skkn GIÁO dục sức KHỎE SINH sản CHO học SINH QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA - Pdf 32

Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

MỤC LỤC
I. Lý do chọn đề tài............................................................................................2
II. Tổ chức thực hiện đề tài...............................................................................3
A. Cơ sở lý luận.................................................................................................3
B. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài...............................5
1. Nội dung thực hiện đề tài..............................................................................5
2. Hình thức tổ chức đề tài................................................................................13
III. Hiệu quả của đề tài......................................................................................13
IV. Đề xuất, khuyến nghị khả năng áp dụng.....................................................15
V. Tài liệu tham khảo........................................................................................17
VI. Phụ lục.........................................................................................................18

1


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHÓA
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong những năm gầy đây, Bộ giáo dục đã đưa vào một số nội dung như:
giáo dục kỹ năng sống, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục về sức khỏe sinh
sản.... để lồng ghép vào một số môn học như: môn ngữ văn, môn địa lý, môn sinh
học... Điều này là cần thiết đối với học sinh, giúp các em trang bị đủ kiến thức, kỹ
năng để tự tin bước vào cuộc đời. Song theo tôi, việc tích hợp các kiến thức này
vào môn học là chưa đủ, đặc biệt là kiến thức về sức khỏe sinh sản vì:
- Với các mảng ghép một cách lộn xộn về sức khỏe sinh sản mà các em lĩnh
hội được từ nhiều môn học, thì rất khó để các em có thể ghép lại thành một “Bức
tranh hoàn chỉnh”.

khoảng 1/4 số thanh niên được hỏi không chắc chắn về các biện pháp phòng chống
lây nhiễm HIV khác nhau. Một nghiên cứu khác cho thấy chỉ có 20,7% thanh niên
sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên. Và cũng theo báo cáo của
Tổng cục Dân số, Bộ Y tế cho thấy nữ giới tuổi vị thành niên chiếm hơn 20% các
trường hợp nạo phá thai ở Việt Nam, một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai
cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, kiến thức của vị thành niên về phòng tránh thai,
HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn hạn chế và không có
sự cải thiện đáng kể giữa hai cuộc điều tra.(Báo mạng xã hội)
Theo thống kê mới nhất của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam: Trung
bình mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 -19, trong
đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Với con số kỷ lục này, Việt Nam trở thành nước
có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên
thế giới.( )
Với những lý do trên, qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy việc trang bị
kiến thức về sức khỏe sinh sản cho các em một cách toàn vẹn thông qua hoạt động
ngoại khóa là cần thiết. Vì vậy, tôi xây dựng chuyên đề “Giáo dục sức khỏe sinh
sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa”.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
A. Cơ sở lý luận:
Giã từ tuổi thiếu nhi vô tư để bước vào tuổi vị thành niên, đó là lúc cơ thể
bắt đầu có những xung năng sinh lý do ảnh hưởng của các hoóc môn sinh dục (tín
hiệu từ bên trong) cũng như những tác động từ bên ngoài như phim ảnh, âm nhạc,
sách báo, giáo dục gia đình (tín hiệu từ bên ngoài). Hai tín hiệu đó đã tạo nên bản
năng tính dục cho các em. Vì vậy, các em trai, em gái tuổi vị thành niên đều có thể
có những biểu hiện của sự bừng tỉnh giới tính rất đặc trưng. Lúc này các em sẽ tự
khám phá về những thay đổi sinh lý của bản thân cũng như có những thắc mắc,
quan tâm, tìm hiểu về người khác phái.
Để các em hiểu những vấn đề sinh lý của chính bản thân mình rõ hơn nhằm
chăm sóc, bảo vệ sức khỏe sinh sản tốt hơn thì về phía gia đình cũng như nhà
trường cần hỗ trợ các em về nội dung kiến thức này thay vì các em tự mày mò, tự

nguyên tắc sau:
Tự giác: Giáo viên phải nhận thấy được công việc mình làm là đúng, là cần
thiết với các em. Lúc đó, giáo viên sẽ thực hiện công việc một cách tự giác. Và khi
công việc được thực hiện một cách tự giác, tự nguyện thì người thực hiện sẽ làm
hết khả năng mình có với tất cả sự say mê để trang bị cho các em những kiến thức
bổ ích.
Phù hợp: Với từng đối tượng, với từng lứa tuổi thì chúng ta cần có phương
pháp cũng như nội dung giáo dục phù hợp. Thông tin đưa ra nên được lựa chọn và
ngắn gọn nhưng rõ ràng.
Hệ thống: Khi giáo dục, giáo viên cũng cần lưu ý, để các em dễ hiểu và tiếp
thu nhanh thì cần phát triển nội dung kiến thức một cách tuần tự, logic.
Cởi mở: Đây là một nội dung tương đối nhạy cảm đối với các em, nên các
em thường rụt rè, bẻn lẽn khi đề cập đến. Do vậy, giáo viên cần tạo không khí buổi
4


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

học cởi mở, sôi nổi bằng cách thực hiện một số trò chơi khởi động để giúp học sinh
tiếp cận nội dung dễ dàng hơn.
Chân thực: Cần phải trả lời các câu hỏi của các em một cách đúng đắn, chân
thực không vòng vo để tránh sự hiểu lầm ở các em.
Tự tin: Cần tạo độ tin cậy vững chắc cho các em. Đây là nguyên tắc quan
trọng vì khi có sự cảm thông, sự tin cậy lẫn nhau sẽ tạo được sự gần gũi. Và lúc
này chúng ta mới thực sự thành công khi giáo dục kiến thức này cho các em.
Trở ngại lớn trong quá trình giáo dục giới tính chính là ngôn ngữ. Để các em
thấy hứng thú và hiểu được, thì ngôn ngữ sử dụng trong khi giáo dục giới tính cần
phải quen thuộc và phù hợp với lứa tuổi của các em. Nếu sử dụng thuật ngữ
chuyên môn thì giáo viên cần phải giải thích hoặc có hình ảnh minh họa.
B. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

Để bảo vệ sức khỏe sinh sản, cần hạn chế điều tiết thủ dâm ở mức thấp nhất.
Chúng ta cần tránh coi phim ảnh truyện sex, cần tập trung vào các công việc học
hành, tham gia sinh hoạt các nhóm bạn, vui chơi giải trí khác lành mạnh, hoặc
luyện tập thao để giảm bớt năng lượng dư thừa giúp quên cơn hỏa dục.
e. Quan hệ tình dục: Còn gọi là giao hợp hay giao cấu, thường chỉ hành vi
đưa bộ phận sinh dục nam/đực vào trong bộ phận sinh dục nữ/cái.
Có hành vi tình dục thâm nhập và hành vi tình dục không thâm nhập.
f. Tình dục an toàn (safe sex): Là hành vi tình dục được thực hiện bởi những
người có sử dụng các biện pháp phòng tránh, để cho máu, tinh dịch, dịch tiết âm
đạo của bạn tình không xâm nhập vào cơ thể.
Tình dục an toàn là hình thức giúp bảo vệ chính bạn, phòng được AIDS,
tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai, lậu, mồng
gà...và ngừa thai.
g. Tránh thai (ngừa thai): là sử dụng những biện pháp khác nhau để ngăn
chặn việc tinh trùng gặp trứng, giúp người phụ nữ không mang bầu sau khi quan hệ
tình dục.
h. Thụ thai và các dấu hiệu khi mang thai:
* Thụ thai: là quá trình hợp nhất giữa một trứng của người mẹ với một tình
trùng của người cha để tạo hợp tử.
* Các dấu hiệu khi mang thai: Mất kinh, cảm thấy mệt mỏi, nôn mửa, đau
ngực, đi tiểu thường xuyên.
Khi có những dấu hiệu này, nghĩa là bạn đã mang thai vì thế tốt nhất là nên
thực hiện một xét nghiệm nhanh chóng và đơn giản bằng que thử thai.
1.2 Những biến đổi sinh lý, tâm lý trong tuổi vị thành niên.
a. Những biến đổi sinh lý
Ở trẻ VTN nữ
- Ngực phát triển, eo thon, hông nở

Ở trẻ VTN nam
- Cơ quan sinh dục phát triển.

đổi tâm

Giới tính

Đầu vị thành niên
(10-14 tuổi)

Giữa vị thành niên Cuối vị thành niên
(14-16 tuổi)
(16-18 tuổi)

- Nữ giới phát triển - Bận tâm về sự hấp - Bận tâm về các
trước nam giới.
dẫn giới tính.
mối
quan
hệ
- Chơi với các bạn - Thường xuyên thay nghiêm túc.
cùng giới tính.

đổi các quan hệ.

- Bản sắc giới tính
- E thẹn, bẽn lẽn và - Hướng đến các quan rõ ràng.
khiêm tốn.
hệ khác giới với sự sợ - Có đủ khả năng
hãi, lo lắng.
phát triển tình yêu.
- Có tính phô trương.
- Quan tâm nhiều đến - Nhạy cảm, dễ bị tổn


- Thử nghiệm các luật - Phát triển thần tượng - Có sự anh minh,
lệ và giới hạn.
và lựa chọn các mẫu hiểu biết sâu sắc.
- Có đôi khi thử hút hình lý tưởng.
- Nhấn mạnh đến
thuốc, uống rượu, hoặc - Hiểu về lương tri.
chân giá trị và tự
các chất kích thích.
- Tự đặt ra được mục trọng.
- Có thể suy nghĩ trừu tiêu.
- Đặt ra mục tiêu và
tượng.
- Quan tâm đến lý lẽ hiện thực hóa mục
7


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

đạo đức.

tiêu.
- Chấp nhận các thể
chế, quy tắc xã hội
và truyền thống văn
hóa.
- Tự điều chỉnh các
ý niệm về giá trị
bản thân


bệnh sẽ lan dần sang các bộ phận sinh dục khác và dẫn tới vô sinh.
8


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

c. Virus papilloma( bệnh sùi mào gà): Đây là một loại virus thường gặp.
Một số chủng papilloma gây mụn cơm ở tay, chân, một số chủng khác lây qua
đường tình dục. Nhiều người nhiễm mà không có biểu hiện gì, nhưng cũng có
nhiều người (cả nam và nữ) phát bệnh sùi mào gà.
Khoảng 1-6 tháng sau khi nhiễm virus, ở cơ quan sinh dục xuất hiện các nốt
sùi, nếu lớn thì trông như mào gà. Phụ nữ mang thai nếu có sùi trong âm đạo thì
việc sinh nở có thể rất khó khăn vì các nốt sùi cản đường ra của bé, đồng thời bé có
thể nhiễm virus của bạn. Điều đáng lo lắng là vẫn chưa có thứ thuốc nào giúp loại
bỏ được thứ virus này, nên dù đã chữa rồi, sùi vẫn có thể mọc lên.
Một số chủng papilloma có thể gây ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật,
dù cơ thể có biểu hiện sùi mào gà hay không.
d. Bệnh nấm hoa: Bệnh này mới xuất hiện từ 10-14 năm gần đây, do loại
nấm bao hoa (chlamydeous) gây ra. Bệnh này không có triệu chứng rõ rệt, không
gây đau đớn. Nấm bao hoa gây viêm nhiễm các tổ chức sinh dục và bài tiết. Sự
viêm nhiễm chỉ lộ ra sau 2 tuần tính từ khi giao hợp. Đàn ông mắc bệnh thường
thấy đau ở bao tinh hoàn, sau đó có thể bị vô sinh. Còn phụ nữ sẽ bị hỏng buồng
trứng và cũng vô sinh.
e. Bệnh trùng roi: Đây cũng là một bệnh sinh dục. Bệnh này vốn không phải
phát sinh từ đàn ông, song người đàn ông trở thành trung gian truyền bệnh cho phụ
nữ. Năm ngày sau khi giao hợp, phụ nữ sẽ bị viêm âm đạo. Đàn ông nếu mang
bệnh này lâu ngày sẽ bị viêm đường niệu đạo. Bệnh trùng roi rất khó chịu song dễ
chữa.
f. Bệnh AIDS: HIV/AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là bệnh
đang thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại, do virus HIV gây nên. Virus HIV hủy

phòng cho việc xuất tinh. Không đeo bao cao su quá rộng so với kích cỡ dương
vật.
Ưu điểm: là biện pháp giúp ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục
một cách hiệu quả nhất. Đạt 98% hiệu quả tránh thai.
Nhược điểm: Có thể gây kích ứng âm đạo.
+ Dùng cho nữ: Bên trong bao có một vòng nhỏ di động, giúp bạn nữ dễ
cho bao vào âm đạo. Vòng lớn hơn ở bên ngoài giữ không cho bao tuột cả vào
trong âm đạo, đồng thời che phủ âm hộ và trùm kín dương vật đến tận gốc khi giao
hợp. Trước khi giao hợp cho bao vào sâu trong âm đạo. Mặc dù bao cao su của nữ
chưa được phổ biến rộng rãi nhưng trong tương lai nó sẽ dễ dàng được tiếp cận
hơn. Cũng như bao cao su nam giới, bao cao su nữ giới chỉ sử dụng một lần.
Ưu điểm: là biện pháp giúp ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục
một cách hiệu quả nhất. Đạt 95% hiệu quả tránh thai.
Nhược điểm: Có thể gây kích ứng âm đạo.
b. Viên uống tránh thai: dành cho nữ, nó ngăn ngừa trứng rụng vào buồng
tử cung. Với thành phần là các hoóc môn oestrogen và progesteron giúp ngăn việc
rụng trứng, có thể đạt hiệu quả tới 99%. Bao gồm viên uống hàng ngày và viên
tránh thai khẩn cấp.
c. Cấy que tránh thai Implanon dưới da: Que tránh thai phát huy tác dụng
sau 48 giờ cấy vào da và có khả năng ngừa thai trong vòng 3 năm. Có hiệu quả cao
hơn 99%.
d. Tiêm thuốc tránh thai: Một mũi thuốc chỉ có tác dụng tránh thai trong
vòng 3 tháng. Hiệu quả tránh thai của thuốc cao.
Nhược điểm: Thuốc có thể gây rong kinh, thậm chí vô kinh. Biện pháp này
không giúp phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục.

10


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

h. Một số biện pháp ngừa thai tự nhiên
Là biện pháp ngăn cản việc thụ tinh mà không cần dùng đến bất cứ một dụng
cụ, thuốc men nào hay một thủ thuật ngừa thai nào.
Nhược điểm: các biện pháp ngừa thai tự nhiên thường có hiệu quả ngừa thai
thấp, tỉ lệ thất bại cao và không tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình
dục.
11


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

* Tính ngày rụng trứng: Theo dõi chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ để
ước tình thời gian, hòan toàn có khả năng thụ thai cao để tránh giao hợp hoặc có
thể sử dung một biện pháp hỗ trợ (bao cao su) trong thời kì này. Đối với người có
chu kỳ kinh nguyệt từ 28-30 ngày thì ngày rụng trứng thường bắt đầu từ ngày thứ
12-16. Vì vậy, 1/3 cuối của chu kỳ kinh sẽ không thụ thai.
Ưu điểm: không tốn kém, không ảnh hưởng đến sức khỏe.
Nhược điểm: Hiệu quả ngừa thai thấp. Chỉ áp dụng cho người có kinh
nguyệt đều đặn.
* Kiêng giao hợp âm đạo: Giao hợp âm đạo là hành động có dương vật ở
trong âm đạo. sinh hoạt tình dục không giao hợp âm đạo chỉ có sự vuốt ve, âu yếm
tạo khoái cảm tình dục, tránh không cho dương vật vào trong âm đạo. Hiệu quả của
phương pháp này phụ thuộc vào cách thức thực hiện.
* Xuất tinh ngoài âm đạo: Phương pháp này còn gọi là giao hợp gián đoạn,
nghĩa là dương vật phải đưa ra khỏi âm đạo trước khi xuất tinh, việc phóng tinh sẽ
được thực hiện ở bên ngoài âm đạo.
* Thời kỳ cho con bú: Nếu thời gian sinh con chưa được 6 tháng, chưa có
kinh trở lại và đang cho con bú hoàn toàn thì có thể ngừa thai. Hiệu quả ngừa thai
kém.
1.5. Giáo dục về giá trị sống:

- Tổ chức tư vấn cho nữ/nam học sinh, kết hợp xem một số đoạn video, clip
- Tổ chức tư vấn cho cả nam và nữ học sinh: thuyết trình, kết hợp với một số
trò chơi.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.
1. Kết quả trước và sau khi tổ chức chuyên đề ở trường PT Dân Tộc Nội
Trú (đối tượng được tác động):
Chỉ tiêu so sánh

Trước khi tổ chức chuyên
đề

Sau khi tổ chức
chuyên đề

125

125

Tổng phiếu thăm dò

% phiếu đúng % phiếu sai

% phiếu
đúng

% phiếu
sai

Về khoảng độ tuổi dậy thì
của người Việt Nam


5,6%

Khi nào quan hệ tình dục thì
có thể có thai khi không có
biện pháp ngừa thai

45,6%

54,4%

76%

24%

2. Kết quả lần 1 và lần 2 ở trường THPT Trần Quốc Tuấn (đối tượng
không được tác động):
Chỉ tiêu so sánh
Tổng phiếu thăm dò

Lần 1

Lần 2

90

90
13




15%

Về khoảng thời gian dễ xảy
ra thụ thai tính theo chu kỳ
kinh của phụ nữ

16,8%

83,2%

41,1%

58,9%

Khi nào quan hệ tình dục thì
có thể có thai khi không có
biện pháp ngừa thai

45,6%

54,4%

43,3%

46,7%

3. Nhận xét về kết quả phiếu điều tra:
So sánh kết quả phiếu điều tra ở hai nhóm đối tượng (được giáo dục và
không được giáo dục giới tính) tôi nhận thấy:

Do được phân công tìm hiểu trước và yêu cầu phải thuyết trình do vậy học
sinh đã biết được nhiều biện pháp ngừa thai hơn, cũng như hiểu rõ cơ chế của mỗi
biện pháp và sưu tầm thêm các biện pháp ngừa thai ngoài nội dung bài dạy.
Khi được giáo dục về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, qua các kênh
hình học sinh quan sát, ngoài việc học sinh biết thêm về kiến thức, thấy được hậu
quả của các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ đó các em ý thức rõ hơn là
mình có nên quan hệ tình dục trước hôn nhân hay không.
Điểm đặc biệt của chuyên đề này là giáo dục cho học sinh về giá trị sống,
học sinh biết phải thực hiện như thế nào để khẳng định giá trị đạo đức của bản thân
và biết tôn trọng quyền sống của một mầm sống. Qua một đoạn miêu tả về ca nạo
phá thai của trang blooc cá nhân của một sinh viên y thực tập tại khoa phụ sản và
một clip “cha me xin lỗi con” học sinh sẽ có cách nhìn nhận về quan hệ tình dục,
về nạo phá thai đúng đắn hơn.
Thiết nghĩ, qua các buổi giáo dục về giới, về sức khỏe sinh sản học sinh sẽ
lựa chọn cho mình một giải pháp tốt để bảo vệ mình và người yêu thương.
b. Với nhóm không được tác động (học sinh trường THPT Trần Quốc
Tuấn):
Kết quả của hai đợt thăm dò không mấy thay đổi, thậm chí có sự giảm số
liệu ở đợt hai, điều này chứng tỏ kiến thức về sinh sản của các em còn rất hạn chế,
do vậy có những đáp án các em ngẫu nhiên chọn đúng.
Cũng như học sinh trường Nội Trú các em không xác định đúng độ tuổi dậy
thì cũng như không biết khoảng thời gian dễ xảy ra thụ thai khi quan hệ tình dục
dựa theo chu kỳ kinh của phụ nữ và đa số chỉ biết 2 biện pháp ngừa thai phổ biến
là uống thuốc tránh thai và sử dụng bao cao su.
Điều đáng lo ngại ở đây là có 20 trong tổng số 90 phiếu trả lời là đã có quan
hệ tình dục. Vậy nên chăng chúng ta cần tổ chức các buổi ngoại khóa về vấn đế
này để các em có thể phòng được các bệnh lay truyền qua đường tình dục, cũng
như có thể giảm thiểu những trường hợp quan hệ tình dục trước hôn nhân.
15



17


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

V. PHỤ LỤC
“Tình dục là gì” - Nên hay không?

Hãy giáo dục giới tính cho con càng sớm càng tốt
Tuổi quan hệ tình dục
giảm, tỷ lệ nạo phá thai
tăng
Trên thế giới, hàng năm có
khoảng 70.000 phụ nữ chết do
nạo phá thai không an toàn.
Trong số bệnh nhân phải vào
viện do biến chứng nạo phá
thai thì tuổi vị thành niên
chiếm 60%.
Tại Việt Nam, độ tuổi QHTD
của thanh niên đang giảm
xuống, còn đáng báo động là
tình trạng nạo phá thai ở nữ
thanh thiếu niên lại có chiều
hướng gia tăng. Trong khoảng
1,2 - 1,4 triệu ca nạo phá thai
hàng năm, có tới 120.000
trường hợp là trẻ vị thành
niên.

hoảng thì thầm với tôi: “Chị ơi, em với anh ấy quan hệ và em “không thấy”
từ hai tháng nay rồi. Uống thuốc gì hả chị?” Tôi tròn mắt hỏi lại: “Uống
thuốc gì là thế nào?” “Là để không có thai nữa. Em thấy bảo có cái thuốc gì
mà uống sau khi quan hệ sẽ tránh thai được ấy...”
Học đến lớp 12 rồi mà cậu thanh niên kia vẫn muốn “thử” để cho biết, để
xem có con được hay không, nghĩa là chưa được ai nói về chuyện đó một
cách đúng đắn và nghiêm túc. Còn cô em họ đã trưởng thành của tôi thì vẫn
không hề biết tý gì về loại thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ có tác dụng trong
vòng nhiều nhất là 72 giờ.
Có bao nhiêu bạn trẻ “không được biết” như vậy? Và theo những ông bố, bà
mẹ, những người trực tiếp nuôi dạy con cái từ nhỏ thì đến khi nào nói với
con “chuyện ấy” mới thích hợp?
Khi nào con nên biết?
Ông Đặng Huy, kỹ sư xây dựng quan niệm: “18 tuổi thì nên dạy. Và con gái
thì mẹ dạy, còn bố sẽ nói chuyện với con trai. Cùng giới với nhau dễ chia sẻ
những chuyện tế nhị”.
Anh Nguyễn Văn Chiên ở Hải Dương, một ông bố trẻ có hai cô con gái
cũng suy nghĩ như vậy: “Vợ và mẹ tôi phải có trách nhiệm ấy. Nhưng tôi
bảo phải đợi đến lúc hai đứa được 17, 18 tuổi hãy nói, không thể sớm hơn
được”.
Hai đứa con nhà chị Bích Huyền ở Lê Phụng Hiểu, Hà Nội đều đang học
phổ thông. Mỗi khi ở trường có buổi học về giới tính, chị đều viện các lý do
khác nhau để đón con về: “Tôi thấy giảng trước lớp cho cả cháu nam và
cháu nữ cùng nghe là không ổn, làm các cháu ngượng và xấu hổ. Đọc sách
thì tốt hơn, tự nhiên hơn, có gì không hiểu thì hỏi cô giáo để cô trả lời
riêng”…
Và sự né tránh, muộn màng trong cách dạy con về giới tính của các ông bố,
19




+ Nam: Khoảng 13 – 15 tuổi

Khoảng 15 – 17 tuổi

Khoảng16 - 18 tuổi

Câu 5: Khoảng từ độ tuổi nào trở đi, thì khi thực hiện quan hệ tình dục có thể dẫn
đến có thai?
A. Bất kể tuổi nào miễn xảy ra quan hệ tình dục.
B. Từ độ tuổi dậy thì trở.
20


Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

C. Từ độ tuổi trưởng thành trở đi.
D. Không biết.
Câu 6: Theo bạn, nếu không có biện pháp ngừa thai thì câu nào sau đây là đúng?
A. Có thai ngay lần đầu quan hệ tình dục.
B. Có thai ở quan hệ tình dục lần thứ 2 hoặc lần thứ 3
C. Cứ quan hệ là có thai.
D. Quan hệ nhưng có thể không có thai.
Câu 7: Dựa theo chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, nếu không có biện pháp ngừa thai
thì khoảng thời gian nào thì khi quan hệ tình dục sẽ dễ dẫn đến thụ thai và có thai?
A. 1/3 thời gian đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
B. 1/3 thời gian giữa của chu kỳ kinh nguyệt.
C. 1/3 thời gian cuối của chu kỳ kinh nguyệt.
D. Không biết.
Câu 8: Bạn đã biết những biện pháp ngừa thai nào?

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status