BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Văn Trường
MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH
HOA KỲ- TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á
SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Văn Trường
MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH
HOA KỲ- TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á
SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991-2010)
Chuyên ngành
Mã số
: Lịch sử thế giới
: 60 22 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
2.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 10 năm đầu sau chiến tranh lạnh ............. 24
2.2. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á .............................................. 27
2.2.1. Trong lĩnh vực chính trị ........................................................................ 30
2.2.2. Trong lĩnh vực quân sự - an ninh .......................................................... 32
2.2.3. Trong lĩnh vực kinh tế ........................................................................... 35
2.3. Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á ....................................... 37
2.3.1. Mở đường xuống Biển Đông ................................................................ 37
2.3.2. Tăng cường hợp tác với ASEAN .......................................................... 43
2.3.2.1. Hợp tác Đông Á (ASEAN+3) ...................................................... 43
2.3.2.2. Hợp tác ASEAN-Trung Quốc (ASEAN+1)................................. 46
2.3.3. Vai trò Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á .... 48
Chương 3: MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH HOA KỲ-TRUNG QUỐC Ở
ĐÔNG NAM Á NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI (2001-2010).... 55
3.1 Chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á ........................................ 55
3.1.1. Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm ở Đông Nam Á .......................... 55
3.1.2. Trung Quốc tìm cách độc chiếm Biển Đông ........................................ 64
3.2. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á .............................................. 71
3.2.1. Tăng cường quan hệ thương mại với ASEAN ..................................... 74
3.2.2. Mĩ - Đông Nam Á hợp tác Trong lĩnh vực quân sự - an ninh.............. 79
3.3. Triển vọng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ- Trung Quốc ở Đông Nam Á
(2010 đến nay) ............................................................................................. 91
3.3.1 Chiến lược quay lại Đông Nam Á của tổng thống Obama .................... 91
3.3.2 Phản ứng của Trung Quốc trước sự trở lại Đông Nam Á của Hoa Kỳ 100
3.4. Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Đông Nam Á
và Việt Nam ................................................................................................. 105
3.4.1. Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Đông
Nam Á ................................................................................................. 105
3.4.2. Ảnh hưởng mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc đến Việt
Mĩ-Xô. Cùng với nhiều khu vực khác, Đông Nam Á trở thành điểm nóng, chiến
trường khốc liệt trong cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai siêu cường lớn nhất lúc
bấy giờ. Minh chứng cho điều này chính là việc Hoa Kỳ đã thiết lập ở đây nhiều
liên minh quân sự, khối quân sự để ngăn ngừa ảnh hưởng của Liên Xô ở khu vực
này. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực IANTA sụp đổ, Hoa Kỳ trở
thành siêu cường duy nhất trên thế giới. Mặc dù có nhiều sự thay đổi, điều chỉnh về
mặt chiến lược của các đời tổng thống khác nhau. Nhưng Đông Nam Á dù ít, dù
nhiều vẫn luôn dành được sự quan tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi Mỹ là siêu cường mạnh nhất thế giới hiện nay
đã luôn quan tâm tới Đông Nam Á.
Trong khi đó, do có sự gần gũi về địa lý và văn hóa nên Trung Quốc từ lâu
đã là một đối tác quan trọng của ASEAN cả về kinh tế, chính trị và văn hóa. Trong
nhiều năm gần đây, Trung Quốc với tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt và những
biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đang vươn lên trở thành một trong những
cường quốc trên thế giới. Theo tính toán của Tổng cục thống kê Trung Quốc, Trung
Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới về
quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP), chỉ đứng sau Mỹ. Trung Quốc hiện đã là
"công xưởng" của thế giới; theo dự đoán của các chuyên gia, đến năm 2040 sẽ vượt
qua Mỹ để trở thành nước có quy mô GDP lớn nhất thế giới. Trung Quốc đang giữ
kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục trong nhiều năm và về tốc độ tăng
trưởng cao, cứ khoảng 8 năm là GDP tăng gấp đôi.
Khi vai trò của Đông Nam Á ngày càng gia tăng thì quan hệ cạnh tranh chiến
lược của hai cường quốc Hoa Kỳ - Trung Quốc tại khu vực này càng trở nên quan
trọng hơn bao giờ hết . Cả hai cường quốc dù bằng nhiều cách khác nhau đều muốn
gia tăng ảnh hưởng đối với các quốc gia Đông Nam Á. Cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung không chỉ ảnh hưởng tới hai quốc gia, tới khu vực Đông Nam Á mà còn có
tác động tới toàn bộ đời sống chính trị quốc tế. Bất cứ sự tranh chấp nào giữa hai
cường quốc đều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh hòa bình vốn có của
Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó, do nhận được sự quan
quốc hàng đầu thế giới tại một trong những khu vực có tốc độ phát triển cao trên đã
được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên những tác phẩm và
bài viết chủ yếu tìm hiểu từng mảng thời gian, không gian cụ thể, hay phân tích
chính sách của Hoa Kỳ và Trung Quốc đối với khu vực trong những khoảng thời
gian nhất định.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu có qui mô lớn về quan hệ cạnh tranh
Hoa Kỳ – Trung Quốc tại Đông Nam Á chưa xuất hiện song các nhà nghiên cứu
Quan hệ quốc tế đã có nhiều bài nghiên cứu ngắn, bài viết phân tích về quan hệ Mỹ
-Trung nói chung và tại khu vực Đông Nam Á nói riêng. Các ấn phẩm, tạp chí
chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Tạp chí
nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc đã đăng nhiều bài viết
phân tích mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc, đặc biệt sau sự trỗi dậy của Trung
Quốc. Một số tài liệu, bài viết có thể kể tên như:
“Mỹ, Trung Quốc và Biển Đông đầy sóng gió” của tác giả Lê Phước trên
Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số tháng 8, năm 2010. Trong bài viết tác giả đề cập đến
những tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông. Khi Trung Quốc tuyên bố 80% chủ
quyền trên vùng biển này. Các nước tranh chấp lo ngại sự hung hăng của Trung
Quốc nên luôn tìm cách quốc tế hóa vấn đề. Còn Hoa Kỳ thì tìm thấy cơ hội tái lập
ảnh hưởng trong khu vực. Bài viết giúp chúng ta thấy được những căng thẳng, nguy
cơ tiềm ẩn xung đột giữa các bên ở Biển Đông. Khi những mỹ từ không còn có giá
trị nữa và khi vũ khí lên tiếng, thì rõ ràng Biển Đông sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm
trong những ngày tháng tới.
“Đông Nam Á, nơi giao thoa lợi ích của Mỹ và Trung Quốc” của tác giả
Tuấn Anh trên Báo Đất Việt, ngày 12 tháng 10 năm 2010: tác giả phân tích vai trò,
vị trí Đông Nam Á ngày càng có vai trò quan trọng với thế giới, trở thành khu vực
cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn trong thời gian hiện nay, đặc biệt giữa Hoa
Kỳ và Trung Quốc. Đặc điểm nổi bật là sự trỗi dậy không ngừng của Trung Quốc
và sự tái can dự của Mỹ ở Đông Nam Á. Các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á đang
Jakarta đăng lại ngày 29/9/2010 đã phân tích một cách sâu sắc, góp phần giúp
chúng ta hiểu hơn thái độ ứng xử của các bên về vấn đề Biển Đông; cách tiếp cận và
tác động của việc Mỹ tăng cường can dự vào khu vực đối với mối quan hệ ba bên
ASEAN – Mỹ – Trung Quốc; trở ngại trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc và
phương cách để hai bên có thể hợp tác tốt hơn trong việc đối phó với những thách
thức chung. Ngoài ra, Ở trên nhiều phương tiện truyền thông, báo chí nước ngoài
cũng thường xuyên cập nhật diễn biến mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung
Quốc ở Đông Nam Á như Tân Hoa Xã ( Trung Quốc), BBC ( Anh), RFI ( Pháp),
CNN (Mĩ)…v.v.
3. Giới hạn đề tài
Trong đề tài này, chúng tôi không có tham vọng trình bày tất cả những mối
quan hệ cạnh tranh Hoa Kì – Trung Quốc ở tất cả các khu vực trên thế giới. Chúng
tôi chỉ giới hạn mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kì – Trung Quốc ở Đông Nam Á. Cạnh
tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc ở đây được hiểu là Trung Quốc đang cố gắng thực hiện
mục tiêu loại bỏ ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung,
Đông Nam Á nói riêng, trước hết là ở Biển Đông. Còn Hoa Kỳ tìm mọi cách kiềm
chế ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Đông Nam Á nói riêng và châu Á
– Thái Bình Dương nói chung.
Về thời gian, đề tài chỉ giới hạn trong những sự kiện xảy ra từ khi chiến tranh
lạnh kết thúc đến nay. Những sự kiện trước thập niên 90 của thế kỉ XX được xem là
dẫn nhập.
Về không gian, đề tài giới hạn trong vùng lãnh thổ thuộc các quốc gia Đông
Nam Á. Đông Nam Á hiện nay bao gồm 11 nước, trong đó có 10 nước là thành viên
của tổ chức ASEAN. Nước còn lại chưa tham gia tổ chức khu vực này là Đông
Timo.
4. Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đứng
trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích, nhìn
Chương 1: Các nước Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì và
Trung Quốc
Chương 2: Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc ở Đông Nam Á
mười năm đầu sau chiến tranh lạnh (1991-2001)
Chương 3: Mối quan hệ cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc những năm đầu thế
kỉ XXI (2001 – 2010)
Chương 1: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TRONG CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KÌ VÀ TRUNG QUỐC
1.1. Vị trí địa - chiến lược của khu vực Đông Nam Á
Khái niệm Đông Nam Á xuất hiện từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II;
là khu vực nằm ở phía nam Trung Quốc, đông Ấn Độ, bắc Australia trên vùng nhiệt
đới giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đông Nam Á hiện nay bao gồm 11
nước, có 5 nước trên lục địa và 6 nước ở quần đảo với hơn 2 vạn đảo lớn nhỏ; diện
tích 4,52 triệu km2 đất liền và 4 triệu km2 biển. Dân số gần 500 triệu người gồm
nhiều dân tộc, trong đó có 3 dân tộc lớn là Thái, Việt và Inđônêdiêng. Riêng số
người Hoa di cư đến khu vực này rất đông (có thể nói là đông nhất thế giới), với
hơn 20 triệu Hoa kiều và 20 triệu người gốc Hoa. Trong khu vực có 2 tôn giáo
chính là đạo Phật và đạo Hồi (dân lục địa chủ yếu theo đạo Phật, dân quần đảo chủ
yếu theo đạo Hồi); ngoài ra còn có đạo Thiên Chúa, Tin Lành... ở rải rác khắp các
nước trong khu vực. Tuy vậy, không có đạo nào có địa vị lớn chi phối đời sống
chính trị, mà chỉ có tác động về chính trị và tinh thần ở mức độ nhất định. Từ thế kỷ
18, Đông Nam Á là thuộc địa của các đế quốc. Trải qua quá trình đấu tranh chống
ách đô hộ của đế quốc với mức độ quyết liệt khác nhau, ngày nay tất cả các nước
đều đã giành được độc lập và có ý thức liên kết với nhau trong khuôn khổ ASEAN,
trở thành một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới và đang có ảnh
hưởng ngày càng tăng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Đông Nam Á là khu vực gồm những nước có nền kinh tế đang phát triển, có
nhiều tài nguyên chiến lược quan trọng, trữ lượng lớn, có nhân lực đông, giá nhân
triệu thùng dầu lửa được chuyển qua. Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là
yết hầu trong giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hóa của
Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42% (còn tính cả nhập khẩu thì chiếm
75%), các nước Đông Nam Á chiếm 55%, các nước công nghiệp mới là 26%,
Australia là 40% và Trung Quốc là 22% giá trị xuất khẩu của các nước đó. Riêng
Nhật Bản, hàng năm hàng hóa xuất khẩu và dầu lửa mua từ Trung Đông (chiếm
70% dầu nhập khẩu) đi qua con đường này có giá trị 225 tỷ USD. Tuy ít hơn, song
các nước châu Âu cũng sử dụng tuyến đường biển trên cho khoảng 7% hàng xuất
nhập khẩu, Mỹ khoảng 3,3%. Tính chung, lượng hàng hóa hàng năm của thế giới
phải đi qua tuyến đường biển chiến lược châu Á có trị giá khoảng 568 tỷ USD,
chiếm 15% tổng trị giá thương mại thế giới. Hiện nay, 1/4 giá trị thương mại bằng
đường biển toàn cầu đi qua khu vực này. Nếu khu vực này mất an ninh, các loại tàu
biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua nam Australia thì cước phí vận tải sẽ
tăng gấp 5 lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Biển Đông là một khu vực chứa đựng trong lòng nó nguồn tài nguyên to lớn.
Về trữ lượng dầu mỏ theo tính toán là 4 tỷ m3 và khoảng 300 tỷ m3 khí đốt (đứng
thứ hai so với khu vực Trung Đông). Thêm vào đó, nguồn dự trữ tiềm tàng là những
khu vực sản xuất bao quanh (khu vực nam Côn Sơn, Thanh Long, Đại Hùng ở
ngoài khơi Việt Nam, Natuna ở phía bắc Indonesia...). Về hải sản, đây là một vùng
có ngư trường phong phú và nhiều tiềm năng. Về khoáng sản, có rất nhiều khoáng
sản quý hiếm đã được phát hiện nằm dưới đáy biển. Theo con số điều tra của ủy ban
kinh tế của Liên Hợp Quốc về châu Á và Viễn Đông (ECAFE); dưới đáy biển Đông
có nguồn dự trữ lớn về dầu hỏa và khí hydro - carbons. Chỉ tính riêng thềm lục địa
xung quanh Trường Sa đã có trữ lượng khoảng 25 tỷ mét khối gas, 105 tỷ thùng dầu
và 300 nghìn tấn phốt pho... Biển Đông là biển nhiệt đới nên có trữ lượng cá và hải
sản rất lớn, chỉ tính riêng quanh quần đảo Trường Sa có thể cung ứng mỗi năm 7,5
triệu tấn cá, đem lại nguồn lợi hàng tỷ đô la.
Quần đảo Trường Sa nằm ở vị trí gần trung tâm biển Đông và có vị trí địa chiến lược hết sức quan trọng. Ai kiểm soát được Biển Đông nói chung và Trường
(EAS)… Từ những mối quan hệ này, ASEAN đã tranh thủ được sự hợp tác, hỗ trợ
từ bên ngoài, đem lại nhiều lợi ích phục vụ mục tiêu ổn định chính trị và phát triển
kinh tế cho toàn khu vực cùng các nước thành viên. Cho dù toàn khu vực có khi gặp
phải những thử thách lớn lao như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997-1998,
song với sự hợp sức, ASEAN đã khắc phục được tương đối có hiệu quả. Tất cả
những thành công trên làm tăng sức hấp dẫn và vị thế của khu vực trên thế giới
cũng như trong “cuộc chơi” của các cường quốc.
1.2. Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc
Sau chiến tranh lạnh , Đông Nam Á càng nổi lên là một khu vực có vị trí
chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết các nước lớn, nhất là
Mỹ và Trung Quốc. Bởi Đông Nam Á nằm trên tuyến đường biển nối liền các khu
vực có tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự như Đông Bắc Á, Ấn Độ, Trung Đông,
Australia và nhiều nước thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, tiềm lực kinh tế của đại đa số các quốc gia trong khu vực liên
tục tăng trưởng ở mức cao, các hình thức liên kết và hợp tác giữa các thành viên
trong khối ASEAN không ngừng được đẩy mạnh, tạo cho khu vực Đông Nam Á trở
thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực châu Á-Thái Bình
Dương
Trước những yếu tố đầy tiềm năng trên đã đưa Đông Nam Á trở thành một
mảnh đất có vị trí chiến lược quan trọng, tạo “bước đệm” vô cùng quan trọng trong
chiến lược vươn rộng ra khu vực châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu của cả
Hoa Kì và Trung Quốc.
Giới phân tích chính trị thế giới, trong đó bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc đã
nhận định, Đông Nam Á là một khu vực quan trọng tác động trực tiếp tới chiến lược
vươn rộng ra toàn khu vực châu Á và là điểm chiến lược quan trọng trong chiến
lược kiềm chế lẫn nhau hay đối sách giữa Mỹ và Trung
1.2.1. Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ
Theo quan điểm của Hoa Kỳ, Châu Á – Thái Bình dương trong đó có Đông
một cơ chế an ninh 4 cấp gồm: liên minh Mỹ - Nhật làm nền tảng; liên minh Mỹ Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines và Australia là các mắt xích quan trọng; hợp tác
quân sự với các nước thân thiện như Singapore và Indonesia; tăng cường quan hệ
quân sự với các nước khác ở khu vực. Tuy nhiên, cơ chế này chưa đủ sức để tạo sức
mạnh răn đe và kiềm chế trong khu vực và do đó, Đông Nam Á là địa điểm mà
thông qua đó Mỹ tìm cách để thiết lập một cơ chế quân sự đa phương hay nói đúng
hơn là một liên minh quân sự mới [75, tr. 6-9].
Hơn nữa, Đông Nam Á là một bàn đạp lợi hại để cô lập Trung Quốc, kiềm
chế sự trỗi dậy cả về kinh tế và quân sự của Trung Quốc, ngăn chặn ảnh hưởng, bảo
vệ an ninh và quyền lợi của Mỹ trong khu vực đặc biệt là những đông minh quan
trọng như Hàn Quốc, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan.
Phần lớn dầu mỏ mà Trung Quốc cần cho phát triển kinh tế đều thông qua
Biển Đông để vận chuyển từ vùng Vịnh và châu Phi về nước. Việc tăng cường sự
có mặt của quân đội Mỹ ở khu vực này là nhằm gây áp lực đối với tuyến đường vận
chuyển dầu mỏ thông qua vùng Biển phía nam Trung Hoa. Để bảo đảm khống chế
đường giao thông quan trọng trên biển, Mỹ luôn muốn duy trì quyền đi lại tự do đối
với các vùng biển đang tranh chấp chủ quyền, không thừa nhận đòi hỏi chủ quyền
của bất cứ quốc gia nào đối với vùng biển này. Vì vậy, hàng năm đều phải thông
qua việc qua lại của các chiến hạm hoặc diễn tập quân sự ở Biển Đông, để bảo đảm
“quyền đi lại tự do trên vùng biển này của hải quân Mỹ”.
1.2.2. Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc
Với diện tích lớn, dân số đông, vị trí trung tâm, tiềm lực kinh tế mạnh, Trung
Quốc đang trỗi dậy và trở thành quốc gia có vai trò bản lề trong các công việc ở
Châu Á. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia láng giềng gần gũi, thân cận và lâu đời
nhất đối với khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc luôn tìm cách phát huy ảnh hưởng
của mình xuống khu vực này vì đây là lối đi dễ nhất để vươn ra Thái Bình Dương.
Có thể nói, với vị thế một láng giềng sát kề Trung Quốc, giàu có về tài nguyên cũng
như nắm vị trí địa-chiến lược trên tuyến đường hàng hải trọng yếu của quốc tế,
Đông Nam Á trở thành “cửa ngõ” phương Nam của Trung Quốc. Tiến về phía Tây
[155].
Trung Quốc hiện đang là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ chiếm 1/3 nhu
cầu toàn thế giới. “Năm 2010, số lượng dầu thô quốc gia tỷ dân này tiêu thụ thực tế
là 439 triệu tấn, tăng 13,1%. 55% trong số đó, tương đương 260 triệu tấn là Trung
Quốc phải nhập khẩu” [154]. Nhu cầu luôn tăng lên không ngừng song nguồn dự
trữ xăng dầu chiến lược của nước này lại ở mức rất thấp lại còn bị phụ thuộc vào
nguồn cung. Hiện nay, Trung Đông cung ứng khoảng 2,9 triệu thùng mỗi ngày,
chiếm hơn một nửa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc, trong đó, nguồn dầu Ả
Rập chiếm xấp xỉ 1,1 triệu thùng mỗi ngày. Và Trung Quốc, năm 2009, đã vượt Mỹ
để trở thành quốc gia nhập khẩu dầu mỏ Ả Rập lớn nhất thế giới. Đến năm 2007,
Trung Quốc cũng bắt đầu nhập khẩu khí đốt sau hai thập kỉ tự túc. Vì thế, nếu Bắc
Phi và Trung Đông có bất ổn sẽ khiến việc cung ứng dầu mỏ cho Trung Quốc gặp
nhiều khó khăn.
Trước nhu cầu trong nước tăng cao cùng những xung đột ở các nước xuất
khẩu dầu mỏ là động lực mạnh mẽ khiến Trung Quốc sốt sắng đi tìm những nguồn
cung ứng dầu mỏ khác. Cơn khát dầu khí phục vụ cho phát triển kinh tế đang trỗi
dậy đã thúc đẩy quốc gia tỷ dân gây ảnh hưởng ra bên ngoài, nhắm đến những nơi
có nguồn tài nguyên này. Đương nhiên, Biển Đông đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó của
Trung Quốc, lại có lợi thế “láng giềng”. Và dù là quốc gia tiêu thụ dầu nhiều nhất
khu vực song chính Trung Quốc lại chưa khai thác được nguồn dầu mỏ ngay trong
Biển Đông. Theo tạp chí “thế giới hải dương” của Trung Quốc số tháng 1/2008
cũng thừa nhận “Trung Quốc đến nay vẫn thực sự chưa tiến hành khai thác gì về tài
nguyên dầu khí ở Nam Hải. Phạm vi hoạt động ở Nam Hải của Tổng công ty dầu
khí Hải dương Trung Quốc-chủ lực về khai thác tài nguyên dầu khí hải dương của
Trung Quốc-mới chỉ hạn chế ở khu vực biển gần, còn cách rất xa khu vực biển đang
có tranh chấp ở Nam Hải” [81, tr.6].
Cuối năm 2010, quốc gia này cũng bắt đầu đưa ra kết quả thăm dò dầu khí ở
Biển Đông và rất lạc quan về kết quả ban đầu ấy. “Zhou Dadi, nguyên Viện trưởng
thành lập nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á. Cùng phối hợp
với lực lượng cách mạng Việt Nam, nhân dân Lào cũng nổi dậy giành chính quyền
và ngày 12.10.1945, Lào tuyên bố độc lập. Phong trào đấu tranh còn diễn ra mạnh
mẽ ở Miến Điện, Mã Lai, Philippines và nhiều nước khác. Điều này làm dấy lên lo
ngại cho Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đặc biệt trước nguy cơ lan rộng của chủ
nghĩa cộng sản từ Đông Dương ra toàn khu vực.
Ngoài việc phải đương đầu với các nổi dậy có thể xảy ra bất kỳ lúc nào của
nhân dân bản địa, các cường quốc phương Tây, đứng đầu là Mỹ còn phải đối diện
với sự trỗi dậy lớn mạnh của lực lượng Cộng sản. Hoàn toàn không dễ dàng tìm
cách giải quyết vấn đề như đã từng xử lý “chủ nghĩa dân tộc” trước kia, cuộc chiến
hiện nay mà họ đang theo đuổi khó khăn hơn nhiều. Đó thực sự là bộ phận của cuộc
chiến toàn cầu khi có sự tham gia cả hai siêu cường trong bối cảnh chiến tranh lạnh.
Khi đó, Đông Nam Á sẽ trở thành đấu trường quan trọng thi thố sức mạnh và vị thế
hai bên. Nước Mỹ chắc chắc sẽ chuẩn bị rất nhiều cho đợt đối đầu này. Điều đó
buộc các nhà hoạch định chiến lược Mỹ phải xem xét và phân tích tình hình để có
đối sách kịp thời.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, với ý đồ vươn lên làm bá chủ thế giới, Mỹ
đã đề ra chiến lược toàn cầu mà một trong những trọng tâm là khu vực châu Á-Thái
Bình Dương. Trên bình diện tổng quát, Mỹ cho rằng Đông Nam Á là một trong
những khu vực địa lí chính trị trọng yếu dứt khoát phải nằm trong tầm kiểm soát
của Mỹ.
Tuy nhiên, sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) đã làm
đảo lộn toàn bộ tính toán chiến lược của Mĩ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Lúc đầu, Mĩ dự tính sẽ hình thành thế liên
minh chống cộng với Trung Quốc ở vùng Viễn Đông nên sẵn sàng chấp nhận tiêu
tốn tiền bạc, ủng hộ thế lực Tưởng Giới Thạch. Nhưng trong cuộc chiến đó, Tưởng
Giới Thạch đã không giành chiến thắng trước quân cách mạng.
Đã vậy, sau khi giành được độc lập, nước cộng hòa mới này còn công khai
cũng tăng cường xây dựng mối quan hệ quân sự với khu vực Châu Á Thái Bình
Dương trong đó bao gồm cả Đông Nam Á nhằm mục đích kiềm chế sự bành trướng
của chủ nghĩa cộng sản lan tỏa ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Tổ chức phòng thủ
Đông Nam Á hay liên minh phòng thủ Đông Nam Á được thành lập tháng 9 năm
1954, là một phòng tuyến quan trọng của Mĩ và phương Tây ngăn chặn chủ nghĩa
cộng sản đồng thời bao vây kiềm tỏa Trung Quốc từ hướng Nam.
Từ cuối thập niên 50 đến thập niên 60 của thế kỷ XX, tình hình địa-chính trị
của Trung Quốc và quốc tế thay đổi. Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa môi trường quốc
tế của Trung Quốc và xu hướng “cực tả” bắt đầu nghiêm trọng trong nội bộ đất
nước đã khiến cho quốc gia này chuyển chiến lược ngoại giao từ “nhất biên đảo”
sang “hai nhiệm vụ” chống Liên Xô và chống Mỹ.
Do đó, để tránh sự tấn công từ hai phía và thoát khỏi cục diện bị động trên
mặt trận ngoại giao, Trung Quốc đã chuyển trọng tâm ngoại giao sang các nước ở
“giữa hai vòng kìm kẹp”, tức các nước thuộc “thế giới thứ ba”. Mao Trạch Đông đã
đưa ra học thuyết về “ba thế giới” như sau “thế giới thứ nhất là Mỹ và Liên Xô, là
thế giới siêu cường, là kẻ bóc lột quốc tế lớn nhất trong thời đại ngày nay; thế giới
thứ hai là các quốc gia tư bản chủ nghĩa có tính “hai mặt”, vừa mâu thuẫn, vừa
liên kết với thế giới thứ nhất; thế giới thứ ba gồm hơn 100 quốc gia ở Á, Phi, Mỹ
Latinh và Nam Âu, chiếm 2/5 diện tích và 3/4 dân số thế giới, là các nước bị siêu
cường áp bức, bóc lột, khống chế. Trung Quốc thuộc thế giới thứ ba, cùng các nước
này chống lại siêu cường Xô-Mỹ” [61, tr.350]. Vì thế, quan hệ ngoại giao Trung
Quốc với các nước Á-Phi-Mỹ Latinh luôn được duy trì ở trạng thái hữu nghị, quốc
gia này lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước như Campuchia, Lào,
Cuba…Đặc biệt Trung Quốc tìm mọi cách gia tăng ảnh hưởng ở khu vực Đông
Nam Á – một vùng đệm nằm sát sườn Trung Quốc!
Là cường quốc từng theo đuổi giấc mộng bá quyền khu vực, tư tưởng Đại
Hán từ lâu đã ngự trị trong tâm khảm các nhà cầm quyền nước này. Vào thời phong
kiến, theo khuynh hướng “Nam Tiến”, họ đã từng mở rộng quyền lực xuống Hoa