xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán trắc nghiệm khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (ban nâng cao) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Mỹ Hạnh

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ
CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ
LỚP 12 (BAN NÂNG CAO)

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Mỹ Hạnh

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TOÁN TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CÓ
CÁCH GIẢI NHANH PHẦN HÓA VÔ CƠ
LỚP 12 (BAN NÂNG CAO)
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số:

601410


thời gian.
Tác giả
Phan Thị Mỹ Hạnh


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 3
MỤC LỤC ................................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................... 7
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................... 8
DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................... 9
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 2
5. Giả thuyết khoa học ................................................................................................ 3
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 3
7. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 3
8. Những điểm mới của đề tài: ................................................................................... 3
9. Dự kiến cấu trúc của luận văn ............................................................................... 4

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............. 5
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ................................................................................... 5
1.2. Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm ........................................................... 5
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy
học trên thế giới và ở Việt Nam. ..............................................................................5
1.2.2.Phân loại trắc nghiệm................................................................................................7
1.2.3. Phân tích câu trắc nghiệm......................................................................................13
1.2.4. Một số lỗi thường mắc phải khi soạn thảo câu TNKQ .........................................15

2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập ............................................................... 59
2.3. Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học ............................................ 59
2.3.1. Các bước giải một bài tập hóa học trên lớp ...........................................................59
2.3.2. Một số ví dụ minh họa sử dụng bài tập hóa học trên lớp .....................................60

2.4. Hệ thống bài toán hóa học TNKQ nhiều lựa chọn .......................................... 74
2.4.1. Bài tập về kim loại ...................................................................................................74
2.4.2. Bài tập về oxit kim loại ...........................................................................................83
2.4.3. Bài tập hỗn hợp kim loại và oxit kim loại ..............................................................86
2.4.4. Bài tập về hiđroxit kim loại ....................................................................................90
2.4.5. Bài toán điện phân ..................................................................................................94

Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................... 97
3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 97


3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ...................................................................................... 97
3.3. Đối tượng thực nghiệm ...................................................................................... 97
3.4. Nội dung thực nghiệm ....................................................................................... 98
3.5. Tiến trình thực nghiệm ..................................................................................... 98
3.5.1. Chuẩn bị trước thực nghiệm: Tiến hành các công việc sau .................................98
3.5.2. Tiến hành TNSP .....................................................................................................99
3.5.3. Xử lí số liệu thực nghiệm .......................................................................................99

3.6. Kết quả thực nghiệm ........................................................................................ 101
3.6.1. Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích và tham số thống kê đặc trưng
...............................................................................................................................101
3.6.2. Biểu diễn kết quả bằng đồ thị ...............................................................................105

3.7. Phân tích kết quả thực nghiệm ....................................................................... 110

ĐHSP

: đại học sư phạm

đktc

: điều kiện tiêu chuẩn

G

: giỏi

GV

: giáo viên

Hh

: hỗn hợp

HS

: học sinh

K

: khá

KT-ĐG


TDST

: tư duy sáng tạo

THPT:

trung học phổ thông

Tp.HCM

thành phố Hồ Chí Minh

TN:

thực nghiệm

Y:

yếu


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1:

Ý kiến về mức độ thành thạo khi vận dụng các phương pháp giải bài toán
hóa học của bản thân

57



Tham số thống kê bài kiểm tra số 1

112

Bảng 3.5:

Bảng điểm bài kiểm tra số 2

113

Bảng 3.6:

Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2

113

Bảng 3.6:

Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi

113

Bảng 3.7:

Tham số thống kê bài kiểm tra số 2

114

Bảng 3.8:

Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích (tổng hợp 3 bài kiểm tra )

115

Bảng 3.14:

Phần trăm số HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá, giỏi(tổng hợp 3 bài

Bảng 3.15:

kiểm tra )

116

Tham số thống kê (tổng hợp 3 bài

116


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm số 1

117

Hình 3.2: Biểu đồ phân loại HS theo kết quả điểm bài thực nghiệm 1

117

Hình 3.3: Đồ thị đường lũy tích bài thực nghiệm số 2

người ta thường chú ý đến các bài tập do các chuyên gia biên soạn và giới thiệu trong các
sách bài tập hóa học. Chúng tôi muốn nói tới hệ thống bài tập do người dạy tự soạn khi lên
lớp. Một giờ học có lí thú không, có tích cực hóa được hoạt động nhận thức của học sinh
không thường phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của bài tập tự soạn này. Bởi vì số lượng bài
tập hóa học thì rất nhiều, đa dạng, trong khi số tiết giải bài tập rất hạn chế (15 – 20% tổng số
tiết học). Vì vậy giáo viên cần chọn bài tập điển hình về nội dung và phương pháp. Từ bài
tập đó, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau để rút ra kết luận cho những bài tập khác,
nghĩa là thông qua một bài tập mà hướng dẫn học sinh phương pháp giải hàng loạt các bài
tập có nội dung liên quan.
Để thực hiện Nghị quyết số: 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001/CTTTG của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ
thông, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, Bộ GD & ĐT trong quá trình chỉ
đạo và triển khai thực hiện đã áp dụng phương pháp KT-ĐG bằng TNKQ ở các môn Lý,
Hóa, Sinh, Ngoại ngữ trong các kì thi TN THPT và tuyển sinh ĐH - CĐ từ năm học 20062007 và tiến tới sẽ áp dụng cho nhiều môn khác. KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng
TNKQ, đặc biệt là hình thức TNKQ nhiều lựa chọn đã khắc phục được nhiều yếu điểm của
phương pháp kiểm tra tự luận: Khối lượng kiến thức được kiểm tra lớn, bao quát chương
trình, tránh hiện tượng học tủ, hạn chế hiện tượng quay cóp, gian lận trong thi cử; kết quả
đánh giá chính xác, khách quan, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm; việc chấm
bài nhanh chóng, chính xác vì hiện nay đã có những phần mềm máy tính chuyên biệt để
chấm và xử lí kết quả của bài thi TNKQ.
Với hình thức thi TN hiện nay, HS phải hoàn thành đề thi trong một khoảng thời gian
ngắn với số lượng câu hỏi nhiều, mỗi bài toán phải tìm ra đáp án nhanh trong 2 đến 3 phút.
Vì vậy, giải nhanh bài toán hóa học có một ý nghĩa quan trọng. Việc xây dựng câu hỏi và


bài tập TNKQ trong KT- ĐG là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng
dạy học nên đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Trường, Trần
Trung Ninh, Ngô Ngọc An ...Tuy nhiên, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống bài toán có
cách giải nhanh làm câu TNKQ thì còn tương đối mới và chưa nhiều nên đã tạo sự hứng thú
cho bản thân tôi. Chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm ra các phương pháp giải nhanh bài toán
hóa học không những góp phần vào việc nâng cao chất lượng KT-ĐG mà còn giúp học sinh

lượng dạy và học hóa học ở trường THPT.

6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến phương pháp TNKQ, đi sâu nghiên cứu về
phương pháp TNKQ nhiều lựa chọn.
+ Nghiên cứu các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học.
+ Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học phần vô cơ lớp 12 (ban nâng
cao).
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài toán hóa học TNKQ có cách giải
nhanh trong học dạy học và KT-ĐG ở trường THPT của tỉnh Tây Ninh trong những năm
qua.
+ Thực nghiệm sư phạm:
- Phương pháp thống kê toán học:
+ Sử dụng các phần mềm tin học để lưu trữ, phân tích, xử lý câu, bài trắc nghiệm.

7. Phạm vi nghiên cứu
a. Về nội dung: Hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần vô cơ ở
lớp 12 (Ban nâng cao).
b. Về địa bàn thực nghiệm sư phạm: Tại một số trường THPT của tỉnh Tây Ninh.
c. Về thời gian thực hiện đề tài: Từ 1.4.2010 đến 30.6.2011.

8. Những điểm mới của đề tài:
Chất lượng dạy và học hóa học ở trường PTTH được nâng cao trên cơ sở:
- Nghiên cứu và đề xuất các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học vô cơ
- Xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán hóa học TNKQ có cách giải nhanh phần hóa
vô cơ lớp 12 (Ban nâng cao).



dạng, không bao quát hết các kiến thức cơ bản,cần cung cấp cho học sinh; sự phân dạng bài
tập chưa rõ ràng.

1.2. Tổng quan về phương pháp trắc nghiệm
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá
trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam.
1.2.1.1. Trên thế giới


Theo Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan: các phương pháp đo lường và trắc nghiệm
đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII – XVIII ở khoa tâm lý. Năm 1879 ở châu Âu:
phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên được Wichlm Weent thành lập tại Leipzig.
Đến năm 1904 Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp trong quá trình nghiên cứu trẻ
em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh.
Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh. Từ
đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet.
Theo giáo sư Trần Bá Hoành [15] vào đầu thế kỷ XX, E.Thorm Dike là người đầu tiên
đã dùng TNKQ như là phương pháp “ khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh,
bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn học khác.
Trong những năm gần đây, trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục.
Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm
khá phổ biến.
Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình
dạy học. Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của
học sinh. Năm 1961 có 2126 mẫu trắc nghiệm chuẩn. Đến năm 1963 đã sử dụng máy tính
điện tử thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng.
Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu
chuẩn cho các trường trung học.
Ở Nga, trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử dụng kinh
nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bị phê phán. Đến năm 1962 đã phục hồi

Từ năm 1998 đến năm 2003, các luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức hóa học lớp 12 phổ
thông trung học của tác giả Nguyễn Thị Khánh, ĐHSP Hà Nội.
- Nghiên cứu sử dụng trắc nghiệm trong KT-ĐG kiến thức HS lớp 11 và 12 phổ thông
trung học của tác giả Hoàng Thị Kiều Dung, ĐHSP Hà Nội.
- Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận trong KT-ĐG kiến thức hoá học
của học sinh lớp 12 trường THPT của tác giả Phạm Thị Tuyết Mai, ĐHSP Hà Nội.
1.2.2.Phân loại trắc nghiệm
1.2.2.1.Trắc nghiệm tự luận
a. Khái niệm: Trắc nghiệm tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập
bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi hay bài toán, học sinh trả lời dưới dạng
bài viết trong một khoảng thời gian đã định trước.


TNTL đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của
mình một cách chính xác, rõ ràng.
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan, điểm bởi
những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một bài tự luận thường có ít câu hỏi
vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời.
b. Các dạng câu trắc nghiệm tự luận
Câu tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tương đối rộng và khái
quát, học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát
huy óc sáng tạo và suy luận. Loại câu trả lời này được gọi là tiểu luận.
Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn: loại này thường có nhiều câu hỏi với nội dung
tương đối hẹp. Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nên việc chấm điểm dễ hơn.
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn
- Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản. Đó là một nhận định viết dưới dạng mệnh đề
không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà học sinh phải trả lời bằng một câu hay một từ
(trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết)
- Loại câu trả lời đoạn ngắn trong đó học sinh có thể trả lời bằng hai hoặc ba câu trong

- Ưu điểm: Câu trắc nghiệm đúng – sai hoặc có – không là loại câu đơn giản dùng để
trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện. Vì vậy soạn loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít
phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm.
- Nhược điểm: học sinh có thể đoán mò. Vì vậy độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho
học sinh học thuộc lòng hơn là hiểu, ít phù hợp với đối tượng học sinh giỏi
- Những lưu ý khi xây dựng dạng câu “đúng – sai” hoặc “có – không”.
+ Đúng cũng phải đúng hoàn toàn, sai cũng phải sai hoàn toàn.
+ Tránh những điều chưa thống nhất .
* Câu trắc nghiệm ghép đôi:
Câu này có hai dãy thông tin, một bên là các câu hỏi và bên kia là câu trả lời. Số câu
ghép đôi càng nhiều thì xác suất may rủi càng thấp, do đó càng tăng phần ghép so với phần
được ghép thì chất lượng trắc nghiệm càng cao .
- Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thích hợp với học sinh cấp
THCS. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết kiến thức hay những
mối tương quan.
- Nhược điểm: Loại câu trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các
khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức, để soạn loại câu hỏi này để đo mức trí
nâng cao đòi hỏi nhiều công phu. Hơn nữa tốn nhiều thời gian đọc nội dung mỗi cột trước
khi ghép đôi của học sinh.


* Câu trắc nghiệm điền khuyết
Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để
trống .
Có 2 cách xây dựng dạng này.
- Cho trước từ hoặc cụm từ để học sinh chọn.
- Không cho trước để học sinh phải tự tìm. Lưu ý phải soạn thảo dạng câu này như thế
nào đó để các phương án điền là duy nhất.
- Ưu điểm: học sinh không có cơ sở học đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra , tự tìm ra
câu trả lời.

Loại câu này khó soạn và phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn
lại gọi là câu nhiễu thì thì cũng có vẻ hợp lí. Ngoài ra phải soạn câu hỏi sao cho có thể đo
được các mức trí nâng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
Không thỏa mãn với những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra những câu
trả lời hay hơn đáp án.
Các câu TNKQ nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và
khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu TNTL
soạn kỹ.
Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi.
c. Các nguyên tắc soạn thảo câu TNKQ nhiều lựa chọn
• Phần gốc của câu trắc nghiệm:
- Phần gốc câu trắc nghiệm có thể la
• Phần lựa chọn của câu trắc nghiệm
• Chú ý tránh các hình thức vô tình tiết lộ đáp án
• Những lưu ý khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn.
Câu TNKQ loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức độ biết, khả năng vận dụng,
phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. Vì vậy khi soạn câu loại này
cần lưu ý:
+ Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho phương án đúng không tranh cãi
được, còn các câu nhiễu đều có vẻ hợp lý.
+ Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt và tác
động thu hút các học sinh kém hơn.
+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt rõ ràng
một vấn đề, tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh


để học sinh không bị nhầm. Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu rõ mình đang
được hỏi vấn đề gì ?
+ Câu chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và và phải có cùng một loại quan hệ với câu
dẫn, phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn.

1.2.3. Phân tích câu trắc nghiệm
1.2.3.1. Mục đích và phương pháp phân tích các câu hỏi trắc nghiệm
* Mục đích:
- Biết được câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ.
- Chọn ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi với học
sinh kém.
- Biết được lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và cần
phải sửa đổi như thế nào cho tốt hơn.
*Phương pháp
Tìm các giá trị độ khó câu, độ phân cách câu và thẩm định các mồi nhử.
1.2.3.2. Độ khó câu trắc nghiệm
* Công thức tính
Độ khó là khả năng của câu hỏi trắc nghiệm có thể giúp giáo viên phân loại được câu
hỏi dễ, câu hỏi khó.
số người trả lời đúng câu i
Độ khó câu trắc nghiệm i =

x 100%
số người làm bài trắc nghiệm

* Độ khó trung bình( độ khó vừa phải) của câu hỏi trắc nghiệm:
100% + % may rủi
Độ khó trung bình của câu trắc nghiệm =
2
- Loại câu trắc nghiệm hai lựa chọn: % may rủi là 50% thì độ khó trung bình là 75%,
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 75% học sinh trả lời đúng câu đó.
- Loại câu trắc nghiệm 4 lựa chọn: % may rủi là 25% thì độ khó trung bình là 62,5%,
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 62,5% học sinh trả lời đúng câu đó.
- Loại câu trắc nghiệm 5 lựa chọn: % may rủi là 20% thì độ khó trung bình là 60%,
nghĩa là câu này có độ khó vừa phải nếu 60% học sinh trả lời đúng câu đó.

- D từ 20% →29%: câu có độ phân cách tạm được, cần phải điều chỉnh.
- D từ 19% trở xuống: câu có độ phân cách kém, cần loại bỏ.
1.2.3.4.Phân tích các mồi nhử
Ngoài việc phân tích độ khó và độ phân cách câu trắc nghiệm, ta có thể làm cho câu
trắc nghiệm trở nên tốt hơn bằng cách xem xét tần số đáp ứng sai (số người chọn trong từng
mồi nhử) cho mỗi câu hỏi. Nghĩa là với câu trả lời đúng, số học sinh trả lời đúng trong
nhóm cao, phải trả lời đúng nhiều hơn số học sinh trả lời đúng trong nhóm thấp và ngược lại


với câu trả lời sai, số học sinh trong nhóm cao lựa chọn phải ít hơn số học sinh trong nhóm
thấp.
1.2.3.5.Các bước phải làm khi soạn các mồi nhử
Trong câu TNKQ nhiều lựa chọn, bên cạnh phương án đúng thì có những phương án
sai(còn gọi là câu nhiễu hay mồi nhử). Việc xây dựng những phương án sai có sức hấp dẫn
đối với học sinh (mồi nhử) là khó nhất. Câu trắc nghiệm được đánh giá là tốt khi các
phương án đưa ra đều có hiệu quả đúng như mục đích của nó. Câu nhiễu(mồi nhử) phải có
vẽ hợp lí và thu hút đối với học sinh kém và làm “boăn khoăn” đối với học sinh khá. Một
mồi nhử mà không có học sinh nào lựa chọn thì không có tác dụng gì.
Vậy, muốn được các “mồi nhử hay” thì việc xây dựng các mồi nhử phải dựa trên
những sai lầm mà học sinh hay mắc phải về mặc lí thuyết hay giải bài tập. Nên chọn những
câu sai thường gặp của chính học sinh chứ không phải là những câu nhiễu do chonhs người
soạn tự nghĩ ra. Thực tế từng thấy có câu nhiễu do giáo viên nghĩ ra và cân nhắc rất kĩ
nhưng vẫn không hấp dẫn học sinh.
Để có được các mồi nhử tốt cần tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Ra các câu hỏi mở về nội dung dự định trắc nghiệm để học sinh tự viết câu
trả lời.
- Bước 2: thu các bản trả lời của học sinh, loại bỏ những câu trả lời đúng, giữ lại
những câu trả lời sai.
- Bước 3: Thống kê phân loại các câu trả lời sai và ghi tần số xuất hiện từng câu sai.
- Bước 4: Ưu tiên chọn những câu sai có tần số cao làm mồi nhử.

- Nên quy về số mol nguyên tố.
Ví dụ: Cho hợp chất dạng A x B y , ta có số mol nguyên tố A, B tính như sau:
n A = n AxBy .x ; n B = n AxBy .y
- Nên dùng kết hợp phương pháp bảo toàn khối lượng với bảo toàn nguyên tố.
Một số ví dụ:
Ví dụ 1: Thổi từ từ V lít hỗn hợp khí (đktc) gồm CO và H 2

đi qua một ống

đựng 16,8 gam hỗn hợp 3 oxit: CuO, Fe 3 O 4 , Al 2 O 3 nung nóng, phản ứng hoàn toàn.
Sau phản ứng thu được m gam chất rắn và một hỗn hợp khí nặng hơn khối lượng của
hỗn hợp V là 0,32 gam. Tính V và m.


Trích đoạn Phõn tớch kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status