sự tương tác thể loại trong văn xuôi việt nam từ 1986 đến nay - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VIẾT THIỆN

SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VIẾT THIỆN

SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. NGUYỄN THÀNH THI
PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ

1.1.2. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG "THỜI CỦA TIỂU THUYẾT" ........ 19
1.1.3. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG VĂN HỌC LÀ HIỆN TƯỢNG
HẾT SỨC ĐA DẠNG, ĐA CHIỀU .................................................................... 23
1.2. SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN
NAY - NHÌN TỪ TIỂU THUYẾT ...................................................................................... 26
1.2.1. SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC THỂ KÍ TRONG TIỂU THUYẾT ................... 26
1.2.2. SỰ "TIẾP SỨC" CỦA LOẠI HÌNH KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT ..... 43
1.2.3. TRUYỆN NGẮN TRONG TIỂU THUYẾT ............................................. 54
1.2.4. HUYỀN THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT .............................................. 63
CHƯƠNG 2. SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ
1986 ĐẾN NAY - NHÌN TỪ TRUYỆN NGẮN ................................................................ 72
2.1. DÒNG TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN .......................................................... 72
2.2. HUYỀN THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN .............................................................. 87
2.3. TIỂU THUYẾT TRONG TRUYỆN NGẮN.............................................................. 116


CHƯƠNG 3. NHỮNG TÍN HIỆU MỚI CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN
NAY - NHÌN TỪ SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI ............................................................ 136
3.1. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ CỦA
THỂ LOẠI ......................................................................................................................... 136
3.1.1. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA
TIỂU THUYẾT.................................................................................................. 137
3.1.2. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA
TRUYỆN NGẮN ............................................................................................... 141
3.2. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ MỞ RỘNG TRƯỜNG PHẢN ÁNH VỀ HIỆN
THỰC VÀ CON NGƯỜI .................................................................................................. 147
3.2.1. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ MỞ RỘNG TRƯỜNG PHẢN ÁNH
VỀ HIỆN THỰC ................................................................................................ 149
3.2.2. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VÀ SỰ MỞ RỘNG TRƯỜNG PHẢN ÁNH
VỀ CON NGƯỜI ............................................................................................... 153

thống thể loại khác nhau, tạo ra các hình thức thể loại mới” [209]. Sự biến đổi đó
làm cho: “Về mặt lí thuyết, cho tới hôm nay, giới nghiên cứu văn học và ngay cả
nhà văn cũng không còn thỏa mãn với những công cụ đã có “tính cổ điển” (Nguyễn
Hòa). Sự bứt phá của những tài năng tạo nên “tính không nhất quán” của thể loại.
Nhiều tác phẩm văn xuôi đã “bung ra” khỏi những khuôn khổ thể loại chật hẹp để
đem đến hiệu quả phản ánh mới cho văn học. Thể loại và sự vận động biến đổi đầy
sáng tạo của nó chính là "nguồn cơn" chủ yếu tạo nên những tín hiệu mới của văn
xuôi giai đoạn này. Do vậy, tác giả luận án rất đồng tình với mệnh đề của Vũ Tuấn
Anh: một phương diện quan trọng - nếu không muốn nói là quan trọng hơn cả - để


nhận thức một giai đoạn văn học là khảo sát những biến đổi trên mặt bằng thể loại
cũng như những biến thái tinh vi bên trong đời sống của mỗi thể loại. Nói cách
khác, chân dung của một thời đại văn học được soi chiếu khá rõ qua tấm gương thể
loại.
Nghiên cứu văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay từ góc nhìn tương tác thể
loại vì thế là một đề tài còn mới mẻ và rất có ý nghĩa. Chọn đề tài này, tác giả luận
án mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề một cách hệ thống với cấu trúc lập luận
theo hướng quy nạp để: từ sự biểu hiện sinh động của tương tác thể loại trong các
thể loại văn xuôi chủ đạo; đi đến những vấn đề có tính "nhận thức luận" về những
tín hiệu mới của văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay. Với cách đặt vấn đề như vậy,
hi vọng luận án có thể góp thêm một góc nhìn mới về văn xuôi giai đoạn này.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương diện tương tác thể loại trong cấu
trúc chỉnh thể các thể loại văn xuôi Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay. Khái niệm
văn xuôi ở đây được hiểu là văn xuôi nghệ thuật.
Các thể loại văn xuôi của một giai đoạn văn học đổi mới là rất phong phú.
Tương tác thể loại, nếu hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này phải là sự tác động qua
lại lẫn nhau của ít nhất hai thể loại, như vậy, nghiên cứu tương tác thể loại trong văn
xuôi thì phải nghiên cứu tất cả các thể loại văn xuôi với tất cả các mối quan hệ

có được sự dày dặn, phong phú với nhiều công trình, nhiều bài viết như một số đề
tài khác. Tuy không phải đã thành đường mòn nhưng cũng không phải chưa có ai
từng đi trên con đường này. Sự sinh động, giàu ý nghĩa của phương diện tương tác
thể loại nói chung; tương tác thể loại trong văn học Việt Nam hiện đại nói riêng đã
thực sự có sức thu hút đối với một số nhà nghiên cứu. Cũng có những trường hợp,
tuy không sử dụng cụm từ tương tác thể loại nhưng do sự biểu hiện tiềm tàng của
tương tác thể loại trong đời sống văn học nên đây đó, trong khi nghiên cứu về
khuynh hướng, trào lưu; hay khi tổng kết về phong cách, thành tựu, các nhà nghiên
cứu một cách ngẫu nhiên cũng đã từng đề cập đến vấn đề này.


Chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành hai cấp độ: các công trình,
bài viết về sự vận động thể loại nói chung và các công trình, bài viết về sự vận động
thể loại trong văn học hiện đại Việt Nam.
3.1. CÁC CÔNG TRÌNH, BÀI VIẾT VỀ SỰ VẬN ĐỘNG THỂ LOẠI
NÓI CHUNG
Nghiên cứu tương tác thể loại trong văn học hiện đại không thể không nhắc
đến các chuyên luận của M. Bakhtin: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Những vấn
đề thi pháp Đoxtoiepxki. Đặc biệt, ngay từ năm 1941, trong bài viết "Tiểu thuyết
như một thể loại văn học" (In trong chuyên luận Lí luận và thi pháp tiểu
thuyết), tuy không dùng đến khái niệm tương tác thể loại nhưng M. Bakhtin đã đưa
ra những luận điểm quan trọng nhất về một "cuộc đấu tranh sâu sắc hơn và mang
tính lịch sử hơn giữa các thể loại, sự biến thái và phát triển cái nòng cốt thể loại
của văn học" [27]. Ông đề cao vai trò của tiểu thuyết trong việc tác động, khuấy đảo
tạo nên những quan hệ không hài hoà giữa các thể loại: lấn át thể loại này, thu hút
thể loại kia vào trong cấu trúc của mình, biện giải lại và sắp xếp lại trọng tâm cho
chúng. Tiểu thuyết xúc tác làm đổi mới tất cả các thể loại khác. Do vậy, vào những
thời đại tiểu thuyết thống ngự, tiểu thuyết về nhiều phương diện, đã và đang báo
trước sự phát triển tương lai của toàn bộ văn học. Trong công trình này, M.Bakhtin
cũng nêu quan điểm về tính uyển chuyển, linh hoạt, tính vượt rào và tính không quy

hiện đại gần với thơ và truyện ngắn hiện đại gần với kịch.
Luôn luôn tồn tại bên cạnh tiểu thuyết và rất khó khu biệt rạch ròi về ranh
giới thể loại với tiểu thuyết, đó chính là truyện ngắn. Với quan niệm tương tác thể
loại nằm trong chính đặc trưng của loại thể, công trình Truyện ngắn – lí luận tác
gia và tác phẩm của Lê Huy Bắc trong khi đề cập đến "Truyện ngắn như một thể
loại" đã lưu tâm đến những tác phẩm có sự giao thoa của hai thể loại nói trên. Bài
viết cũng đề cập đến sự ảnh hưởng qua lại giữa truyện ngắn và thơ, sự gần nhau
giữa truyện ngắn và kịch...
Nếu các công trình trên quan tâm đến thể loại và sự tác động qua lại của một
số thể loại văn học thì chuyên khảo Thi pháp của huyền thoại (NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội) chỉ đề cập đến diễn trình của một thể loại duy nhất: đó là các sáng
tác huyền thoại. Trong chuyên khảo này, nhà huyền thoại học nổi tiếng thế giới E.


M. Meletinsky đã xem xét các sáng tác huyền thoại một cách hệ thống: bắt đầu từ
những hình thức cổ xưa nhất cho đến những biểu hiện của chủ nghĩa huyền thoại
trong văn học thế kỉ XX. Ông đặc biệt dành sự lưu tâm đến tầm ảnh hưởng, tác
động của huyền thoại đối với xã hội hiện đại nói chung, văn học nghệ thuật nói
riêng: "Huyền thoại là thế giới, là mảnh đất mà trên đó chỉ có các tác phẩm nghệ
thuật là có thể thăng hoa và phát triển" [215]. E. M. Meletinsky cho thấy tính quanh
co, dích dắc của những mối quan hệ thể loại ngoài hệ thống. Theo đó, huyền thoại
trong văn học thế giới diễn ra hai quá trình: quá trình "giải huyền thoại hóa" và quá
trình "tái huyền thoại hóa". Đặc biệt, xu hướng "tái huyền thoại hóa" diễn ra vừa
mạnh mẽ vừa sâu rộng trong văn học thế giới thế kỉ XX là những tiền đề cần thiết
để xem xét vấn đề mang tính quy luật chung của huyền thoại trong văn xuôi đương
đại Việt Nam. Cũng đề cập đến phương diện này, bài viết "Phương thức huyền
thoại trong sáng tác văn học" của Phùng Văn Tửu (in trong tập Những huyền
thoại của Roland Barthes - NXB Tri thức, 2008) từ việc xem huyền thoại là những
biểu tượng đa nghĩa cần phải giải mã, đã đi sâu đề cập đến huyền thoại như một
phương thức nghệ thuật đang có xu hướng trở thành một trong những kĩ thuật sáng

thể: Xu hướng tổng hợp thể loại trong "Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp", "Về
tính "phức thể" loại hình và sự hiện diện của "kí" trong văn thơ Hồ Chí Minh",…
Đặc biệt, nếu đề tài cấp bộ của Tôn Thất Dụng hướng đến đối tượng là văn học Việt
Nam từ đầu thế kỉ XX - 1945 thì ở phần này, Nguyễn Thành Thi vẽ: "Lược đồ"
văn học quốc ngữ Việt Nam nhìn từ quá trình hình thành và tương tác thể loại.
Ở đây, Nguyễn Thành Thi là người đầu tiên mạnh dạn định nghĩa cũng như phân
loại hiện tượng tương tác thể loại trong suốt một thế kỉ văn học hiện đại Việt Nam.
Trần Ngọc Dung góp thêm một tiếng nói về thể loại qua bài viết: “Đời sống thể loại
văn học sau 1975". Ở đây, Trần Ngọc Dung chủ yếu đi sâu vào cấu trúc tác phẩm để
thấy được những biến đổi về mặt thể loại của văn học sau 1975 so với văn học 1945
- 1975. Trong những biến đổi đó, tuy không dùng đến khái niệm này, nhưng ông hết
sức lưu tâm đến một số hiện tượng văn học kết tinh thành tựu của tương tác thể loại.
Tương tác truyện ngắn - tiểu thuyết: "Không chỉ tiểu thuyết mà truyện vừa và truyện
ngắn cũng có những biến đổi sâu sắc về mặt thể loại. Do ảnh hưởng của tư duy tiểu


thuyết nên các truyện này có sức chứa lớn hơn kích thước vốn có của chúng" [61,
tr.95]. Tương tác tiểu thuyết - kí, phóng sự: "Các tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh
Tuấn như Đứng trước biển, Cù lao tràm đều có dấu vết của kí và phóng sự trong
đó". Trong tương quan so sánh, ông cũng nhận thấy hiện tượng tương tác thể loại
trong văn xuôi 1945 - 1975: "có một đặc điểm nổi bật là trong văn xuôi 1945 1975, truyện và kí thâm nhập, ảnh hưởng nhau đậm nét, tạo thành mô hình truyện
kí và truyện người thật việc thật" [61, tr.97].
Bên cạnh các cuốn sách quy tụ, tập hợp nhiều ý kiến là các luận án đi sâu
nghiên cứu về văn xuôi giai đoạn này. Luận án của Nguyễn Thị Bình quan tâm đến
Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 - Khảo sát trên nét
lớn, trong đó có một nét lớn rất quan trọng, đó là đổi mới về phương diện thể loại.
Luận án Những đặc điểm của văn xuôi Việt Nam cuối những năm 80 đầu
những năm 90 của Hoàng Thị Hồng Hà lại đề cập đến những đặc điểm của văn
xuôi, trong đó có: một quan niệm mới về con người, những đổi mới về ngôn ngữ và
giọng điệu. Tác giả cũng cho ta một cái nhìn sinh động về diện mạo văn xuôi trong

Trong bài viết: "Một số vấn đề thi pháp truyện ngắn Việt Nam hiện đại", ông lưu ý:
"Một mặt các nhà nghiên cứu chú ý đến tính chất gần gũi giữa tiểu thuyết và truyện
ngắn, mặt khác đã cố gắng chỉ ra đặc thù của mỗi thể loại trên từng vấn đề tiếp cận".
Từ việc xác định những đặc điểm nòng cốt của mỗi thể loại, ông đề cập đến những
kiểu dạng truyện ngắn "không thuần nhất": truyện ngắn liên hoàn, truyện ngắn kì
ảo, truyện ngắn tâm tình, truyện ngắn rất ngắn,…
Nguyên Ngọc có cái nhìn tập trung hơn, điểm đúng trọng tâm của vấn đề
tương tác thể loại hơn qua bài viết có nhan đề: "Văn xuôi hiện nay - logic quanh
co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng". Đây là bài viết hết
sức gần gũi, giúp người viết mạnh dạn khẳng định về sự tương tác nhiều chiều của
văn xuôi giai đoạn này với những tố chất mới nhưng xuất phát từ trong thực tiễn, từ
logic của đời sống thể loại văn học. Ngoài ra, dấu hiệu của tương tác thể loại trong
văn xuôi giai đoạn này còn được khẳng định rải rác trong nhiều bài viết như: "Ý
thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975" của Nguyễn Bích Thu, quan


niệm về thể tài truyện ngắn giàu chất thơ, giàu tính kịch qua bài viết "Quan niệm
về thể tài truyện ngắn trong văn học Việt Nam sau 1975" của Phùng Ngọc
Kiếm, "Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỉ 80
đến nay" của Nguyễn Thị Bình.
Một số nhà nghiên cứu đi sâu vào các quan hệ tương tác cụ thể. "Báo chí và
cuộc hành trình đổi mới văn học" của Trần Thị Trâm khẳng định vai trò của
phóng sự như một cú hích đối với công cuộc đổi mới văn học. Nguyên Ngọc cũng
khẳng định lực đẩy mạnh mẽ đó nhưng có tính quá trình hơn trong bài: "Văn xuôi
hiện nay - logic quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển
vọng". Phan Trọng Thưởng qua công trình Những vấn đề lí luận và lịch sử kịch
nửa sau thế kỉ XX lại cho ta một chiều tương tác từ kịch. Có thể nói, cùng với
phóng sự là kịch, chỉ có phóng sự đi bên kịch tạo nên bước đột phá của văn xuôi
giai đoạn này.
Cuốn Văn học Việt Nam 1975-1985, tác phẩm và dư luận tập hợp những ý

bằng việc tập hợp những bài viết hết sức có uy tín của nhiều nhà nghiên cứu. Các
tác giả cho ta nhìn được tính quá trình trong sự nghiệp riêng của từng nhà văn. Từ
đó, thấy được những bứt phá đi lên trong giai đoạn đổi mới. Cuốn Nguyễn Minh
Châu – tài năng và sáng tạo nghệ thuật cũng tuyển chọn nhiều bài viết về những
nỗ lực cách tân “dũng cảm rất điềm đạm” và những “cảm nhận từ thế giới nghệ
thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu”. Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh cũng được
nhiều người quan tâm nghiên cứu: Nguyễn Thị Hồng Giang với công trình "Tạ
Duy Anh và việc làm mới tiểu thuyết", Vũ Lê Lan Hương "Thế giới nhân vật
trong sáng tác Tạ Duy Anh", Võ Thị Thanh Hà "Quan niệm về con người trong
tiểu thuyết Tạ Duy Anh",… Nhiều tác giả, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này dành
được sự quan tâm không chỉ của giới nghiên cứu mà của rộng rãi công chúng: Bảo
Ninh, Hoà Vang, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp,…
Nguyễn Huy Thiệp thực sự gây “bão tố” trong dư luận. Trong tạp chí, trên Internet
và xôn xao giữa đời sống, đâu đâu người ta cũng bàn về hiện tượng Nguyễn Huy
Thiệp. Những bài viết có trọng lượng được tập hợp trong hai cuốn Đi tìm Nguyễn
Huy Thiệp và Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư luận. Hai tuyển tập thực sự


thể hiện tính dân chủ trong phê bình. Nhờ đó, đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta
bắt gặp nhiều góc nhìn, hướng nhìn; nhiều khi đồng điệu nhưng đôi khi “lệch pha”,
ngược chiều. Điều gặp nhau là đều thừa nhận tính đa dạng, tính “hai lần lạ” trong
sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Qua từng nét vẽ, qua từng tác phẩm ta thấy được bức
tranh rậm rạp của những yếu tố thể loại đan xen trong tác phẩm cây bút này. Một số
bài viết đề cập đến các phương diện tương tác phong phú trong sáng tác của cây bút
này: "Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu các truyền
thuyết văn học", "Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp của T.N. Philimonova", "Tư
duy tiểu thuyết và folklore hiện đại" của Hoàng Ngọc Hiến, "Lời thoại trong truyện
ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp" của Nguyễn Thị Hương,…
Một cái nhìn sâu hơn, bài bản hơn, tập trung hơn được thể hiện trong hai
chuyên luận: Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải của Tuyết Nga và Phong cách

phương pháp luận của phương pháp này làm cơ sở cho việc ứng dụng nhất quán
trong luận án: quan niệm về hệ thống trong hệ thống, quan niệm về hệ thống mở,
quan niệm về một hoặc một vài yếu tố hạt nhân của hệ thống, quan niệm về tính
biến đổi của hệ thống. Với những nền tảng đó, phương pháp cấu trúc - hệ thống là
cơ sở quan trọng của luận án trong việc nhận thức các kiểu, các chiều, các cấp độ
tương tác thể loại. Phương pháp cấu trúc - hệ thống cũng được sử dụng trong suốt
luận án nhằm nhận thức về cấu trúc thể loại của một giai đoạn cũng như cấu trúc
của từng thể loại văn học. Từ cấu trúc - hệ thống của văn xuôi, luận án đi đến khái
quát về cấu trúc - hệ thống những tín hiệu mới của văn xuôi.
Để làm rõ vấn đề, tăng tính thuyết phục của các luận điểm quan trọng trong
luận án, chúng tôi kết hợp hai phương pháp trên với phương pháp so sánh - đối
chiếu. Phương pháp so sánh - đối chiếu chủ yếu được sử dụng ở các phương diện:
so sánh đồng đại và so sánh lịch đại.
Luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết nhằm tiếp cận, tìm
hiểu, thu thập và xử lí thông tin. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết do vậy được sử
dụng kết hợp với thao tác xử lí tài liệu như thống kê, phân loại, hệ thống hoá,…


Bên cạnh đó, luận án sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu đặc
thù như: phương pháp thi pháp học, phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp,…
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đề tài đề xuất một góc nhìn mới trong nghiên cứu văn học, góc nhìn tương
tác thể loại. Quan trọng hơn, với cấu trúc luận án theo hướng quy nạp để từ việc
khảo sát những biểu hiện cụ thể của tương tác thể loại trong tác phẩm đi đến những
tín hiệu thẩm mĩ mới như những hiệu ứng trực tiếp từ sự tương tác thể loại; bên
cạnh việc đề xuất góc nhìn, luận án đã thực hiện một quy trình tiếp cận vấn đề
tương tác thể loại vừa cụ thể vừa khoa học. Quy trình tiếp cận đó không chỉ mở
đường cho việc ứng dụng góc nhìn tương tác thể loại để nghiên cứu văn học một
thời kì, một giai đoạn mà còn gợi mở hướng nghiên cứu đối với từng tác giả, tác


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG VĂN HỌC VÀ SỰ TƯƠNG TÁC
THỂ LOẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY – NHÌN TỪ
TIỂU THUYẾT
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƯƠNG TÁC THỂ
LOẠI TRONG VĂN HỌC
Dưới góc độ triết học, có thể nói: vận động là xu thế tuyệt đối, đứng yên chỉ
là trạng thái tương đối, tạm thời. Tương tác và tương tác thể loại trong văn học cũng
tất yếu như sự vận động của cuộc sống. Những năm gần đây, người ta bàn nhiều
đến khái niệm tương tác, lĩnh vực nào chúng ta cũng bắt gặp khái niệm tương tác:
truyền hình tương tác, âm nhạc tương tác, nghệ thuật tương tác, dạy học tương
tác,… Tương tác thể loại trong văn học vừa mang đặc điểm chung vừa có những
đặc thù riêng.
1.1.1. SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI BẮT NGUỒN TỪ CHÍNH ĐẶC
TRƯNG CỦA THỂ LOẠI VĂN HỌC
Tương tác thể loại trong văn học không phải là vấn đề quá mới mẻ mà nó bắt
nguồn từ chính đặc trưng cơ bản nhất của thể loại văn học.
1.1.1.1. Thể loại văn học được hiểu là một hiện tượng loại hình của sáng tác
và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác
phẩm. Trần Đình Sử (Giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên), Nhà xuất
bản Giáo Dục, Hà Nội, 1997): "Thể loại thể hiện một giới hạn tiếp xúc với đời sống,
một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm đời sống,
đồng thời cũng là một nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật" [220]. Nhiều nhà
nghiên cứu cũng thống nhất về khái niệm thể loại như một hình thức chỉnh thể có
tính quy luật của loại hình. Nhưng bên cạnh đó, người ta cũng thừa nhận rằng: “Bản
chất của sáng tạo nghệ thuật là tính độc đáo không lặp lại. Sự vận động cuộc sống
cũng luôn luôn sản sinh và làm biến động các giới hạn phản ánh, đổi mới các kênh




Thực tế đời sống văn học cho thấy mỗi một "nòng cốt" thể loại tồn tại như
những mô chuẩn nghệ thuật ít nhiều mang tính quy ước, chỉ có ý nghĩa tương đối,
và luôn có khả năng biến đổi. Vì vậy, nhà văn khi sáng tác một thể loại nào đó, một
mặt luôn tôn trọng, tuân thủ những mô chuẩn nghệ thuật quy ước, mặt khác – ít
hoặc nhiều – luôn có nhu cầu thoát bỏ khỏi những mô chuẩn quy ước ấy, bằng cách
“nhìn sang” những thể loại xung quanh, rút tỉa lấy tinh hoa của chúng, tổng hợp
kinh nghiệm của hai hay nhiều thể loại, tạo ra những tác phẩm “lệch chuẩn” [357,
tr12].
Mỗi nền văn học, qua những thời đại khác nhau hình thành hệ thống thể loại
khác nhau và hệ thống đó cũng biến đổi. Vì thế, nhiều nhà lí luận văn học đề xuất:
nghiên cứu thể loại phải chú ý đến tính lịch sử, tính thời đại, tính dân tộc và tính
biến đổi của nó. Thể loại vừa là “cái trí nhớ siêu cá nhân của nhân loại” nhưng
đồng thời lại luôn được tái sinh, đổi mới trong từng giai đoạn phát triển văn học,
trong từng thể loại, trong từng tác phẩm cụ thể, cá biệt. Tên gọi thể loại về nguyên
tắc chỉ có một nhưng đời sống thể loại thì phong phú, sinh động vô cùng. “Mỗi giai
đoạn, mỗi thời kì văn học là một chỉnh thể thẩm mĩ thống nhất trong đó có sự liên
kết và tác động lẫn nhau giữa các thể loại” [220]. Đặc điểm văn hóa – xã hội, thị
hiếu thẩm mĩ, trình độ nhận thức của mỗi thời đại thay đổi sẽ làm thay đổi hệ thống
thể loại và hệ quả là, thay đổi quan hệ tương tác giữa các thể loại trong chỉnh thể ấy.
Trên cơ sở tiếp cận vấn đề thể loại như trên, để thống nhất trong cách dùng
thuật ngữ, tiến tên việc gọi tên chính xác và logic các hiện tượng/kiểu/loại/cấp độ
tương tác, chúng tôi nêu lên ở đây một số giới thuyết cụ thể. Luận án chọn cách
phân chia thể loại thành hai cấp độ. Trên bình diện phương thức phản ánh, luận án
sử dụng khái niệm loại/loại hình. Trên bình diện hình thái tác phẩm, luận án sử
dụng khái niệm thể loại/thể; trong đó, khái niệm "thể loại" được dùng phổ biến
trong nhiều trường hợp, khái niệm "thể" được dùng trong những trường hợp đề cập
đến những tiểu loại cụ thể của văn xuôi Việt Nam giai đoạn này.
1.1.1.2. Từ đặc trưng cơ bản là sự vận động, tính biến đổi của thể loại, chúng

các thể loại văn học, ở mức độ nhất định đều bổ sung hài hòa cho nhau, và hệ thống
thể loại hiện ra như một chỉnh thể hữu cơ có trật tự. Những thể loại đó có thể giới
hạn nhau và bổ sung cho nhau mà vẫn giữ nguyên bản chất loại hình của mình. Đời



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status