nhân vật nữ trong truyện ngắn việt nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Thái Xuân Thiện

NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
QUA SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Thái Xuân Thiện

NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
QUA SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số

: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN KHA

1.3. Nhân vật nữ là kiểu nhân vật được quan tâm trong truyện ngắn của các nhà
văn nữ ....................................................................................................................40
CHƯƠNG 2. TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮNCỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 ............................................................................48
2.1. Quan niệm về tính nữ .....................................................................................48
2.2. Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến 2000 .................64
CHƯƠNG 3. HAI KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 ............................................................................76
3.1. Kiểu nhân “tầng đời nền móng” .....................................................................77
3.2. Kiểu nhân vật “phá cách” ...............................................................................94
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU .................114
4.1. Điểm nhìn trần thuật .....................................................................................114
4.2. Ngôn ngữ đối thoại .......................................................................................120
4.3. Miêu tả ngoại hình - Ngôn ngữ thân thể ......................................................127
4.4. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật...............................................................132
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................139
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................143
PHỤ LỤC 1 ............................................................................................................152
PHỤ LỤC 2 ............................................................................................................154


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 đã có bước phát triển mạnh mẽ và đạt
được nhiều thành tựu đáng khích lệ, trong đó ghi nhận những nỗ lực và sự đóng góp
của các nhà văn nữ. Với một đội ngũ đông đảo, cùng với sự mạnh dạn tìm tòi đổi
mới, truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến 2000 phát triển với tốc
độ khá nhanh về qui mô số lượng cũng như chất lượng, sự đa dạng về phong cách,
từ đó tạo nên bức tranh giàu màu sắc và đường nét cho truyện ngắn Việt Nam hôm
nay. Có thể khẳng định, chính các nhà văn nữ đã góp phần thay đổi diện mạo và

hiểu những khao khát rất đời thường, rất con người trong sâu thẳm tâm hồn nhân
vật. Mỗi thân phận, mỗi mảnh đời là sự chia sẻ, cảm thông, chiêm nghiệm của nhà
văn về con người, về cuộc sống. Mỗi tác phẩm được viết ra như vắt kiệt sức nhà
văn, đồng thời mỗi tác phẩm là một bức thông điệp nồng nàn với cuộc sống thắm
thiết niềm tin yêu con người. Những vấn đề “rất phụ nữ” được giải bày bởi chính
tâm hồn, tình yêu, sự dằn vặt, tài năng của các nhà văn nữ. Đó chính là tiếng nói
thiết tha của nhà văn trong việc tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Tìm hiểu truyện
ngắn các nhà văn nữ trong phạm vi của đề tài “Nhân vật nữ trong truyện ngắn
Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua sáng tác của các nhà văn nữ” là để
thấy được phần nào sức sáng tạo và sự phong phú trong tâm hồn, sự đa dạng trong
phong cách thể hiện của các nhà văn nữ. Qua những trang viết mang đậm dấu ấn cá
nhân, chúng ta không chỉ bắt gặp số phận, tâm hồn tác giả, mà còn cảm nhận được
hiện thực đời sống xã hội, hiện thực lịch sử và không khí thời đại.
Với xu hướng mở cửa giao lưu hội nhập với thế giới, trong xã hội Việt Nam
hiện đại, người phụ nữ càng có điều kiện để tự do phát triển toàn diện. Khảo sát
“Nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 qua
sáng tác của các nhà văn nữ” để thấy rõ hơn dấu ấn đời sống tinh thần của người
phụ nữ trong văn học với ý nghĩa là bức tranh sinh động về đời sống của người phụ
nữ, là tiếng nói phát đi từ những thân phận trong đời sống thực. Từ kết quả nghiên
cứu cho thấy cách nhìn nhân văn của xã hội và chổ đứng, nhân cách của người cầm
bút trong xã hội hiện đại. Vì thế, nghiên cứu về nhân vật nữ trong phạm vi truyện
ngắn của các nhà văn nữ có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân văn; đồng thời vừa có

Trang 2


tính thời sự, vừa có ý nghĩa khoa học khẳng định sự đóng góp của nhà văn nữ cho
văn học Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề:
Trong quá trình nghiên cứu, người viết tổng hợp, đánh giá dựa trên các

những con người, nguồn gốc và nền tảng của cuộc sống”[43, tr.20].
Trong chuyên luận Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, tiến sĩ Tôn
Phương Lan chú ý đến kiểu nhân vật mang thiên tính nữ: “Mô típ về thiên tính nữ
được thể hiện qua những nhân vật này, thực sự là một nét độc đáo của Nguyễn
Minh Châu. Bản thân sự chịu đựng nhẫn nại, sự dịu dàng, chung thủy của họ dường
như tương phản với tất cả những ồn ã, xô bồ của đời sống, với sự ác liệt của chiến
tranh…”[72, tr.90]. Cùng với mô típ thiên tính nữ là mô típ về lòng chung thủy của
những người đàn bà vọng phu, phải chăng đó chính “là niềm mong muốn được chia
sẻ, những vất vả đau đớn, mất mát của những người thân yêu đang sống “ở những
chân trời có súng nổ có lửa cháy”, là sự gửi gắm vào người sống những ước mơ và
dự định chưa thành của những người thân yêu đã vĩnh viễn ra đi… Còn những
người đàn bà vọng phu này, họ sống được một cách vững vàng là do biết đợi chờ
chung thủy và hy vọng”[72, tr.94].
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Tôi không chúc bạn thuận buồm
xuôi gió đã nhận xét sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mang nguyên tắc tính nữ hoặc
thiên tính nữ. Theo tác giả “Thiên tính nữ trước hết là tinh thần của cái đẹp… Đẹp
là một phẩm giá tinh thần cao quí của người phụ nữ. Đó là tấm lòng “bao dung, hào
phóng với tất cả mọi người (Nàng Bua). Đó là thiên tính làm mẹ, tình cảm hồn
nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp (Tâm hồn mẹ). Đó là sự đau khổ với những
giọt nước mắt trong lành và mầu nhiệm (Nàng Sinh). Đó là tấm lòng bao la sẵn sàng
thông cảm với mọi người, kể cả những con người độc ác… Thiên tính nữ còn là
tinh thần vị tha và đức tính hy sinh… Thiên tính nữ cũng phong phú và bao la như
tâm hồn phụ nữ”[49, tr.507,508].
Trong bài viết Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, phó giáo
sư Phùng Quí Nhâm nhận định: “Một loại nhân vật khác đầy sức hấp dẫn trong sáng
tác của Nguyễn Quang Sáng là nhân vật phụ nữ. Họ là những con người có tâm hồn
trong sáng, giàu nghị lực, có những tình cảm mạnh mẽ ứng xử trong nhiều thử thách

Trang 4



Trang 5


vai mềm mại của mình cả tiền tuyến và cả hậu phương. Họ là tiếng nói thầm, là
niềm ám ảnh thương nhớ không nguôi trong tầm hồn những người chiến sĩ”[127,
tr.40]. Không chỉ miêu tả người phụ nữ trong chiến tranh, nhà văn còn gửi gắm khát
vọng của mình về một mẫu người phụ nữ trong xã hội hiện đại qua tác phẩm Khê
ma ma: “vừa sống chan hòa gần gũi với thiên nhiên, vừa giàu tình cảm nhân ái, vừa
thông tuệ và đầy đủ bản lĩnh để thích ứng chủ động trước mọi hoàn cảnh đổi thay
của cuộc sống. Phải chăng, người phụ nữ muôn đời vẫn là nơi cội nguồn sinh thành
và nuôi dưỡng mọi vẻ đẹp của sự sống và tính cách trên cõi đời này”[127, tr.40].
Nhìn chung, khi xây dựng các nhân vật nữ, các nhà văn nam khai thác và
ngợi ca vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát huy quan điểm
thẩm mỹ và giá trị truyền thống. Đó là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, sự độ lượng, tấm
lòng khoan dung, trắc ẩn và đức hy sinh của người phụ nữ.
2.1.2. Bàn về nhân vật nữ trong văn xuôi sau 1975
Song song với những ý kiến bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà
văn cụ thể, chúng tôi cũng tiến hành tổng hợp những ý kiến bàn về nhân vật nữ
trong văn xuôi sau 1975 nói chung.
Tiến sĩ Tôn Phương Lan trong tiểu luận Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự
vận động của thể loại đã nhận xét: “Góa phụ” trở thành một mô típ nổi trội trong
truyện ngắn viết về chiến tranh… Những chân dung “hòn vọng phu” thời hiện đại
đã cho chúng ta nhận dạng thêm một chiến trường không kém phần ác liệt dù ở đó
không hề có tiếng súng mà trong cuộc chiến đấu đó bản thân người phụ nữ vừa là
“địch” là “ta”, vừa là “tham mưu” cũng vừa là “tác chiến”…”[73, tr.69].
Trong bài viết Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới,
tiến sĩ Tôn Phương Lan đã khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên mà văn xuôi thời kì
này, nhất là những năm đầu của thập niên chín mươi, nhân vật cô đơn là phụ nữ
xuất hiện rất phổ biến. Những người phụ nữ đi qua chiến tranh thường không chỉ

cô gái được ghi vào sử sách, được viết thành bài ca. Dẫu có mất mát, đau thương
khi trở về thì ít ra họ cũng được an ủi bởi cộng đồng đã ghi nhận những chiến công
của họ. Còn những người phụ nữ, những người mẹ, người vợ, người yêu của lính ở
lại hậu phương, có mấy ai hiểu cho họ những mất mát hy sinh ? Truyện ngắn 75 –
95 với ánh nhìn cảm thông đến từng số phận con người, trân trọng hạnh phúc mỏng

Trang 7


manh trong cõi riêng tư của mỗi người, đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với từng nỗi
đau nhỏ bé”[137, tr.67,68].
Trong công trình Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam
1975 – 2000, tiến sĩ Nguyễn Văn Kha nhận định: “Trong truyện Việt Nam hôm nay,
một số tác giả đã dành những tình cảm đằm thắm, trong sáng cho người phụ nữ…
Sau 1975, lòng nhân ái, sự cảm thông, lòng trắc ẩn của người phụ nữ Việt Nam –
người bao dung, chia sẻ với những hy sinh, mất mát, cưu mang sự sống trước sự tàn
khốc của chiến tranh được Tạ Duy Anh thể hiện trong truyện Xưa kia chị đẹp nhất
làng. Chị Túc dành trọn tình yêu của mình cho người lính. Chị đã hóa thân để làm
dịu bớt nỗi đau của con người trong cuộc chiến ngày hôm qua… Lòng vị tha, sự
bao dung, là phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Nhưng tha thứ, yêu
thương cả kẻ thù như người mẹ trong truyện của Võ Nguyên quả là một trường hợp
hiếm hoi. Người mẹ (trong truyện Mẹ - Võ Nguyên) đã cứu một lính Mỹ bị thương
trong một trận đánh xảy ra ngay trên quê hương của mẹ, trong khi con trai là du
kích và hai người con khác của mẹ bị lính Mỹ giết hại. Bản thân mẹ cũng bị hai lính
Mỹ đi càn đe dọa, uy hiếp… Có những người mẹ đau khổ vì những đứa con lầm
đường lạc lối – trở thành tai họa cho bao nhiêu người lương thiện, đã không ngần
ngại cắt đứt cả khúc ruột của mình. Đó là trường hợp của bà Cà Xợi trong Hòn đất
của Anh Đức. Với người mẹ của Võ Nguyên, thêm một lần nữa phẩm chất nhân
hậu, bao dung của người mẹ Việt Nam được ngời sáng”[63, tr.86,87].
Trong luận án Khảo sát đặc điểm truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long từ

Trí Nhàn nhận định: “Phụ nữ Việt Nam vốn có duyên với sáng tác văn chương…
Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam
giới. Họ luôn luôn gần với cái lỉnh kỉnh dở dang của đời sống. Mặt khác, với cái
cực đoan sẵn có – tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp
nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng – từng cây bút phụ nữ tìm ra mặt mạnh của mình
khá sớm, định hình khá sớm”[88, tr.63]. Đặng Anh Đào thì nhận thấy: “Phụ nữ
thường mạnh ở cái chỗ là họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách hoặc
nói như phương Tây, người ta vẫn nói, họ tự ăn mình”[88, tr.63]. Khi nêu lên vấn
đề sự xuất hiện ồ ạt của các cây bút nữ hiện nay, Ngô Thế Oanh đã phân tích khá
chi tiết: “Trước tiên là cái hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh. Phụ nữ vốn là những
người hiểu một cách sâu sắc, hiểu bằng cả tâm hồn mình, cái sức ép trước đây của

Trang 9


hoàn cảnh. Nỗi đau hôm qua ở họ thấm thía, nên sự hồi sinh của dân tộc những năm
này họ cũng cảm nhận đầy đủ hơn. Ngoài ra, hoàn cảnh bây giờ có nhiều cái kích
thích đời sống của mỗi con người. Từ sách của Freud đến những lời quảng cáo
trong các chương trình ti vi hàng ngày – những cái đó cũng tạo thêm cơ may để
“nền văn học của các cây bút nữ” có dịp phát triển”[88, tr.64].
Trong bài Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ, giáo sư Phương Lựu khẳng
định “sáng tác của phụ nữ hay tập trung vào đề tài tình yêu. Bởi vì ái tình là một
lĩnh vực mãnh liệt nhất của con người, lại gắn với cảnh sống của gia đình với một
diện sống không quá bao la, rồi tình yêu lại mang “vị đắng” mà người phụ nữ phải
nếm trải nhiều nhất trong bao đời này”[78, tr.68].
Trong bài viết Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay, nhà nghiên cứu Phạm
Xuân Nguyên nhận xét: “Có một nét đặc biệt trong truyện ngắn hôm nay là sự xuất
hiện đông đảo, tự tin của đội ngũ viết trẻ và nhất là các cây bút nữ. Số lượng nhiều
tác giả nữ, lại tỏ ra khá chắc tay trong cái dàn chung, đem đến cho văn học nói
chung truyện ngắn nói riêng một sinh khí mới cần thiết để thể hiện bề sâu của cuộc

Trong bài viết Điểm qua sự vận động của truyện ngắn các cây bút nữ, tác giả
Lê Hương Thủy cho rằng: “Sự bổ sung về đội ngũ, sự phá cách và đặc trưng trong
việc chiếm lĩnh hiện thực của các cây bút nữ đã tạo nên những sắc màu mới cho
truyện ngắn các nhà văn nữ thời kì đổi mới, trước hết là sự đa dạng và phong phú về
dấu ấn phong cách. Ở họ vừa có sự gặp gỡ, có những mối quan tâm chung trong
cách nhìn nhận hiện thực lại có những đặc điểm mang tính cá biệt mà đặt trong đời
sống văn học, nhiều người đã tìm cho mình một lối đi riêng, một cách thể hiện dấu
ấn sáng tạo”[130, tr.68].
Trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt
Nam đương đại, tác giả Nguyễn Đăng Diệp cho rằng: “Ở Việt Nam, văn học sau
1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người
cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có
thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh,
Nguyễn Thị Thu Huệ… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng
Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những
tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài
năng của họ. Đó là chưa kể đến việc nhiều nhà văn nam giới cũng lên tiếng ủng hộ

Trang 11


sự bình đẳng giới và thừa nhận nữ giới là chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ
thể thẩm mĩ thông qua những tác phẩm xuất sắc của họ”[29]. Mặt khác, tác giả lưu
ý: “Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn chưa được giới học thuật nước
ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là một vấn đề quan
trọng của đời sống hiện đại. Đồng thời, nó cho thấy, bên cạnh những bộ môn khoa
học nghiên cứu những vấn đề bản thể văn chương, vẫn tồn tại những khuynh hướng
phê bình chính trị, xã hội. Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền
trong văn học Việt Nam có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo
hướng dân chủ hoá”[29].

những ước vọng không thành, họ đã “đau cái đau của người cùng giới, buồn cái
buồn của người đàn bà đang yêu”… Các tác phẩm với những cách tiếp cận khác
nhau đã thể hiện khát vọng tình yêu và niềm mong mỏi hạnh phúc của người phụ
nữ, bộc lộ cái nhìn trắc ẩn, niềm thương cảm với nỗi đau và thân phận đàn bà. Các
cây bút nữ đã biết phát huy lợi thế của mình trong việc diễn tả hiện thực tâm trạng,
đời sống nội tâm của nhân vật nữ tìm được sự đồng cảm ở người đọc”[130, tr.70].
Trong bài viết Nguyên lí tính mẫu trong truyền thống văn học Việt Nam,
Dương Thị Huyền cho rằng sau 1975 “với hình tượng người phụ nữ, văn học Việt
Nam đã khắc họa họ dưới cái nhìn nhiều chiều của cuộc sống. Chính vì những lý do
đó mà ta bắt gặp ở thời kỳ này rất nhiều cây bút viết về người phụ nữ và thể hiện họ
dưới nhiều góc độ khác nhau. Ta bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ trong tác
phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài với một chiều sâu về
mặt tâm hồn, vốn được làm lên từ chính những giác quan nhạy cảm của người phụ
nữ. Họ hiện lên là những người phụ nữ đẹp, khoan dung, trắc ẩn và đắm đuối”[57].
Nhận xét về thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn của một số nhà văn nữ,
Bùi Thị Thủy trong bài viết Dấu hiệu nữ quyền trong văn học nữ Việt Nam đương
đại cho rằng: nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ “đa phần là
những người đàn bà bất hạnh trong tình duyên và trong đời sống gia đình. Nhưng
hơn bao giờ hết họ luôn có thái độ chủ động trong tình yêu, dám làm tất cả những gì
mình khao khát. Họ ý thức rất rõ về hạnh phúc và luôn đấu tranh để đi đến hạnh
phúc ấy”[131]. Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Y Ban cũng “là những con
người, dám xông xáo trên con đường đi tìm tình yêu mặc dù họ biết trước rằng cuối
cùng mối tình ấy cũng chỉ là vô vọng”[131]. Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Võ

Trang 13


Thị Hảo là “những người đàn bà khổ vì yêu, rút hết gan, hết ruột để yêu và hi sinh
cho tình yêu bất cần những hệ lụy sau đó”[131].
Bàn về nhân vật nữ trong sáng tác của Lê Minh Khuê, trong chuyên luận

văn nữ, giới nghiên cứu còn chỉ ra một số hạn chế trong truyện ngắn của đội ngũ
này.
Giáo sư Phương Lựu trong bài viết Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ đã chỉ
ra nhược điểm của văn học nữ “trước hết những sáng tác của nữ giới thường mang
màu sắc tự truyện, bởi vì diện sống nói chung không được sâu rộng”[78, tr.68]. Mặt
khác, “đề tài tình yêu chiếm một vị trí khá lớn, và là đặc điểm chung trong sáng tác
của họ… Tất cả những cây bút nữ này, nếu không phải chỉ viết về tình yêu, thì chủ
yếu cũng mới chỉ viết hay về tình yêu”[78., tr.68].
Nhà phê bình Đặng Anh Đào cho rằng: “Đọc Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng
Anh khá hào hứng, tuy nhiên phải nói thật là ở mỗi người nguy cơ lặp lại mình, đơn
điệu trong cái kiểu của mình, nguy cơ ấy đã khá rõ”[88, tr.64].
Tác giả Nguyễn Đăng Diệp trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ
quyền trong văn học Việt Nam đương đại có nêu nhận xét: “Việc đề cao phụ nữ và
nỗ lực nhấn mạnh bản ngã của giới nữ không phải không có lúc rơi vào quá đà. Nó
rất dễ dẫn tới hội chứng ghét nam (thay vì hội chứng ghét nữ đã từng tồn tại một
thời gian dài trong lịch sử)… Rõ ràng, để tạo nên những tác phẩm văn học thực sự
có giá trị, chỉ có cảm xúc và sự thôi thúc của nội tâm thì chưa đủ, nó cần đến những
suy tư sâu sắc và tỉnh táo mang tính triết học”[29].
Tác giả Lê Hương Thủy trong bài viết Điểm qua về sự vận động của truyện
ngắn các cây bút nữ nhận xét về hạn chế của truyện ngắn nữ: “Đề tài sáng tác chưa
thật phong phú, nhiều khi đã có hiện tượng lạm dụng khai thác một số đề tài nhất
định và sự lặp lại mình”[130, tr.71].
Nhà văn Trang Hạ trong bài viết Phụ nữ viết văn: Lao công của nghề viết đã
nêu ra nhược điểm của các nhà văn nữ là: “Trong tác phẩm, nếu nhân vật bỏ việc để
ở nhà phụng sự đấng lang quân, bạn là người phụ nữ yếu đuối, bạc nhược. Còn nếu
bỏ chồng rồi theo đuổi sự nghiệp cho tới thành công, bạn là người phụ nữ tân tiến,
tích cực. Rất nhiều tác phẩm văn học nữ giới đã rạch ròi tốt – xấu, yêu – ghét theo

Trang 15



Trang 16


Về lực lượng sáng tác, là các nhà văn nữ hiện đang sống và làm việc trong
nước.
Về thể loại, luận văn khảo sát các truyện ngắn đã được tuyển tập, in thành
sách; những truyện ngắn đoạt giải trong các cuộc thi viết truyện ngắn và các truyện
ngắn được dư luận đánh giá và quan tâm trên các báo Văn nghệ, Tạp chí Nhà văn,
Tạp chí Văn nghệ Quân đội…
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, người viết lựa chọn 10 tác giả nữ tiêu biểu với
khoảng 200 truyện ngắn để nghiên cứu.
Những tác giả nữ nghiên cứu trong đề tài
Tên tác giả

Stt
1

Phan Thị Vàng Anh

2

Y Ban

3

Võ Thị Xuân Hà

4

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận văn, nhằm làm sáng rõ đề tài
người viết cũng tiến hành khảo sát một số truyện ngắn của các nhà văn nữ khác;
cùng với đó là một số sáng tác của các nhà văn nam cùng giai đoạn như: Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Hoa…

Trang 17


4. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn
Luận văn sử dụng những hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp lịch sử
Phương pháp này sẽ giúp làm rõ sự tác động, ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch
sử xã hội đến truyện ngắn của các nhà văn nữ như thế nào? Đồng thời thấy được
truyện ngắn của các nhà văn nữ đã phản ánh, khám phá con người, xã hội ra sao?
Cũng như những vấn đề và thách thức của thời đại mà các nhà văn đặt ra trong sáng
tác của mình.
4.2. Phương pháp nghiên cứu loại hình
Phương pháp này được sử dụng nhằm để lựa chọn khảo sát truyện ngắn của
các nhà văn nữ, từ đó định ra những nét bản chất, đặc trưng khi miêu tả và nghệ
thuật xây dựng nhân vật nữ.
4.3. Phương pháp cấu trúc – hệ thống
Phương pháp này được sử dụng nhằm sắp xếp nhân vật theo hệ thống, từ đó
tìm hiểu đặc trưng chung của kiểu nhân vật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ.
Đồng thời tìm hiểu các thủ pháp xây dựng nhân vật.
4.4. Hướng tiếp cận thi pháp học
Hướng tiếp cận này sẽ giúp làm rõ những đặc điểm về mặt thi pháp trong
truyện ngắn của các nhà văn nữ, từ kết cấu, cốt truyện đến cách xây dựng nhân
vật…
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh…
được vận dụng thường xuyên để khảo sát tác phẩm theo hướng chiều sâu.

1.1. Quan niệm về truyện ngắn
1.2. Diện mạo truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2000
1.3. Nhân vật nữ là kiểu nhân vật được quan tâm trong truyện ngắn của các
nhà văn nữ
Chương 2. Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam từ
1986 đến 2000
2.1. Quan niệm về tính nữ
2.2. Tính nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến 2000

Trang 19


Chương 3. Hai kiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986
đến 2000
3.1. Kiểu nhân vật “tầng đời nền móng”
3.2. Kiểu nhân vật phá cách
Chương 4. Một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu
4.1. Điểm nhìn trần thuật
4.2. Ngôn ngữ đối thoại
4.3. Ngôn ngữ thân thể
4.4. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

Trang 20


CHƯƠNG 1
QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
VÀ DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000
1.1. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là một khái niệm đa dạng, phức tạp, khó xác định về nội dung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status