XHH gia đình - bạo lực gia đình hiện nay ở việt nam - Pdf 32

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển, vị trí của mỗi người trong gia đình cũng thay
đổi và hướng tới sự bình đẳng, bình đẳng giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ và con cái.
Xu hướng phát triển này đang được cả xã hội khuyến khích. Song, bên cạnh những
gia đình được xem là tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực mà nạn nhân chủ yếu là
người phụ nữ - người vợ trong gia đình vẫn xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc đến mức báo
động. Điều này gây ảnh hưởng lớn tới nền tảng gia đình và xã hội.
Ngày nay, bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã trở thành một vấn đề mang tính
toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới và được nhiều tổ chức cũng như các
nhà nghiên cứu quan tâm. Bạo lực gia đình không còn được xem là chuyện nội bộ
của mỗi gia đình, nó đã trở thành một vấn đề xã hội gây nhiều nhức nhối mà người
được cho là chịu nhiều ảnh hưởng nhất chính là phụ nữ - những người vợ trong gia
đình.
Bạo lực gia đình là một hiện tượng xã hội xảy ra ở hầu hết mọi nơi, gần như
trên thế giới, không có nước nào mà phụ nữ không phải chịu đựng những mối hiểm
nguy từ những hành vi bạo lực. Theo nghiên cứu tại 10 nước trong năm 2005 của tổ
chức Y tế thế giới (WHO), hơn 50% phụ nữ Bangladesh, Ethiopia, Peru và
Tanzania phải chịu đựng bạo lực về mặt thể xác hoặc bạo lực tình dục bởi những
người thân, đặc biệt với số liệu gây sửng sốt với khoảng 71% phụ nữ ở nông thôn
Ethiopia. Gần đây nhất, kết quả điều tra của WHO năm 2008 cũng cho biết tình
trạng bạo lực đối với phụ nữ trên thế giới gia tăng và để lại hậu quả ngày càng
nghiêm trọng. Theo WHO, trong 6 người vợ thì có 1 người bị chồng đánh đập, và
trong số 3 phụ nữ bị đánh đập thì lại có 1 người bị bạo hành suốt đời. Ngay ở các
nước phương Tây giàu có, phát triển và văn minh thì cũng có không ít phụ nữ vẫn
đang gánh chịu hậu quả từ tình trạng bạo lực này.


Có thể nói bạo lực trong gia đình nhằm chống lại phụ nữ là một vấn đề tồn
tại trong các chế độ xã hội, nó có ở tất cả các nước có trình độ văn minh khác nhau
và Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này. Theo thống kê của Tòa án

dân số học người Mỹ lại đưa ra khái niệm: gia đình là một niệm nhóm người dựa
trên cơ sở dòng dõi, máu thịt do vậy họ có quan hệ họ hàng với nhau.
Xem xét dưới góc độ Xã hội học, các nhà xã hội học đã đưa ra khái niệm gia
đình như sau: ”Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà
các thành viên của nó gắn với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đưac với
nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện
tính chất tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Tóm lại, để nhận biết gia đình trên thế giới và gia đình ở Việt Nam, chúng ta
đều có thể dựa vào ba căn cứ:
Quan hệ hôn nhân
Quan hệ huyết thống
Quan hệ pháp lý
2.2 Bạo lực gia đình (BLGĐ)
Tại điều 1 Luật Phòng chống Bạo lực gia đình (BLGĐ) có ghi: “Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn
hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.”
Tại khoản 1 Điều 2 chỉ rõ các hành vi bạo lực gia đình:


a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;

Cơ sở của lý thuyết này dựa trên lý luận về quá trình hình thành phản xạ có
điều kiện. Trong đó, hành vi con người được hiểu là tập hợp của nhiều hành động,
việc làm cụ thể, liên kết với nhau một cách hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi
2 nhóm yếu tố:
Các yếu tố bên trong: Tích cách, di truyền,...
Các yếu tố bên ngoài: Văn hóa, xã hội, kinh tế,...
Chính vì thế, để lý giải những nguyên nhân dẫn tới một hành vi cụ thể, ta cần
tìm hiểu xem cá nhân đó đã chịu tác động từ các yếu tố nào. Cụ thể trong đề tài
này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số nguyên nhân xuất phát từ kinh tế, văn hóa, xã
hội ảnh hưởng đến hành vi bạo lực giữa chồng với vợ trong gia đình.
3.3 Lý thuyết chức năng
Các tác giả của lý thuyết này cho rằng xã hội là một hệ thống gồm nhiều bộ
phận tạo thành, có mối liên hệ với nhau và mỗi bộ phận thực hiện một hay một số


chức năng nhất định để đảm bảo hệ thống xã hội tồn tại phát triển ổn định. Cũng
theo thuyết chức năng, nếu như mỗi bộ phận trong chỉnh thể không hoàn thành tốt
chức năng của mình thì sẽ dẫn tới những hệ quả tiêu cực, không có lợi thậm chí có
hại, gây mất trật tự, phá vỡ trạng thái ổn định, cân bằng. Theo đó, mỗi thành viên
trong gia đình, xã hội,… phải làm đúng vị trí, vai trò của mình.
Trong gia đình Việt Nam truyền thống, nam giới thường được gán cho chức
năng chuyên môn (công cụ, nghề nghiệp) để tạo ra của cải vật chất còn phụ nữ có
chức năng biểu đạt (văn hóa, tình cảm) để tạo ra tinh thần. Việc áp dụng thuyết
chức năng vào nghiên cứu này cho phép chúng ta tìm hiểu chức năng của người
chồng và người vợ ở trong gia đình, việc họ thực hiện vai trò đó như thế nào mà
dẫn tới hành vi bạo lực.
NỘI DUNG
Khi xem xét các yếu tố liên quan đến một vấn đề nào đó thì bao giờ người
nghiên cứu cũng cần phải đặt cái nhìn bao quát về nhiều phía, trên nhiều khía cạnh
để có thể rút ra được những kết luận đầy đủ nhất. Và khi xem xét các yếu tố chủ

vi bạo lực của người chồng để buộc vợ mình chấp nhận ly hôn. Trong năm 1996,
các tòa án địa phương đã xét xử 49.711 vụ ly hôn, trong đó có 18% là do không có
con trai. Do luật pháp Việt Nam thường ủng hộ người vợ trong những trường hợp
này nên những người chồng có ý định ly hôn vợ thường tìm cách gây sự để người
vợ phải đứng nguyên đơn xin ly hôn. Người phụ nữ thường phải chịu đựng sự
ngược đãi trong thời gian dài trước khi ly hôn. Đó là nhận xét trong đề tài ”Nghiên
cứu BLGĐ trên cơ sở giới ở Việt Nam” của các tác giả thuộc Viện nghiên cứu Gia
đình và Giới năm 2005.


Do ảnh hưởng của quan niệm ”xuất giá tòng phu” lấy chồng thì phải theo
chồng cho nên xã hội nhìn chung mong đợi người phụ nữ sống nhẫn nhục, cam
chịu để gia đình bình yên. Vì vậy, khi chồng có hành vi bạo lực với mình, những
người vợ thường chấp nhận và không dám phản kháng. Một phụ nữ nói ”tôi bị đày
đọa hắt hủi bao nhiêu năm nay nhưng tôi nhất sống nhất chết gì cũng phải ở gia
đình nhà chồng, có đánh tôi cũng không đi” (Phụ nữ bị bạo lực, 53 tuổi).
Tư tưởng ”xuất giá tòng phu” cũng là sự mong đợi của gia đình bên chính
người phụ nữ khi họ biết con cái họ bị chồng đánh. ”Một lần tôi bị ổng cầm cây
đòn đánh vào người, mình mẩy bầm tím hết. Tôi đau và giận ổng lắm nên bỏ về nhà
ngoại, ba má tôi cũng thương tôi lắm nhưng vẫn khuyên bảo tôi phải gắng nhịn và
quay trở về nếu không người chịu thiệt nhất chỉ là tôi và sắp nhỏ thôi” (Phụ nữ bị
bạo lực, 37 tuổi). Chính những điều này cũng có thể làm cho mâu thuẫn giữa hai vợ
chồng xấu hơn.
Trên thực tế, ở nhiều nơi, việc chồng đánh vợ được coi là một phương pháp ”giáo
dục” vợ để gia đình tốt đẹp hơn. Bị ảnh hưởng bởi những quan niệm sai lầm trước
đây mà có không ít ông chồng cho rằng: ”Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”, họ tự cho
mình cái quyền được ”dạy vợ” khi vợ không nghe lời.
”Tôi khổ quá, lúc nào cũng sống trong cảnh ”chồng chúa vợ tôi”, tôi sống có điều
tiếng gì với mọi ngời đâu mà ổng lại đối xử với tôi như vậy” (Phụ nữ bị bạo lực, 49
tuổi).

những vai trò nhất định. Những giá trị này con người sẽ không thể nhận thức được
khi sinh ra nhưng cùng với quá trình họ lớn lên, phát triển thì cũng dần ý thức
được. Đó chính là tác động của quá trình xã hội hóa đối với mỗi cá nhân trong xã
hội.


2. SỰ THAM GIA CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI
Trong những năm qua, các cơ quan chính quyền, tổ chức xã hội, các cộng
đồng dân cư đã có những đóng góp quan trọng góp phần ngăn chặn, hạn chế các
hành vi bạo lực gia đình chống lại phụ nữ. Đó là điều không thể phủ nhận được.
Tuy nhiên, trong quá trình hành động nhằm đấu tranh với hành vi bạo lực gia đình,
các cộng đồng dân cư, chính quyền, tổ chức xã hội vẫn bộc lộ một số hạn chế. Đây
là một trong những yếu tố khiến cho hành vi BL của người chồng với người vợ
chưa được hạn chế một cách tối đa.
2.1 Sự tham gia của cộng đồng, làng xóm
Cộng đồng, làng xóm thường là những người tham gia, giúp các gia đình giải
quyết xung đột. Họ sống gần nhau, hiểu phần nào gia cảnh của nhau nên có thể có
mặt kịp thời khi có hành vi bạo lực xảy ra. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều nơi họ chỉ
can thiệp những vụ ngược đãi phụ nữ nghiêm trọng hay những xung đột gia đình
ảnh hưởng đến trật tự của khu ở còn thì người ta né tránh, coi đó là chuyện của ”vợ
chồng người ta”. ”Thường thì cũng có người khuyên can nhưng họ cũng coi đó là
chuyện gia đình nên rất ngại. Ông ấy thì ai sang can cũng chửi nên họ lại càng
ngại, thế nên họ cũng sang khuyên can một vài lần rồi thôi. Mình là người vợ thì
phải chấp nhận thôi” (Phụ nữ bị bạo lực, 47 tuổi).
Trong cộng đồng dân cư cũng có tư tưởng ”Đèn nhà ai nhà ấy sáng” cho nên
khi các hành vi bạo lực xảy ra, người xung quanh cho rằng đó là chuyện nội bộ gia
đình nên ít can thiệp hòa giải ngay từ bước đầu, chỉ khi xảy ra trầm trọng thì mới
đưa ra tổ hòa giải, đoàn thể xã hội (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1997). Những
ngược đãi phụ nữ diễn ra bên trong mỗi gia đình thường không được quan tâm một
cách thích đáng. Một mặt, các thành viên trong gia đình thường muốn giữ kín

36,3
Bà con lối xóm
62,7
Ban hòa giải
4,5
Đoàn thanh niên
1,6
Chính quyền địa phương
2,9
Công an địa phương

4


Sự can thiệp của các đoàn thể, chính quyền trong việc ngăn chặn và giải
quyết những vụ việc liên quan đến BLGĐ giữ một vai trò rất qua trọng. Tuy nhiên,
điểm yếu của quá trình này là nó thường chỉ bắt đầu khi bạo lực trong gia đình xảy
ra rất nghiêm trọng và thường chỉ can thiệp để chấm dứt ngay lúc có sự ngược đãi
còn về lâu dài thì hiệu quả không cao.
”...những lần đánh nhau to quá thì các con tôi có chạy đi gọi và tôi cũng có đi mời
họ (đoàn thể) đến khuyên giải chồng tôi, sau đó chồng tôi cũng nghe nhưng chỉ
được một thời gian rồi đâu lại vào đấy” (Nạn nhân, trường hợp LS1).
Một vấn đề khac cần phải chú ý trong sự tham gia của chính quyền, đoàn thể là sự
phối hợp hoạt động của chính quyền và các tổ chức đoàn thể xã hội không phải bao
giờ cũng kị thời va đồng bộ. Có ý kiến đã nhận xét: ”Khách quan mà nói thì tôi
thấy vai trò của các tổ chức còn hơi chậm chễ. Cụ thể là bên công an có khi cần
người đến thì chưa đến được ngay lúc đó, vì vậy có ảnh hưởng phần nào đến hoạt
động của chị em chúng tôi” (Phó chủ tịch Hội phụ nữ, trường hơp LS10). Có
những chị em phụ nữ thường xuyên bị chồng đánh nhưng cũng không nhận được
sự can thiệp của chính quyền vì ”ở địa phương nếu có vụ việc nghiêm trọng thì cán

phúc gia đình. Không có những cơ sở vật chất cần thiết này, con người khó có thể
giữ được những mối quan hệ tốt đẹp. Những khó khăn trắc trở trong việc kiếm tiền,
sự vất vả mệt nhọc đè nặng lên cuộc sống hàng ngày, sự bực dọc thường xuyên vì
đói kém và những thua thiệt trong làm ăn đã khiến cho các mối quan hệ gia đình
luôn căng thẳng. Đó là miếng đất ươm sẵn những mầm độc của BLGĐ. Nếu sự
nghèo đói làm nảy sinh BLGĐ thì ngược lại, chính BLGĐ đến lượt mình lại làm
tăng thêm sự nghèo đói.
”Vợ chồng có cãi nhau, xô xát nhau cũng là do kinh tế gia đình cả. Chỉ vì túng
thiếu, tiền không đủ tiêu đâm ra nóng nảy, chứ chồng tôi cũng không phải người


tàn ác. Giận quá thì tát vợ vài cái sau đó vài hôm lại tìm cách làm lành. Hoàn cảnh
gia đình khổ quá chứ đầy đủ thì chẳng đến nỗi phải như vậy” (PVS, Chu Thị C.,
Cổ Nhuế, Hà Nội).
Khi được hỏi: ”Những xích mích chủ yếu giữa vợ và chồng thường xảy ra do vấn
đề gì nhiều nhất?”, một phụ nữ đã nghỉ hưu, 41 tuổi, có 2 con, chồng là công nhân,
ngoài giờ làm thêm nghề xe ôm cho biết: ”Nói chung nó cũng lung tung, chủ yếu là
đời sống nó vất vả, kiếm được bữa ăn nó cực qúa nên dẫn đến cãi nhau chứ có cái
gì đâu... Đi làm đã mệt mỏi về lại nghe những cái dằn hắt của chồng về chi tiêu nọ
kia ai mà chẳng tức”.
Nghiên cứu của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2001: 41) cũng cho thấy
tỷ lệ phụ nữ bị chồng mắng chửi tăng từ 11,1% ở hộ gia đình có mức sống khá lên
16,7% ở nhóm hộ trung bình và tới 30,2% ở nhóm hộ nghèo. Tương tự, tỷ lệ phụ
nữ bị chồng đánh gia tăng nhanh theo tình trạng kinh tế hộ gia đình (1,0%; 3,5% và
7,7%).
Trong nhiều trường hợp, do người vợ phải chịu phụ thuộc về kinh tế vào
người chồng cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực. Một phụ nữ bị chồng
sử dụng bạo lực cho biết: ”Do kinh tế gia đình khó khăn, không có tiền bạc, ổng lại
hay nhậu rồi hổng có lý trí dẫn tới đánh vợ đánh con. Nhiều lúc mình cũng cự lại
nhưng ổng đánh chửi mình là không làm ra tiền thì không được nói. Mình muốn đi

Bằng nhau

Chồng hơn vợ

Có bạo lực

38,5

35,4

27,9

Không có bạo lực

61,5

64,6

72,1

Điều này chỉ có thể giải thích do xuất phát từ tâm lý cho rằng người có ưu
thế về kinh tế sẽ là người có quyền quyết định mọi việc. Bởi vậy, nếu người vợ có
thu nhập cao hơn chồng thì quyền lực của người chồng trong gia đình có nguy cơ bị
lung lay. BLGĐ chính là cách để họ bảo vệ vị trí của mình trong gia đình, uy quyền
của mình đối với vợ con.


2. Yếu tố nhận thức
2.1 Nhận thức của người dân
Yếu tố nhận thức có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì tình trạng

dục” lại cao hơn nam giới (Hội LHPN Việt Nam, 2001: 16 - 17). Như vậy, hành vi
bạo lực của người chồng đối với người vợ không chỉ được xã hội nói chung chấp
nhận mà còn được chính bản thân không ít phụ nữ chấp nhận. Một số phụ nữ chỉ
coi hành vi đánh đập là bạo lực nếu nó gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Một
nạn nhân nữ ở Tiền Giang phát biểu: ”
Theo em, nếu vợ chồng nóng nảy này kia mà bạt tai thì chuyện đó cũng bình
thường. Còn án mạng, xảy ra bầm dập thương tích thì chuyện đó mới bỏ qua hổng
được”.
Trong rất nhiều cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm ở nhiều nghiên cứu khác
nhau, một điều thường lặp đi lặp lại là không ít phụ nữ còn đồng ý với ý kiến cho
rằng: ”Nhiều trường hợp vợ bị chồng đánh cũng không có gì là quá đáng, chồng
đang bực mình lại còn cằn nhằn, mắng mỏ con, hoặc có những người vợ đối xử với
gia đình nhà chồng chẳng ra gì. Mình là phụ nữ thì phải biết nín nhịn thì gia đình
mới yên ổn chứ” (Thảo luận nhóm nữ, Bình Phước).
Chính những nhận thức như vậy đã tạo điều kiện để tiếp tục duy trì những
hành vi bạo lực đối với người phụ nữ trong gia đình.
2.2 Nhận thức của các cán bộ chuyên trách
Đây được coi là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phòng
chống bạo lực ở địa bàn dân cư nơi họ sinh sống. Tuy nhiên, chính họ lại trở thành
một trong những yếu tố khiến cho tình trạng BLGĐ đối với phụ nữ vẫn còn đất
sống bởi chính nhận thức còn chưa chính xác, chưa đầy đủ của mình về vấn đề này.


”Vợ chồng nói qua nói lại, rồi tát hai, ba cái bạt tai, chuyện đó bình thường thôi.
Đó không phải là bạo lực” (Cán bộ tư pháp huyện, Trường hợp TG18).
Thay vì tìm hướng giải quyết theo chức năng của cán bộ thi hành pháp lật, có ý
kiến còn tỏ ra không đồng tình với hành vi báo cáo chính quyền của người vợ khi
bị chồng đánh đập.
Trong gia đình, vợ chồng xô xát thì tự hòa giải là tót hơn. Chỉ có những
người không suy nghĩ đến nơi đến chốn thì họ mới đi báo cáo để giáo dục chồng

lĩnh vực của đời sống. Trình độ học vấn thấp không chỉ là nguyên nhân của tình
trạng kinh tế khó khăn dẫn đến tăng thêm mâu thuẫn gia đình mà có lẽ còn cản trở
khả năng tiếp nhận thông tin tuyên truyền về pháp luật, về vấn đề bình đẳng giới và
quyền phụ nữ. Hành vi bạo lực còn xảy ra đối với những ông chồng có trình độ văn
hóa thấp khi mà họ không đủ khả năng và hiểu biết cần thiết để giải quyết mâu
thuẫn trong gia đình một cách hòa bình hơn (Hội LHPN Việt Nam, 5 - 2005).
Nghiên cứu của WHO cho biết trình độ học vấn của phụ nữ càng cao thì
nguy cơ bị bạo lực gia đình càng thấp và ngược lại, những người phụ nữ có trình độ
học vấn càng thấp thì nguy cơ bị bạo lực càng cao. Điều này có thể giải thích rằng
những người phụ nữ có trình độ học vấn cao thì họ có nhiều cơ hội lựa chọn khi kết
hôn và có khả năng chủ động kiểm soát mọi vấn đề xảy ra trong gia đình.
Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra độ chênh lệch về trình độ của vợ và
chồng có thể gây ra xung đột nhiều hơn các cặp vợ chồng có trình độ học vấn
tương đồng. Nhóm người chồng có học vấn thấp có hành vi bạo lực cao hơn nhóm
có học vấn cao hơn (24,1% mắng chửi và 6,2% đánh đập ở nhóm học vấn tiểu học;
10,3% mắng chửi và 2,2% đánh đập ở nhóm học vấn PTTH) (Hội LHPN 2001: 43
– 46; Vũ Mạnh Lợi và cộng sự, 1999).
Một cán bộ phụ nữ huyện khẳng định: ”ngược đãi về thể chất, tức là đánh
đập thường là hai vợ chồng trình độ người ta thấp; còn ngược đãi về tinh thần,


những cái này chỉ nghe thấy ở những người trình độ cao” (cán bộ phụ nữ huyện
G.- Lê Thị Phương Mai, Lê Ngọc Lân, 2002).
Khi xem xét tương quan giữa trình độ học vấn và mức độ mâu thuẫn trong
gia đình, kết quả thu được là: trong tổng số những người được hỏi thì có 23,1% đối
tượng mù chữ khẳng định gia đình hàng ngày có xảy ra mâu thuẫn; chỉ có 1,8% đối
tượng tiểu học; 3% đối tượng THCS và 4,6% đôi tượng PTTH cho rằng gia đình họ
hàng ngày có xảy ra mâu thuẫn. Trong số các đối tượng được phỏng vấn có trình độ
học vấn từ cao đẳng trở lên khẳng định gia đình họ không xảy ra mâu thuẫn ở mức
độ thường xuyên (hàng ngày và tuần một vài lần). Các đối tượng được hỏi khẳng

0

3,1

Tuần một

0

8,8

1,3

0

0

0

3,8

7,7

40,4

31,6

38,5

71,4



16,5

7,3

28,6

10

12,6

Khác

0

7,5

3,8

2,8

0

0

4,7

Tổng

100

thêm sự bất an về kinh tế trong gia đình, tạo sự căng thẳng trong gia đình và làm
nảy sinh bạo lực. Nhiều người đàn ông sau khi uống rượu say đã đánh đập vợ con
một cách vô lý. Có không ít các trường hợp, người chồng tra tấn vợ con, thậm chí
giết vợ chỉ để lấy một khoản tiền nhỏ đi mua rượu hoặc ma túy.
Khi sử dụng chất kích thích này sẽ làm tăng tính côn đồ trong con người,
người sử dụng có mong muốn giải quyêt các khó khăn của mình bằng hành vi côn
đồ hơn. Mức độ sử dụng các chất kích thích cũng tỷ lệ thuận với mức độ mong


muốn sử dụng hành vi bạo lực, và đôi khi chính bản thân người sử dụng các chất
kích thích cũng không thể kiểm soát được hành vi của mình. Nhiều người sau khi
sử dụng các chất kích thích, từ một con người hiền lành trở thành một con người
khác hẳn, thô lỗ và cục cằn, họ sẵn sàng đánh đập và chửi mắng vợ con nếu như vợ
con có lỗi (dù chỉ là lỗi nhỏ) hoặc có điều gì mà họ không vừa ý. (Nguyễn Thế
Hiếu, CGFED 2001).
Mâu thuẫn giữa vợ và chồng xuất hiện từ nguyên nhân như việc chi tiêu
riêng của người chồng, đăc biệt liên quan đến rượu, cờ bạc, nghiện hút. Trong
những trường hợp như vậy, người chồng thường chửi bới đánh đập vợ vì không
kiềm chế được do rượu và thói đam mê của mình, như nhận xét của một cán bộ văn
hóa xã, nam giới. Trả lời câu hỏi: ”Với tư cách là một người làm văn hóa xã hội,
theo anh tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút có ảnh hưởng như thế nào
đến các gia đình và đặc biệt là nó có ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề bạo lực
đối với phụ nữ?”, anh cho biết:
”Tệ nạn xã hội rất có ảnh hưởng đến cuộc sống xã hội nói chung và phụ nữ nói
riêng. Các tệ nạn như là nghiện hút, rượu chè, cờ bạc, cụ thể là những người đã
đam mê nghiện những cái đó rồi thì rất là tốn tiền. Cụ thể là về nghiện hút, thời
gian đầu họ hút thì họ vẫn còn sức khỏe nên còn có thể đi làm, nhưng sang đến thời
gian sau sức khỏe không còn nữa, rồi tiền không còn nữa nên họ bắt đầu ở nhà ăn
cắp vặt của gia đình, của hàng xóm để có tiền đi hút. Những lần đầu tiên xin tiền vợ
thì vợ còn cho, nhưng những lần sau vợ không cho thì anh ta bắt đầu hành hung vợ.

giới lẫn phụ nữ đều cho rằng việc uống rượu là hoạt động bình thường, nhưng việc
người chồng rượu chè bê tha quá đáng và triền miên lại có mối liên hệ ngược đãi
vợ con, đặc biệt là vợ, ảnh hưởng không nhỏ đến hạnh phúc gia đình.


4.2 Ngoại tình, không chung thủy
Đây cũng là một nguyên nhân không nhỏ gây nên hành vi bạo lực trong gia
đình. Trong nhiều trường hợp, chính vì ngoại tình mà người đàn ông kiếm cớ gây
sự với vợ, đẩy người vợ đến những hành vi không mong muốn để rồi hành hung
vợ, tạo điều kiện để có thể ly dị.
”Ngoài 30 tuổi, anh ta bắt đầu có bồ, tôi phản ứng bằng cách kêu anh ta từ Chơn
Thành (nơi anh ta làm việc) không cho ở đó nữa, vì thế khi anh ta về Chánh Mỹ
anh ta bắt đầu quậy phá. Tôi đã theo dõi và đánh cô bồ của anh ta, thế nên về nhà
anh ta đánh đập tôi rất dã man... có lần ông ấy lấy cây gậy đánh tôi chảy máu me
be bét, mọi người đến nơi thì tôi đã gần chết rồi” (Phụ nữ bị bạo lực, 50 tuổi, đã ly
hôn).
”Trước đây, ổng đi làm mướn ở dưới xưởng hàn, chẳng biết ông ấy gặp nó thấy
rách rưới quá thì dẫn về nhà. Lúc ấy em mới sinh sợ bị ông ấy đánh nên chẳng dám
nói gì. Về sau nó cũng theo trai, lấy chồng rồi bỏ ông ấy luôn. Rồi có người ở chợ,
chồng người ta bị xe đụng chết ông ấy cũng dắt về nhà luôn. Em cũng chẳng dám
nói gì vì con còn nhỏ, một thời gian sau ông ấy bị bệnh nên nó cũng bỏ luôn. Còn
bây giờ ông ấy đang cặp với một con nhỏ nó có con, đang ở giá. Nhà con bé đó
cũng không đồng ý nên ông ấy cũng không dám ra mặt. Con bé nào cũng bị bệnh gì
đó, em thấy sợ lắm. Người thì bảo nó bị viêm gan B, em cũng chẳng biết nữa” (Phụ
nữ bị bạo lực, 44 tuổi).
Cũng có những trường hợp thì lý do là từ phía vợ, vì họ có hành vi ”quan hệ thiếu
đứng đắn”. Chẳng hạn, theo nghiên cứu của Hội LHPN Việt Nam (2001: 37), đây
là lý do trực tiếp mà người vợ bị mắng chửi (11,7%) hoặc bị đánh (13,7%). Nghiên
cứu của Hội đồng dân số Hoa Kỳ (Lê Thị Phương Mai và cộng sự, 2005) cũng cho
thấy 65,1% cán bộ y tế đánh giá yếu tố ”vợ/chồng ngoại tình” là nguyên nhân dẫn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status