời phỏng vấn của Elena Poniatowska năm 1975 đã
đánh giá rất cao về tài năng vượt trội của G.Márquez: “Tôi tin rằng chỉ một mình
García Márquez đã thâu tóm, thành tựu và thực hiện được một cách hữu hiệu đến
tuyệt đối việc di chuyển thế giới Mĩ Latin vào văn chương. Chỉ mình ông đã đưa ra
được một cái nhìn thâu tóm và chính xác về thế giới đó”. (Về thế giới của A. Mutis và
G.G. Márquez, Evăn) Thế giới của nỗi cô đơn, sự tù đọng và ngừng trệ qua sự hòa
quyện tuyệt diệu hai yếu tố huyền ảo và hiện thực. Thật vậy, G.Márquez là một tác


gia lớn của văn học Mĩ Latin và thế giới, ông là một cây đại thụ văn học, là một trong
những tác gia tiêu biểu cho văn học hậu hiện đại, theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

thường tập trung vào những khía cạnh: chủ đề cô đơn, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo,
kết cấu, nhân vật…và có nhiều phát hiện thú vị. Đặc biệt ở hai phương diện nhân vật
và kết cấu. Tìm hiểu hai phương diện này, chúng tôi nhận thấy chúng bị chi phối
mạnh của hiện tượng song trùng, tạo ra những kiểu nhân vật và kết cấu mới mẻ. Để
làm rõ điều này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình nghiên cứu hai phương diện
trên của các nhà nghiên cứu đi trước từ đó chỉ ra những nét riêng của chúng tôi khi
cùng nghiên cứu về vấn đề này.
2.1 Nhân vật
Qua các tư liệu, chúng tôi nhận thấy khi nghiên cứu nhân vật trong “Trăm năm
cô đơn” các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai loại nhân vật quan trọng: nhân vật cô đơn,
bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ và nhân vật được lặp đi lặp lại.
Đánh giá nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ và cô
đơn là một xu hướng khá phổ biến của các nhà nghiên cứu trên thế giới, một trong
những người quan tâm sâu sắc đến vấn đề này là Steven Boldy. Trong công trình
Gabriel García Márquez, Bloom’s modern critical views, Harold Bloom, Chelsea
House (2007), Harold Bloom đã cho rằng nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” sống
khép kín, cô đơn cho đến chết. Điều này hướng đến làm rõ chủ đề cô đơn của tác
phẩm. Cô đơn là bản chất của con người, càng trốn chạy con người càng trở nên cô
đơn. Và cô đơn như là sự cảnh báo cho cái chết và hủy diệt mà con người sẽ đối mặt
nếu sống quá ích kỉ và cá nhân. Lòng nhớ quê cũ đã buộc nạn nhân vào quá khứ và
họ u sầu cho đến chết. “Hai nhân vật quan trọng quay trở lại cội nguồn và u sầu cho
đến chết bởi nỗi hoài nhớ: Amaranta Úrsula sôi nổi, hoạt bát và cực kì hiện đại đã
trở về làng Macondo khi nó ở trong tình trạng khánh kiệt, đổ nát chỉ để chảy máu cho
đến chết sau khi sinh ra một hài nhi có cái đuôi lợn, giống như đứa trẻ đầu tiên của
dòng họ, đã bị chết sau hơn một trăm năm trước đó, điểm khởi đầu của một vòng tròn
cho một chu kì nguyên vẹn. Cụ già bán sách ở Sabio Catalan thông thái trong nhóm
bạn của Aureliano Babilonia ông đã từng sống ở Bararanquilla trước đó. Cụ là


nhân vật cặp đôi với Melquíades, cũng có những bản viết tay. Sau nhiều năm sống ở

tròn…, họ không thể thoát ra khỏi vòng tròn luẩn quẩn của số phận. Cuộc sống của
họ được định bởi giá trị của một ai trước đó. Do đó cô đơn, trung tâm chủ đề (cùng
với nhiệm vụ) của lịch sử Mĩ Latin: đó là họ bị bỏ rơi trong một châu lục trống rỗng,
một văn hóa rộng lớn chân không” [64/106]. Sự lặp đi lặp lại này đặc biệt ở tuyến
nhân vật nam của dòng họ Buendía: “Mô hình lặp đi lặp lại trong tác phẩm, đặc biệt
là với những người đàn ông. Họ phấn đấu thực hiện hoạt động như những người đàn
ông trẻ, nhưng trở nên thất vọng và cuối cùng rút lui. Không có khả năng đối phó với
điều kiện thực tế có hiệu quả, cuối cùng họ lựa chọn cho một cô đơn thất vọng”.
[64/106] Nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” lặp đi lặp lại như một vòng tròn định
mệnh vĩnh viễn bất chấp sự cố gắng vượt thoát của họ. Định mệnh này được gắn chặt
với cái tên mà họ đón nhận ngay từ lúc lọt lòng. Nhân vật nào có tên gọi giống nhau
thì số phận của họ sẽ giống nhau, đều thất bại, sống cô đơn và hoài nhớ. Nhân vật lặp
đi lặp lại tiếp tục tạo ra cấu trúc vòng tròn thú vị cho tác phẩm. Nhấn mạnh điều này,
Gerald Martin khẳng định nó vừa làm rõ chủ đề cô đơn của tác phẩm vừa hướng đến
thể hiện những giá trị hiện thực sâu sắc.
Với bài viết nổi tiếng “Trăm năm cô đơn của Márquez” (1995) tại đại học
Malaspina College nay là Đại học Vancouver Island, Ian Johnston đã chỉ ra nhân vật
ở đây được xây dựng lặp đi lặp lại một cách đầy ám ảnh qua nhiều thế hệ, không chỉ
lặp lại tên gọi mà tính cách, số phận cũng được lặp lại và họ ý thức được điều này
một cách rõ ràng nhưng không thể thay đổi được bởi số phận của kẻ hậu sinh đã được
định đoạt qua sự lặp lại tên gọi của những tiền nhân trước đó. “Đối với tất cả những
thay đổi rõ ràng trong các ngành nghề chính của họ, tính cách của họ liên tục lặp lại
các kinh nghiệm của các thế hệ trước đó. Nhân vật có một ý thức mạnh mẽ về số
phận lặp lại ám ảnh này. Khi một cái tên được chọn đặt cho nhân vật thì nó cũng đã
xác định luôn các hành động chủ yếu của cuộc sống sau này của họ. Và người đó sẽ
lặp lại các sự kiện cuộc sống của tổ tiên mình trước đây”. Có thể thấy những ý kiến
trên của Ian Johnston khá tương đồng với Gerald Martin trong việc đánh giá đặc điểm
nhân vật trong “ Trăm năm cô đơn”, nhân vật luôn được lặp lại tạo ra những số phận
giống nhau qua nhiều thế hệ.




ca và lệch lạc, hư hỏng, đồi bại đáng chê trách”. […] Thế giới nhân vật trong Trăm
năm cô đơn đều phải luôn đối đầu với cái cô đơn. Chưa bao giờ trong lịch sử văn
học thế giới, chúng ta lại gặp nhiều con người, nhiều kiểu dạng cô đơn như ở
đây.[…] G.Márquez đặt nhân vật của mình đối diện với cái cô đơn và kiểm tra thái
độ của nhân vật mình với cái cô đơn đó”. [23/218-219]
Trần Thị Anh Phương với bài viết “Nhân vật trùng tên trong Âm thanh và
cuồng nộ và Trăm năm cô đơn”, TCVH, Số 9 đã tiến hành so sánh và chỉ ra những
điểm giống và khác nhau của Faulkner và G.Márquez khi xây dựng những nhân vật
trùng tên trong hai tác phẩm trên. Tác giả nhận thấy qua môtip nhân vật trùng tên
này, Faulkner và G.Márquez muốn nhấn mạnh hành trình tìm về bản ngã, sự hiện
sinh của con người trong thế giới. Đồng thời sử dụng kiểu nhân vật trùng tên để lồng
ghép lịch sử dòng họ với bức tranh rộng lớn của xã hội. Tuy nhiên sự so sánh này
cũng chỉ mới bước đầu và mức độ so sánh cũng chưa thực sự sâu sắc nhưng tác giả
bài viết bước đầu đã chỉ ra được những nét tương đồng và dị biệt thú vị của hai tác
giả này khi cùng tạo ra những nhân vật trùng tên. “Cả hai tiểu thuyết gia này đều sử
dụng mô típ trùng tên nhân vật theo chu kì khép kín đến vô vọng. Hiện tượng xoá mờ
tên tuổi, đường viền lịch sử gây ra một tín hiệu rõ rệt: sự tồn tại của con người như
những hồ sơ, những con số, những danh bạ. […] Môtip trùng tên nhân vật trong Âm
thanh và cuồng nộ và Trăm năm cô đơn mô tả sự cảnh tỉnh của con người trong thế
giới hiện đại với hành trình tìm về bản ngã, sự hiện sinh của con người trong thế giới
này.
Với nhân vật trùng tên, Márquez đã đẩy trạng thái cô đơn của con người lên
đỉnh điểm và nhân vật trở thành diện mạo vĩnh cửu trong văn học. Bằng việc sử dụng
nhân vật trùng tên, Márquez đã thể hiện nỗi cô đơn thống thiết như của con người, và
nỗi khổ đau này hiện lên trong tác phẩm như một bản án đồng thời lại là sự trừng
phạt. Cũng như Faulkner, Márquez sử dụng kiểu nhân vật trùng tên để dàn dựng lên
bức tranh dòng họ lồng trong bức tranh rộng lớn của xã hội tù đọng, lạc hậu rơi vào
khủng hoảng bế tắc của đất nước Colombia hay Mỹ Latin nói chung”. [50/140-142]

chuyện của dòng họ mình và số phận của làng Macondo đã được viết trước đó trong
những văn bản viết tay kì lạ của Melquíades, tạo ra một vòng tròn định mệnh cho tác
phẩm. “Trăm năm cô đơn có thể xem là có hai câu chuyện bởi vì có hai người kể
chuyện. Câu chuyện thứ nhất được thể hiện trên văn bản sách vở mà chúng ta coi là


không phức tạp: tác giả Gabriel García Márquez kể lại lịch sử của cái dòng họ đã
tạo lập nên làng Macondo một cách liên tục theo trình tự thời gian, vừa như một áng
Thánh kinh, vừa mang tính chất châm biếm, cường điệu: con của José Arcadio là
Aureliano, con của Aureliano lại có tên là José Arcadio, rồi con của José Arcadio
lại có tên là Aureliano …câu chuyện thứ hai bắt đầu khi câu chuyện thứ nhất kết
thúc: chúng ta nhận ra rằng biên niên sử của làng Macondo trước đó đã được viết
trong những văn bản viết tay kì lạ của một nhà thông thái, Melquíades. Đầu tiên, ông
ấy xuất hiện với tư cách là một nhân vật trong tác phẩm sau đó chúng ta mới phát
hiện ra ông ấy là một người kể chuyện. Lúc đó, có hai điều xảy ra: cuốn sách bắt đầu
lại, nhưng lần này những sự kiện lịch sử được diễn ra đồng thời như một huyền thoại.
[…]
Kí ức lặp lại mô hình, lặp lại sự bắt đầu, giống như ngài đại tá Buendía làm
những những con cá vàng rồi lại đem nấu chảy nó ra rồi lại làm lại từ đầu hết lần
này đến lần khác…tái sinh liên liên tục, để đảm bảo sự vĩnh cửu của vũ trụ bằng
những hoạt động chính xác, có tính chất nghi lễ, chân thành lặp lại và lặp lại việc
sản xuất những con cá vàng rồi lại đem nấu chảy nó ra rồi lại làm lại từ đầu, cứ như
thế tiếp tục tái sinh lại trong một sự bảo đảm chính xác tuyệt đối như những hoạt
động của vũ trụ.[57/8-11] Khẳng định kết cấu trong “Trăm năm cô đơn” là kết cấu
vòng tròn bởi tác giả nhận thấy những cái tên và những mô hình kí ức cứ lặp đi lặp lại
trong tác phẩm như thể thời gian cũng là một sự lặp lại những thời điểm đã xảy ra
trong quá khứ.
Không chỉ riêng Carlos Fuentes, Steven Boldy trong bài viết Gabriel García
Márquez, Bloom’s modern critical views, Harold Bloom, Chelsea House (2007),
cũng khẳng định kết cấu của “Trăm năm cô đơn” như những vòng tròn lặp lại khi

modern critical views, Harold Bloom, Chelsea House, lại nhấn mạnh cấu trúc biên
niên sử của tác phẩm qua những kĩ thuật độc đáo, tạo ra một “cấu trúc hỏi chứ không
phải là một câu trả lời”: “Yếu tố văn chương của biên niên sử là việc tác giả sử dụng
những kĩ thuật báo chí, những giấc mơ, những linh cảm và những biểu tượng để làm
mờ đi ranh giới giữa thực tế và hư cấu. Việc phân tích tiểu thuyết giống như những


quy ước bắt buộc của thể loại trinh thám. Isabel A’lvarez Borland Labels gọi nó là
một mô hình hoàn hảo của cái gọi là “hermeneu-tistale”, một cấu trúc hỏi chứ không
phải là một câu trả lời”.

[59/108]

Cùng nhấn mạnh yếu tố biên niên sử của tác phẩm Ochoa Reyes trong Lose’
Luis, Auto-pisa de una muerrte anunciada Gabriel García Márquez Colombia đã
“xem xét vai trò của người kể chuyện trên cả quan điểm lịch sử và quan điểm kể
chuyện trong biên niên sử về một cái chết được báo trước trong đó tác giả là người
kể chuyện và là một nhân vật, thuật lại những sự kiện và tổ chức chúng thành một
biên niên sử”, Ngoài ra Ochoa Reyes còn tìm thấy điểm tương đồng giữa cuốn tiểu
thuyết và sách Phúc âm.
Nhấn mạnh cấu trúc biên niên sử của cuốn tiểu thuyết, Raymond L.Williams
và Ochoa Reyes chủ yếu dựa trên loại thời gian tuyến tính trong tác phẩm. Nhưng tác
phẩm này có đến hai văn bản, hai dòng thời gian tuyến tính và phi tuyến tính đồng
hiện với nhau cho nên nếu chỉ quan sát nó ở một phương diện tuyến tính mà kết luận
cấu trúc tác phẩm theo lối biên niên sử theo người viết là chưa thỏa đáng, chỉ có thể
là một phương diện kết cấu của tác phẩm.
Các nhà nghiên cứu trong nước khi tiếp cận tác phẩm này cũng đã có những
kiến giải rất thú vị xung quanh vấn đề kết cấu của tác phẩm. Nhìn chung sự đánh giá
ở đây thiên về hướng tác phẩm được kết cấu theo kiểu vòng tròn. Nguyễn Trung Đức
(2003), “Trăm năm cô đơn”, Nxb Văn học nhận thấy tác phẩm được kết cấu phức tạp

Nhưng vì dòng họ này là một dòng họ đã được khẳng định, không phát triển tới một
tương lai nào nên thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện mang
tính biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập với ý thức của người kể
chuyện thứ nhất. Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này đan
bện lấy nhau, hoà quyện vào nhau, trong đó thời gian của người kể chuyện thứ hai,
thời gian thực tại giữ vai trò then chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác phẩm,
phản ánh được đặc trưng trì động, chậm phát triển của Mỹ Latin”. [11/8-11] Những
ý kiến trên của dịch giả Nguyễn Trung Đức khá cùng qua điểm với Carlos Fuentes
mà chúng tôi đã đề cập ở trên.


Lê Huy Bắc (2009), “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García
Márquez”, Nxb Giáo dục, Hà Nội cho rằng kết cấu của “Trăm năm cô đơn” là kết cấu
mê lộ. Tác giả xuất phát từ việc các thành tố của tác phẩm được lặp đi lặp lại một
cách đậm đặc, chủ yếu là phương diện nhân vật: lặp tên, lặp kí ức, tạo ra những tuyến
nhân vật song trùng, đồng dạng. Kết cấu mê lộ phù hợp cho việc thể hiện chủ đề cô
đơn của tác phẩm hay chính nỗi cô đơn không lối thoát của nhân vật tạo nên sự mê lộ
cho tác phẩm. “Kết cấu của Trăm năm cô đơn về bản chất là kết cấu mê lộ. Trước hết
là những cái tên được lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trêm nữa, tác giả
còn cấu trúc cặp nhân vật sinh đôi (anh em Arcadio Segunvà Aureliano Segundo) với
mục đích là tạo nên sự huyền ảo về những sự kiện quay vòng thông qua sự nhầm lẫn,
đáng đố người đọc.
Ngay đến cả kí ức, người kể cũng để hai nhân vật có cùng kí ức. Đấy là chuyện
đại tá Aureliano Buendía đứng đầu họng súng của nhóm lính hành hình trong lúc
đang nhớ về quá khứ. Trước đó, cháu của đại tá Aureliano Buendía là Arcadio khi
đứng trước đội hành hình cũng nhớ về quá khứ. Hai chú cháu này có sự đồng dạng
về kí ức, kí ức về gia đình. Không chỉ riêng thế giới đàn ông mà thế giới đàn bà trong
tác phẩm cũng được cấu trúc theo kiểu mê lộ. Một Pilar Ternera vừa đẻ con với
Arcadio vừa đẻ con với Aureliano. Bà là mẹ, là bà, là cụ của nhiều hậu duệ nhà
Buendía, nhưng những hậu duệ ấy chẳng một ai biết được mối quan hệ của mình với

Thứ hai, chúng tôi tiến hành tìm hiểu hiện tượng song trùng trong “Trăm năm
cô đơn” trên các phương diện: Nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu. Từ đó chỉ ra
những hiệu quả nghệ thuật của nó trong tác phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu ba phưong pháp: văn hoá-lịch
sử, so sánh-đối chiếu và phân tích cấu trúc.
Phương pháp so sánh-đối chiếu được chúng tôi sử dụng nhiều trong chương I
nhằm chỉ ra sự tương đồng và dị biệt giữa các tác giả khác và G. Má rquez khi cùng


khai thác song trùng. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này ở chương II
khi tiến hành so sánh hệ thống biểu tượng và nhân vật trong tác phẩm.
Phương pháp văn hoá-lịch sử là phương pháp quan trọng thứ hai được chúng
tôi sử dụng trong luận văn. Chúng tôi nhận thấy, văn hóa, lịch sử có vai trò khá quan
trọng trong sáng tác của một nhà văn.Văn hoá, lịch sử Colombia và Mĩ Latin đã để lại
dấu ấn khá đậm nét trong các tác phẩm của G.Márquez, đặc biệt trong “Trăm năm cô
đơn”. Vì thế, khi nghiên cứu tác phẩm này, chúng tôi đã dùng phương pháp trên để
nghiên cứu, lí giải những hình tượng nhân vật và hệ thống biểu tượng trong tác phẩm.
Qua đó làm rõ được những giá trị tư tưởng sâu sắc của tác phẩm, đặc biệt là việc thể
hiện các sự kiện lịch sử của đất nước. Phương pháp này chúng tôi vận dụng nhiều ở
chương II.
Như trên chúng tôi đã khẳng định trong “Trăm năm cô đơn” song trùng chi
phối mạnh mẽ đến việc xây dựng các thành tố của tác phẩm. Cho nên phương pháp
cấu trúc được chúng tôi sử dụng nhằm tìm ra mối liên kết đó giữa các thành tố của tác
phẩm và tư tưởng của nhà văn, tạo cơ sở đúng đắn để đánh giá những giá trị của tác
phẩm.
Trên đây là ba phuơng pháp quan trọng được chúng tôi sử dụng thường xuyên
trong quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó chúng tôi còn phối hợp với một số phương
pháp hỗ trợ khác như: Phương pháp tiểu sử, Phương pháp thống kê nhằm đạt hiệu
quả tốt nhất cho việc nghiên cứu.

dụng và sáng tạo riêng của G.Márquez dựa trên mã biểu tượng truyền thống này.
Chương II: Song trùng và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chúng tôi nghiên cứu hiện tượng song trùng ở phương diện nghệ thuật xây
dựng nhân vật qua những thủ pháp trùng tên, hệ thống biểu tượng trùng lặp và nhân


vật được soi chiếu ở cái nhìn đa diện. Qua những thủ pháp này, hệ thống nhân vật
được xây dựng một cách sinh động và độc đáo.
Chương III: Song trùng và kết cấu tác phẩm
Người viết tập trung làm rõ sự chi phối hiện hiện tượng song trùng và kết cấu
tác phẩm qua các kiểu kết cấu: song hành, mê lộ.
Phần kết luận, chúng tôi tiến hành tổng kết lại những kết quả của luận văn,
đồng thời đưa ra những kiến nghị và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo. Ngoài
ba phần chính nêu trên, luận văn còn có tài liệu tham khảo và phụ lục.


Chương I : Hiện tượng song trùng và Gabriel García Máquez
1.1

Biểu tượng song trùng trong văn học

1.1.1 Khái niệm song trùng
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Đặc điểm cơ bản của
hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên
y như thật. Nhưng hình tượng nghệ thuật cũng là một hiện tượng đầy tính ước lệ.
Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng.
Theo nghĩa rộng biểu tượng “là đặc trưng phản ánh đời sống bằng hình tượng của
văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa
của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn,
vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan

tâm lí coi những rối loạn của bản ngã như những biểu tượng. Chúng bộc lộ một sự
thụt lùi trở lại những giai đoạn trước và nguyên thuỷ, có thể coi như là cái nền bình
thường của tâm tính hiện tại của người bệnh, theo kiểu như các địa tầng. Các địa
tầng ấy có thể được phơi bày ra bằng những dấu hiệu thoái triển bệnh hoạn, bằng
các phương pháp thăm dò, bằng lối nhị hoá nhân cách của kịch chữa bệnh tâm thần
(psychodrame) chẳng hạn, bằng các hoạt động tâm lí hoặc hoat đông mệnh danh là
huyền bí được điều khiển một cách nguy hiểm. Một sự nhị hoá còn diễn ra trong nhận
thức và ý thức về cá nhân, giữa cái tôi nhận thức và hữu thức với cái bản ngã đươc
nhận thức và vô thức. Cái bản ngã trong chiều sâu, chứ không phải trong những tri
giác phù du, có thể xuất hiện như một mẫu gốc vĩnh cửu và theo những phân tích của
Henry Corbin xuất phát từ những văn bản của nhà Soufi Sohrawardi, như là Con
người ánh sáng, cái Bản ngã ánh sáng, người Dẫn đường của riêng ta, vị thiên thần
khởi xướng, nhân chứng nhà Trời, Tự nhiên hoàn mỹ, người song sinh tuyệt diệu: Kẻ
nào tự nhận thức được bản thân, sẽ nhận thức được Chúa Trời của mình. Ở đây
thuyết ngô đạo nhuộm màu thuyết thần hiệp Hồi giáo: đối với mỗi linh hồn, các
Thánh linh là những song trùng trên trời. Cái bản trùng ấy ra sức kích thích trong kẻ
thần hiệp hình ảnh của bản thân anh ta, hình ảnh của cá nhân anh ta. Đấy là điều mà
đạo Kitô, theo một cách nào đó, diễn dịch bằng hình ảnh Thiên Thần Hộ Mệnh” [17/
826].
Tôn giáo truyền thống hình dung con người là một hình ảnh tự nhân đôi gồm
hai mặt tồn tại, gắn kết không thể tách rời nhau: linh hồn và thể xác. Trong đó “linh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status