BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Hà
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ
NÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Hà
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ
NÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Địa lý kinh tế
Mã số: 603195
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYÊN THỊ BÍCH HÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
1. Tính cấp thiết của đề tài: ...............................................................................................7
T
2
T
2
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài (trên thế giới, trong nước): ................................................7
T
2
T
2
2.1. Trên thế giới: .............................................................................................................7
T
2
T
2
2.2. Trong nước: ...............................................................................................................8
T
2
T
2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: .....................................................................9
T
2
5.1. Các quan điểm nghiên cứu: .....................................................................................10
T
2
T
2
5.2. Phương pháp nghiên cứu:........................................................................................12
T
2
T
2
6. Cấu trúc đề tài: .............................................................................................................14
T
2
T
2
7. Những đóng góp và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu: ..................................................14
T
2
T
1.2. Cơ sở thực tiễn của TCLTNN: .................................................................................23
T
2
T
2
1.2.1. Các hình thức TCLTNN trên thế giới: .................................................................23
T
2
T
2
1.2.2. Các hình thức TCLTNN ở Việt Nam: ..................................................................25
T
2
T
2
1.2.3. Một số vấn đề về nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp: ...................................................29
T
2
T
2
T
2
T
2
2.1.4. Đánh giá chung: ...................................................................................................53
T
2
T
2
2.2. Hiện trạng TCLTNN tỉnh Bình Phước: ..................................................................54
T
2
T
2
3
2.2.1. Hiện trạng ngành nông nghiệp tỉnh Bình Phước: .................................................54
T
2
T
2
T
2
T
2
3.1.2. Định hướng TCLTNN tỉnh Bình Phước: ...........................................................129
T
2
T
2
Sản lượng (tấn): ....................................................................................................... 135
T
2
T
2
3.2. Giải pháp phát triển TCLTNN tỉnh Bình Phước:................................................159
T
2
T
2
3.2.1. Quy hoạch và quản lý đất đai: ............................................................................159
T
2
2
3.2.6. Huy động vốn đầu tư phát triển:.........................................................................176
T
2
T
2
3.2.7. Giải pháp về cơ chế chính sách: .........................................................................178
T
2
T
2
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 184
T
2
T
2
Kết luận: ..........................................................................................................................184
T
2
T
2
học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận
văn.
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn các cơ quan: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Liên minh Hợp tác xã, Hội Nông dân, Chi cục Thống kê và
Chính quyền tỉnh Bình Phước đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các tài liệu để tác giả có được
những tư liệu giá trị.
Tác giả chân thành cám ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước và gia đình,
bạn bè, người thân đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành
luận văn.
Tác giả luận văn
Dương Thị Hà
5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CT CP CS: Công ty cổ phần Cao su
CT TNHH MTV CS: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su
ĐNB: Đông Nam Bộ
ĐVT: Đơn vị tính
HTX: Hợp tác xã
HTX NN: Hợp tác xã nông nghiệp
HT: Hiện trạng
KH: Kế hoạch
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KT – XH: Kinh tế - xã hội
NTQD: Nông trường quốc doanh
nước của họ.
Ở Liên Xô (cũ), tổ chức lãnh thổ được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của địa lý
đã được nêu ra lần đầu tiên vào năm 1961 bởi Yu.G.Xauskin. Lĩnh vực thực tiễn trực tiếp để
tập trung nỗ lực của các nhà địa lý xô viết là tổ chức lãnh thổ lực lượng sản xuất, ở đây bao
gồm cả các sơ đồ lãnh thổ và các dự án cải tạo và sử dụng các điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên.
Vào thập kỷ 70, quan niệm về tổ chức không gian xã hội được đưa vào các công trình
của các nhà địa lý xô viết. Nhưng có thể thấy rằng sợi dây xuyên suốt trong các nghiên cứu
theo hướng này trong mấy thập kỷ qua là tổ chức lãnh thổ lực lượng sản xuất (từ tổ chức
lãnh thổ sử dụng tự nhiên, tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế đến tổ chức không gian cư trú
nông thôn và đô thị,…).
Quan niệm về tổ chức không gian (tổ chức lãnh thổ) cũng được coi trọng trong địa lý
Mỹ. Vào năm 1970 – 1971, ở Mỹ có các công trình lớn của R.Abler, J.Adams, P.Gould “Tổ
chức không gian – Cách nhìn thế giới của nhà địa lý” và của R.Morill “Tổ chức không gian
xã hội”.
7
Ở Anh, các quan niệm về tổ chức lãnh thổ xã hội được phát triển theo hướng mô hình
hóa, áp dụng các phương pháp định lượng. Có thể thấy tiêu biểu trong các công trình của
Peter Haggett và các cộng sự “Phân tích không gian trong địa lý kinh tế” xuất bản năm
1965, “Các mô hình trong địa lý” xuất bản năm 1992 và “Địa lý học: một sự tổng hợp hiện
đại” xuất bản vào năm 1988…
2.2. Trong nước:
Ở nước ta, quan niệm về tổ chức lãnh thổ là một nhiệm vụ cơ bản của khoa học địa lý
đã được đưa ra từ thập kỷ 70. Nhiệm vụ này được thể hiện dưới dạng phân vùng kinh tế,
phân vùng nông nghiệp – quy hoạch vùng từ những năm 60, đặc biệt thể hiện dưới dạng
“phân bố lực lượng sản xuất”, lập sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của từng ngành và của
các cấp lãnh thổ trong cả nước.
Từ những năm 80, các nghiên cứu địa lý tổng hợp đã được tiến hành mạnh mẽ với các
Lưu Đức Hồng Chủ nhiệm đề tài).
- Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 1996 và
1998.
- Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 1998.
Và còn rất nhiều quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội các vùng, các tỉnh trong toàn
quốc.
Ngoài ra, cũng còn rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến tổ chức lãnh thổ
nói chung và tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói riêng trong nước cũng như ở tỉnh Bình
Phước (Quy hoạch phát triển Nông nghiệp tỉnh Bình Phước 2006 - 2020, các đề tài của một
số sinh viên Địa lý trường ĐHSP TP.HCM và một số đề tài khoa học ở tỉnh có liên quan đến
Nông nghiệp Bình Phước,…). Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, cụ thể
về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bình Phước.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
3.1. Mục tiêu:
Vận dụng các vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (TCLTNN), đề
tài tập trung phân tích những nhân tố ảnh hưởng, hiện trạng TCLTNN của tỉnh Bình Phước.
Trên cơ sở đó, kiến nghị định hướng và các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong
TCLTNN của tỉnh, góp phần khai thác tốt các tiềm năng, mang lại hiệu quả về KT - XH.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
1. Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTNN áp dụng vào lãnh thổ
nghiên cứu.
2. Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN tỉnh Bình Phước trong thời
kỳ hội nhập.
3. Phân tích, đánh giá hiện trạng TCLTNN của tỉnh.
9
4. Đưa ra định hướng và các giải pháp phù hợp cho TCLTNN của tỉnh Bình Phước
một vùng, một khu vực thì không phải nơi nào cũng có điều kiện giống nhau để thành lập,
10
bố trí các hình thức TCLTNN. Vì vậy, dựa vào quan điểm lãnh thổ xác định tìm ra các đặc
trưng quan trọng nhất để tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phù hợp với cấu trúc lãnh thổ trong
một thể tổng hợp, sao cho mang lại hiệu quả tối ưu nhất.
5.1.3. Quan điểm sinh thái:
TCLTNN phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm sinh thái cho thấy
sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái, cần đánh giá tác động của TCLTNN
đến môi trường và khả năng chịu đựng của môi trường trước sự phát triển của kinh tế nói
chung, nông nghiệp nói riêng.
Tất cả các công tác liên quan đến việc tổ chức lãnh thổ đều phải được đặt trong quan
hệ chặt chẽ với môi trường, nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi với môi trường sinh
thái.
5.1.4. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh:
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi. Quá trình ấy
có thể bắt đầu từ trong quá khứ, hiện tại vẫn tiếp diễn và kéo dài đến tương lai. Đứng trên
quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở để
đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong thời gian sắp tới. Quan điểm này
được vận dụng trong khi phân tích các hình thức TCLTNN tỉnh Bình Phước và dự báo xu
hướng phát triển của TCLTNN của tỉnh.
5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững:
Hai thuật ngữ “Bền vững” và “Phát triển bền vững” đã trở thành thuật ngữ quen thuộc
đối với tất cả những ai quan tâm đến môi trường và phát triển. Hiện nay, quan niệm được sử
dụng rộng rãi nhất về phát triển bền vững là:
“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hôm nay mà
không gây hại đến khả năng thỏa mãn những nhu cầu của các thế hệ tương lai trong việc
đáp ứng những nhu cầu của họ” của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (Báo cáo
Brundtland-1987).
Đối với bản thân, khi nghiên cứu TCLTNN tỉnh Bình Phước đã quan tâm đến các dạng
tài liệu sau:
Trình bày bằng văn bản: sách, báo, tạp chí, đề tài, báo cáo, kế hoạch, quy hoạch,…
Số liệu thống kê.
Các bản đồ, biểu đồ, hình ảnh.
Các dạng khác: thực địa, điều tra, internet,…
12
5.2.2. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp:
Thông tin, số liệu sau khi thu thập sẽ được so sánh, phân tích, tổng hợp cho phù hợp
với mục đích của từng phần. Quá trình tổng hợp sẽ có được cái nhìn bao quát về TCLTNN
tỉnh Bình Phước. Qua phân tích, các thông tin được chắt lọc với độ tin cậy và mang lại hiệu
quả cao nhất.
5.2.3. Phương pháp thống kê:
Sau khi thu thập thông tin, số liệu, tiến hành thống kê, sắp xếp chúng lại cho phù hợp
với cấu trúc của đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng biểu về quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh cũng như ngành nông nghiệp tỉnh Bình Phước.
5.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ:
Kết quả nghiên cứu đề tài một phần được biểu diễn thông qua hệ thống bản đồ, biểu
đồ. Bản đồ được sử dụng để mô tả hiện trạng kinh tế, dự kiến phát triển kinh tế, sự phân bố
theo không gian và mối liên hệ của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội. Biểu đồ được sử
dụng để phản ánh quy mô, tình hình phát triển các hiện tượng kinh tế (các ngành, lĩnh vực).
5.2.5. Phương pháp dự báo:
Dựa trên cơ sở sự phát triển có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện
tại mà suy diễn logic cho tương lai: dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến nông nghiệp tỉnh Bình
Phước trong thời gian sắp tới và đưa ra các giải pháp để tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của
tỉnh.
5.2.6. Phương pháp sử dụng công cụ phần mềm trong nghiên cứu:
+ Làm rõ hơn những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bình
Phước cũng như thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bình Phước hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong tỉnh Bình
Phước hợp lý hơn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Ý nghĩa của luận văn: những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định
không chỉ đối với phát triển nông nghiệp tỉnh Bình Phước nói riêng, phát triển kinh tế - xã
hội trong tỉnh nói chung, mà còn có ý nghĩa trong việc góp phần làm phong phú hơn cơ sở lí
luận và thực tiễn của vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, có ý nghĩa như một tài liệu tham
khảo cho các đề tài nghiên cứu tương tự.
14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC
LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP (TCLTNN)
1.1. Cơ sở lý luận của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp:
1.1.1. Tổ chức lãnh thổ (TCLT):
Khi nói đến tổ chức không gian (lãnh thổ) không thể nói không gian hay lãnh thổ trừu
tượng mà thường gắn với lãnh thổ KT – XH của một nước, một vùng cụ thể và trong một
hình thái xã hội nhất định. Cần nhắc lại khái niệm “Lãnh thổ là bộ phận của bề mặt đất
thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhất định. Lãnh thổ bao gồm đất liền và lãnh hải, giới
hạn của lãnh thổ là đường biên giới quốc gia”.
TCLT là sự sắp xếp, bố trí các đối tượng có mối quan hệ với nhau trên một lãnh thổ
nhất định theo yêu cầu của sự phát triển KT – XH (vùng kinh tế, cả nước). Chủ thể của
TCLT đồng thời cũng là chủ thể của quản lý phát triển vùng thường được cơ quan nhà nước
bổ nhiệm (xem thêm Phụ lục 65 về các vấn đề liên quan đến TCLT).
Trong điều kiện kinh tế thị trường, TCLT cần được chú ý 2 nội dung cơ bản:
- Dự báo về sự phát triển (làm cái gì? Làm bao nhiêu? Làm cho ai? Làm như thế
nào?...).
thức tổ chức của nó theo lãnh thổ nói riêng, trước hết tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm sử
dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của cả nước cũng như của từng địa
phương.
- Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tạo nên những điều kiện nhằm đẩy
mạnh và làm sâu sắc chuyên môn hóa sản xất nông nghiệp
- Việc hoàn thiện các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp còn tạo ra cả những
điều kiện nhằm nâng cao năng suất lao động.
- Việc nghiên cứu các hình thức tổ chức nông nghiệp theo lãnh thổ góp phần vào công
tác lập kế hoạch theo lãnh thổ nền kinh tế quốc dân.
1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN
Có nhiều nhân tố tác động đến việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, tựu chung lại có thể
xếp các nhân tố này thành hai nhóm: đó là nhóm các nhân tố tự nhiên (vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư và nguồn lao
động, thị trường tiến bộ khoa học kỹ thuật…).
a) Các nhân tố tự nhiên:
* Vị trí địa lý:
16
Trong sản xuất nông nghiệp, vị trí địa lý cùng với khí hậu, thổ nhưỡng quy định sự có
mặt của các hoạt động nông nghiệp.
• Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên. Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối
tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng, và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn tại và phát
triển khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng không khí và chất
dinh dưỡng, trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố khác. Các yếu tố trên kết hợp và
cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất. Chỉ cần thay đổi một yếu tố là các yếu tố
khác cũng thay đổi theo và dĩ nhiên điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp. Những
thay đổi ấy phụ thuộc vào tính quy luật theo lãnh thổ và theo thời gian (mùa).
trồng và vật nuôi cần ít công chăm sóc thường phân bố ở những vùng thưa dân.
Nông nghiệp của các nước phát triển thuộc châu Âu, Bắc Mỹ có sự cân đối giữa trồng
trọt và chăn nuôi. Ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Á, châu Phi nông nghiệp
lạc hậu, luôn có sự mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, nguyên nhân chủ yếu là do dân
số của các nước đang phát triển đông nên trồng trọt chủ yếu cung cấp lương thực cho người
chứ không đủ để cung cấp cho gia súc như ở các nước Âu – Mỹ.
Truyền thống sản xuất, các tập quán ăn uống của các dân tộc cũng có ảnh hưởng
không nhỏ tới sự phân bố cây trồng, vật nuôi.
* Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp:
- Cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, điện, cấp thoát nước, hệ thống chợ, thông tin liên
lạc, mạng lưới giáo dục, y tế đều có ảnh hưởng rất nhiều đến vấn đề TCLTNN.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành nông nghiệp: gồm hệ thống thủy lợi, trạm bơm, cơ
sở chế biến, trạm giống, thú y, viện nghiên cứu,… ảnh hưởng trực tiếp đến việc TCLTNN.
* Thị trường tiêu thụ:
Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường tiêu thụ là yếu tố cơ bản tác động đến sản phẩm
nông nghiệp, có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp phát triển và ngược lại.
Thị trường cũng có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển vùng chuyên
môn hóa nông nghiệp ở các nước trên thế giới, xung quanh các thành phố trung tâm công
nghiệp lớn đều hình thành vành đai nông nghiệp ngoại thành mà hướng chuyên môn hóa là
sản xuất rau xanh, thịt, sữa, trứng, dù rằng có thể điều kiện tự nhiên không thật thuận lợi.
Điều đó chỉ có thể lý giải được bằng nhân tố thị trường tiêu thụ.
* Đường lối chính sách:
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Chính sách kinh tế
là công cụ đắc lực để nhà nước can thiệp vào sản xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất
nông nghiệp.
Sự điều tiết của nhà nước và các chính sách kịp thời là rất cần thiết đảm bảo quyền lợi
của nông dân, giúp nông nghiệp phát triển.
* Cách mạng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp:
18
nghiệp để sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm hàng hóa chủ yếu thích nghi nhất với
các điều kiện tự nhiên của một địa bàn lãnh thổ nông nghiệp nhất định.
Như vậy chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp là biểu hiện sự phân công lao động xã
hội trong nông nghiệp với những hình thức cụ thể: chuyên môn hóa theo ngành, chuyên
môn hóa theo vùng và chuyên môn hóa theo các doanh nghiệp nông nghiệp.
19
- Chuyên môn hóa sản xuất theo ngành: là hình thức biểu hiện sự phân công lao động
theo ngành, là quá trình hình thành và phát triển các ngành sản xuất mới theo hướng ngày
càng chuyên môn hóa cao gắn với việc sản xuất những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng.
- Chuyên môn hóa sản xuất theo vùng: là hình thức biểu hiện sự phân công lao động
theo vùng lãnh thổ, là sự tập trung các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đối đồng
nhất của vùng để tiến hành sản xuất ra nông sản hàng hóa có lợi thế so sánh nhất so với
những vùng khác.
- Chuyên môn hóa theo các doanh nghiệp nông nghiệp: là hình thức biểu hiện sự phân
công lao động giữa các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh nông nghiệp, là sự tập hợp các
năng lực sản xuất của doanh nghiệp để sản xuất ra một vài nông sản hàng hóa có hiệu quả
kinh tế cao nhất.
Chuyên môn hóa và tập trung hóa là 2 mặt cơ bản của quá trình tổ chức sản xuất trong
nông nghiệp: chuyên môn hóa chỉ ra loại sản phẩm nào được sản xuất, còn tập trung hóa chỉ
ra quy mô đầu tư và kết quả sản xuất đạt được. Nếu tập trung hóa được xem là một quá trình
cần đạt đến thì chuyên môn hóa chính là biểu hiện kết quả của quá trình đó ở từng thời
điểm.
Chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa: chính vì chuyên môn hóa nhằm sản xuất ra
một vài loại sản phẩm nào đó có lợi thế so sánh nhất so với các vùng, các đơn vị kinh doanh
nông nghiệp khác cho nên chuyên môn hóa bao giờ cũng gắn chặt với một nền sản xuất
hàng hóa phát triển.
Để đánh giá mức độ chuyên môn hóa, sự phối hợp các ngành và hiệu quả kinh tế của
phương hướng sản xuất kinh doanh, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu đánh giá sau:
Tập trung hóa sản xuất liên quan tới việc tập trung sản xuất. Thực chất, việc tập trung
là việc tăng quy mô sản xuất bằng cách hợp nhất một số cơ sở sản xuất vào một cơ sở có
quy mô lớn hơn. Việc tăng quy mô của các cơ sở sản xuất chưa hoàn toàn có nghĩa là chúng
đã được xây dựng một cách hợp lý và thỏa mãn mọi yêu cầu của tiến bộ kỹ thuật hiện nay
trong nông nghiệp.
Quá trình tập trung hóa sản xuất đòi hỏi phải xác định quy mô hợp lý của các cơ sở sản
xuất sao cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và các điều kiện cụ thể của đất nước. Nếu
việc tập trung sản xuất chỉ dựa trên cơ sở áp đặt, nóng vội thì sẽ làm mất ý nghĩa to lớn của
nó.
Phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất tạo ra khả năng cho việc tiến hành
các hình thức tập trung sản xuất khác nhau. Vì thế, việc giải quyết vấn đề tập trung hóa và
tập trung sản xuất phải tiến hành song song với vấn đề chuyên môn hóa.
+ Liên hợp hóa:
Liên hợp hóa sản xuất là sự thống nhất vào trong một xí nghiệp các ngành khác nhau
trên cơ sở tuần tự chế biến nguyên liệu và sử dụng tổng hợp nguồn nguyên liệu, phế liệu.
Liên hợp hóa bị chi phối, một mặt bởi chuyên môn hóa sản xuất và mặt khác, bởi việc sử
21
dụng đầy đủ hơn nguyên vật liệu, công suất máy móc. Nó có thể được thực hiện theo một
loại sản phẩm hoặc theo hàng loạt sản phẩm đồng nhất. Trình độ chuyên môn hóa càng cao,
sự tổ chức sản xuất liên hợp hóa càng lớn.
Trong nông nghiệp có thể chia ra hai dạng liên hợp hóa sản xuất: 1) Liên hợp hóa giữa
các phân ngành của nông nghiệp với nhau; 2) Liên hợp hóa giữa các xí nghiệp nông nghiệp
với các xí nghiệp công nghiệp.
Dạng liên hợp hóa đầu tiên được hiểu như thể tổng hợp các phân ngành nông nghiệp
khác nhau trong một xí nghiệp, còn dạng liên hợp hóa thứ hai là liên hợp hóa sản xuất sản
phẩm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và việc chế biến các sản phẩm ấy trong phạm vi
các xí nghiệp. Thông thường, phế liệu của các công nghiệp chế biến (bã rượu, phế liệu của
công nghiệp xay xát,…) được sử dụng trong các xí nghiệp nông nghiệp dưới dạng thức ăn
mỗi nước. Trong quá trình nông nghiệp ngày càng trở thành ngành sản xuất hàng hoá, đi sâu
vào thâm canh, chuyên môn hoá nông nghiệp kết hợp với công nghiệp, thì các hình thức tổ
chức sản xuất nông nghiệp vốn có cũng có những thay đổi rất sâu sắc. Có nhiều hình thức
TCLTNN với các quy mô và phương thức khác nhau. Về đại thể, có ba hình thức TCLTNN
quan trọng nhất. Đó là xí nghiệp nông nghiệp, thể tổng hợp nông nghiệp và vùng nông
nghiệp.
1.2.1.1. Xí nghiệp nông nghiệp:
Là một trong các hình thức của TCLTNN trong đó có sự thống nhất giữa lực lượng lao
động với công cụ và đối tượng lao động để sản xuất ra ra lương thực, thực phẩm cho con
người và nguyên liệu cho các ngành kinh tế. Mỗi xí nghiệp đều có tính độc lập về pháp lý
và có thể quan hệ với các xí nghiệp khác.
Các nông hộ, nông trại, nông trang, nông trường, hợp tác xã, đồn điền được coi là các
xí nghiệp nông nghiệp.
a) Hộ gia đình (hộ tiểu nông hoặc nông hộ):
Nhìn chung trên thế giới người ta thừa nhận “hộ” là “gia đình”, “kinh tế hộ” là “kinh tế
gia đình”.
Hộ gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến nhất ở các nước chậm
phát triển và đang phát triển ở Châu Á. Kinh tế hộ gia đình là kinh tế của các hộ gia đình có
quyền sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ
không nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào các hoạt
động của thị trường.
b) Trang trại nông nghiệp (nông trại):
Là hình thức sản xuất cao hơn của hộ gia đình, là sự phát triển tất yếu của nền nông
nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa. Công nghiệp tạo ra yêu cầu khách quan cho việc
phát triển sản xuất nông sản hàng hóa, tạo điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành và phát
triển.
Trang trại xuất hiện đầu tiên ở các nước Tây Âu gắn liền với cuộc cách mạng công
nghệ lần thứ nhất, sau đó phổ biến ở các nước công nghiệp Châu Âu, Bắc Mỹ rồi lan sang
23
Có hai loại băng chuyền trong nông nghiệp:
24
- Băng chuyền địa lý sử dụng có hiệu quả sự khác biệt theo vùng (còn gọi là băng
chuyền sản xuất - lãnh thổ).
- Băng chuyền địa lý sử dụng sự phát triển của tự nhiên. Băng chuyền này có thể phát
huy tác dụng ở các nước có lãnh thổ lớn, ở vùng miền núi hoặc các nước chạy dài theo kinh
tuyến.
1.2.1.4. Vùng nông nghiệp/tiểu vùng nông nghiệp:
Vùng nông nghiệp là hình thức cao nhất của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, bao gồm
trong đó các hình thức tổ chức lãnh thổ ở cấp thấp hơn.
Thực chất, đây là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về các
điều kiên tự nhiên, kinh tế được phân chia với mục đích phân bố hợp lý và chuyên môn hoá
đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả nhất các điều kiện
sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như trong nội bộ từng vùng.
Việc phân chia các vùng nông nghiệp có ý nghĩa to lớn nhằm phân bố hợp lý cây
trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp, điều kiện kinh tế xã hội và hình thành các vùng chuyên môn hóa nông nghiệp sản xuất hàng hóa.
Mỗi vùng nông nghiệp lại có thể phân hoá thành các tiểu vùng nhỏ hơn.
1.2.2. Các hình thức TCLTNN ở Việt Nam:
1.2.2.1. Xí nghiệp nông nghiệp:
a) Hộ gia đình (hộ tiểu nông hoặc nông hộ):
Ở nước ta, trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ được coi là
“kinh tế phụ gia đình”, sản xuất trên 5% đất của gia đình. Nhưng trên thực tế, sản xuất của
nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập từ kinh tế hộ gia đình
chiếm 50 - 60% tổng thu nhập của hộ. Từ Nghị quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị
kinh tế tự chủ sản xuất, kinh doanh thì kinh tế hộ đã có bước phát triển đáng kể.
Trước đây sản phẩm của kinh tế hộ gia đình thường đáp ứng nhu cầu tự cung, tự cấp.
Gần đây do nhu cầu và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, năng suất lao động được nâng