Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Của Công Ty Cổ Phần May 10 Sang Thị Trường Hoa Kỳ - Pdf 32

Khoa Kế hoạch & phát triển
Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Của Công Ty Cổ Phần May 10 Sang Thị Trường
Hoa Kỳ
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Tổng Quan Về Nền Kinh Tế Hoa Kỳ Và Thị Trường
May mặc Hoa Kỳ
1. Tổng quan về nền kinh tế Hoa Kỳ
* Vài nét về Hoa kỳ:
* Vị trí địa lý: Hoa Kỳ là một quốc gia ở Tây Bán cầu. Hoa Kỳ gồm 48
bang tiếp giáp nhau trên lục địa Bắc Mỹ; Alaska, một bán đảo tạo thành phần
cực tây bắc của Bắc Mỹ và đảo Hawaii, một quần đảo ở Thái Bình Dương.
Quốc gia này cũng có nhiều lãnh thổ thuộc Mỹ ở Thái Bình Dương và vùng
Caribbean. Hoa Kỳ có chung biên giới với Canada và Mexico và một vùng
nước giáp với Nga.
* Diện tích: Theo tổng diện tích bao gồm cả diện tích mặt nước, Hoa Kỳ
hơi lớn hơn hoặc nhỏ hơn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khiến Hoa Kỳ là
quốc gia có diện tích lớn thứ ba thế giới. Tuy nhiên vị trí này còn tùy thuộc
vào việc hai vùng lãnh thổ do Ấn Độ tuyên bố chủ quyền nhưng do Trung
Quốc quản lý và được tính vào diện tích của Trung Quốc. Cả Trung Quốc và
Hoa Kỳ đều xếp sau Canada và Nga về tổng diện tích. Tính theo diện tích đất,
Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ ba thế giới, sau Nga và Trung Quốc. Tính theo
tổng diện tích, Hoa Kỳ:
• 3/10 kích thước châu Phi
• 1/2 kích thước Nam Mỹ
• 1/2 kích thước của Nga
• Gần như bằng Trung Quốc
Báo cáo thực tập tổng hợp 1
Khoa Kế hoạch & phát triển
• Hơi nhỉnh hơn Brazil
• Hơi hơn 1 và ¼ kích thước Australia
• 2 và ½ kích thước của Tây Âu

3,500 tỷ USD. Nhìn chung thì GDP Hoa Kỳ không những đứng số 1 về
phương diện tổng quát nhưng cũng đứng số 1 về công nghiệp và dịch vụ.
Năm 2005, trị giá về công nghiệp là 1,700 tỷ USD trong khi đó sản xuất công
nghiệp của Nhật trị giá $950 tỷ trong khi đó Trung Quốc ở mức 750 tỷ USD.
Trong thời kỳ kinh tế suy giảm, trị giá công nghiệp sẽ sút nhưng các nước
khác cùng tình trạng.
Mặc dù GDP/đầu người thì Hoa Kỳ đứng thứ 16 nhưng nếu nhìn xâu
hơn và kỹ càng hơn thì Hoa Kỳ còn giữ hàng đầu.
Về nhà đất trung bình nhà của Mỹ rộng hơn gấp hai nhà tại Âu Châu như
tại Ðức, Pháp, Anh trong khi trung bình nhà tại Hoa Kỳ còn rộng hơn Âu
Châu nhiều.
Về mức sống và đắt đỏ thì Hoa Kỳ còn nằm trong các nước hàng đầu.
Một gia đình tại Mỹ chỉ xài 5.7% về ăn uống trong khi đó các nước Âu Châu
hay Canada phải xài 9 đến 14% về ăn uống và một gia đình Nhật phải xài đến
15% lợi tức để trang trải phần ăn uống.
Hoa Kỳ có hệ thống hạ tầng cơ sở rất tốt: xa lộ, đường, đường rầy xe lửa,
cầu, hệ thống cảng, điện, nước, v.v. Hạ tầng cơ sở của Hoa Kỳ đường sắp vào
hạng thứ 9 trên thế giới sau hệ thống hạ tầng của Ðức, Pháp, và 4 nước Âu
Châu khác và Singapore và Hong Kong.
Dự đoán kinh tế Hoa Kỳ năm 2009 như sau:
GDP: Xuống còn 1-1.8%.
Báo cáo thực tập tổng hợp 3
Khoa Kế hoạch & phát triển
Lãi suất: Xuống còn khoảng 3-3.5%.
Lạm phát: Xuống.
Tỷ lệ thất nghiệp: Lên 7-9%.
Dầu khí: Xuống khoảng 45-70 USD/thùng.
Tỷ lệ bán lẻ: Xuống.
Thâm hụt cán cân thương mại: Xuống còn 400-500 USD tỷ hay 3%
GDP.

7 về xuất khẩu hàng may mặc dệt kim vào thị trường Hoa Kỳ.
Sau khi hạn ngạch hàng dệt may được bãi bỏ, nhập khẩu từ các nước
xuất khẩu hàng dệt may có chi phí thấp như Trung Quốc và Ấn Độ tăng
mạnh. Bên cạnh hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, hàng may mặc dệt kim nhập
khẩu từ Ấn Độ cũng tăng 37,91%, lên 937 triệu USD.
Năm 2005, nhập khẩu hàng may mặc dệt thoi vào thị trường Hoa Kỳ đạt
37,514 tỉ USD, tăng 6,3% so với năm 2004. Trung Quốc cũng là nước đứng
đầu về xuất khẩu hàng may mặc dệt thoi vào thị trường Hoa Kỳ với kim
ngạch xuất khẩu đạt 10,231 tỉ USD, tăng 54,57% so với năm 2004, chiếm
27,27% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc dệt thoi của Hoa Kỳ. Tiếp
theo là Mêhicô và Ấn Độ với kim ngạch xuất khẩu tương ứng đạt 3,841 tỉ
USD và 2,121 tỉ USD. Trong khi xuất khẩu của Mêhicô giảm 7,13%, thì xuất
khẩu của Ấn Độ lại tăng tới 32,75% so với năm 2004.
Do xuất khẩu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ tăng quá nhanh, ngày
8/11/2005, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ký hiệp định hạn chế xuất khẩu 34 mặt
hàng dệt may của Trung Quốc sang Hoa Kỳ trong thời hạn 3 năm. Hiệp định
này có hiệu lực từ 1/1/2006, quy định hạn ngạch đối với một số mặt hàng dệt-
Báo cáo thực tập tổng hợp 5
Khoa Kế hoạch & phát triển
may của Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong 3 năm từ năm 2006 đến
năm 2008. Trong số các mặt hàng may mặc có sơ mi cotton dệt kim, tất, sơ
mi nam và bé trai dệt thoi, áo dệt kim, quần cotton, áo bơi, bộ complê len, sơ
mi dệt kim từ sợi nhân tạo, quần từ sợi nhân tạo và quần từ tơ tằm/sợi thực
vật. Hiệp định này đã đáp ứng các yêu cầu từ phía các nhà sản xuất hàng dệt-
may Hoa Kỳ, nhưng cũng gặp không ít ý kiến phản đối từ phía Hiệp hội Nhập
khẩu hàng dệt-may cũng như Hiệp hội các nhà bán lẻ Hoa Kỳ, do những biện
pháp hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc, sẽ làm tăng giá sản phẩm dệt-may
trên thị trường Hoa Kỳ, khi các nhà nhập khẩu buộc phải tìm kiếm các nhà
xuất khẩu có mức giá cao hơn từ các nước xuất khẩu châu Á và Trung Mỹ.
• Dung lượng thị trường

Hoa Kỳ đã cung cấp một thông tin thú vị, đó là các nhà nhập khẩu Hoa
Kỳ đánh giá rất tốt về sản phẩm Việt Nam và sẵn sàng mua hàng Việt Nam.
Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ luôn muốn tìm kiếm các nguồn cung cấp
mới và hơn lúc nào hết, khi đã trở thành thành viên của WTO, các nhà xuất
khẩu Việt Nam cần chủ động tìm đến các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ để tìm cơ
hội. Các nhóm hàng được các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ quan tâm và kỳ vọng ở
các nhà xuất khẩu Việt Nam là đồ gỗ gia dụng, giày da, thực phẩm, hàng may
mặc, hàng thủ công mỹ nghệ và quà tặng lưu niệm. Ngoài ra, hàng dệt gia
đình (các loại màn cửa, bao gối, chăn, ga…) cũng có thể xuất khẩu và tiêu thụ
tốt tại Hoa Kỳ. Hàng thủ công của các dân tộc thiểu số, có tính chất đặc
biệt… cũng có thể là một mặt hàng xuất khẩu thế mạnh, nếu các nhà xuất
khẩu Việt Nam nắm bắt tốt thị hiếu.
Hoa Kỳ là một thị trường hỗn hợp, đa dạng nhu cầu về chủng loại, chất
lượng và giá cả hàng hóa. Vì thế các nhà xuất khẩu chỉ cần nắm bắt được nhu
cầu và phân khúc thị trường là không sợ thất bại. Là một quốc gia công
Báo cáo thực tập tổng hợp 7
Khoa Kế hoạch & phát triển
nghiệp, người Mỹ thích sự sẵn sàng, thuận tiện, nhanh chóng. Chẳng hạn, với
mặt hàng quà tặng, người Mỹ chuộng những sản phẩm có sẵn bao bì đóng
gói, đến mua là có ngay, chứ không cần phải mất thời gian chờ đợi và đó là
điều các nhà xuất khẩu cần phải nắm bắt.
Khi hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã có hiệu lực, Việt Nam
được hưởng ưu đãi MFN đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. như
vậy triển vọng tăng mạnh khối lượng xuất khẩu hàng hoá sẽ rất lớn. Điều đó
ngành may mặc sẽ có điều kiện thu được ngoại tệ lớn, góp phần không nhỏ
trong việc phục vụ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Xuất khẩu hàng dệt may những tháng đầu năm xuất khẩu vào thị
trường Mỹ, dù sụt giảm chút ít so với một số thị trường khác, song đây vẫn
tiếp tục là số 1 của hàng dệt may Việt Nam với kim ngạch chiếm 57% tổng
giá trị xuất khẩu mặt hàng này. Tiếp theo Mỹ là các thị trường EU chiếm

chiếm 13,6% về kim ngạch và 14,9% về số lượng của thị trường nhập khẩu
dệt may của Hoa Kỳ, song sản phẩm dệt may đến từ các nước Đông Nam Á,
Ấn Độ, Pakistan đang tăng mạnh.
* Xu hướng tiêu dùng hàng may mặc trên thị trường Hoa kỳ
Trong xu thế toàn cầu hoá, sản phẩm chỉ có thể khẳng định vị trí và năng
lực cạnh tranh của mình bằng chính chất lượng. Những đặc tính cơ bản ảnh
hưởng đến chất lượng hàng dệt may bao gồm: nhãn mác, kiểu dáng, kích cỡ,
độ bền và sự tiện lợi khi sử dụng.
Người tiêu dùng Mỹ rất thực tế, họ luôn cân nhắc và tính toán sao cho
công việc mình làm đem lại hiệu quả cao nhất. Về thị trường tiêu thụ hàng dệt
may, cho dù người tiêu dùng Mỹ coi trọng vấn đề nhãn mác, giới trẻ đặc biệt
thích tiêu dùng đồ hiệu nhưng họ cũng rất nhạy cảm với giá cả, tuy nhiên họ
Báo cáo thực tập tổng hợp 9
Khoa Kế hoạch & phát triển
vẫn có thể trả nhiều tiên cho những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính
sang tạo.
Về chất lượng sản phẩm: Theo thói quen mua hàng truyền thống, người
tiêu dùng thường đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua thương hiệu, nhãn
mác sản phẩm. Thương hiệu nổi tiếng mang ý nghĩa quan trọng để tạo nên
sức hấp dẫn của sản phẩm, song ngày nay người tiêu dùng Mỹ không quá coi
trọng thương hiệu nữa, chỉ có khoảng 32% hách hàng luôn chú ý vào nhãn
mác sản phẩm trước khi họ quyết định mua hàng. Người tiêu dùng Mỹ quan
tâm tới chất lượng nhiều hơn, 60% người tiêu dùng tìm hiểu kỹ chất lượng sợi
trước khi quyết định mua hàng, chỉ 17% khách hàng sử dụng những sản phẩm
may mặc của một hãng sản xuất duy hất mà họ cho là nổi tiếng thế giới, tỷ lệ này
rơi vào các ngôi sao điện ảnh, ca sĩ, người mẫu hoặc những người nổi tiếng.
Thời trang và thị hiếu về màu sắc: Tính cách người dân Mỹ phóng
khoáng, điều này cũng có ảnh hưởng lớn tới sự lựa chọn sản phẩm của họ. Họ
mua hàng phần nhiều theo cảm hứng, thế nên nếu không tìm thấy loại sản
phẩm mà mình ưa chuộng thì có thể mua một loại sản phẩm khác để thay thế.

làm ăn với các đối tác Hoa Kỳ. Giải quyết thị trường đầu ra rất lớn cho doanh
nghiệp.
Việt Nam đang cố gắng mở rộng và xâm nhập vào thị trường thế giới.
Với lợi thế về nguồn nhân công giá rẻ và những kinh nghiệm lâu năm với các
thị trường lớn như EU, Canada, Nhật Bản….vậy nên Hoa kỳ - một thị trường
đầy tiềm năng này hoàn toàn chúng ta có thể xâm nhập và mở rộng được.
Các sản phẩm dệt may được sản xuất tại Hoa Kỳ chủ yếu tập trung ở một
số nhóm hàng chính như thêu ren, đồ dùng trong nhà như thảm, rèm cửa và
vải bọc cho các sản phẩm nội thất. Các công ty lớn của Hoa Kỳ chủ yếu
chuyên sâu vào các dòng sản phẩm chất lượng cao, trong khi đó các công ty
Báo cáo thực tập tổng hợp 11
Khoa Kế hoạch & phát triển
vừa và nhỏ lại thành công với những sản phẩm dệt may hàng loạt. Mặc dù
ngày càng “tự động hoá” trong sản xuất nhưng số lượng lao động sử dụng
trong ngành dệt may của Hoa Kỳ vẫn rất lớn với thu nhập hàng năm khoảng
gần 170.000 USD.
Các nguyên liệu chính được sử dụng trong ngành sản xuất vải sợi của
Hoa Kỳ là len, bông (cotton) và sợi nhựa tổng hợp. Vải chiếm 40% doanh thu
của ngành sản xuất dệt may Hoa Kỳ, chỉ sợi chiếm 20%, các loại thảm chiếm
20%, và chăn màn, rèm cửa chiếm 20%.
Nhu cầu nhập khẩu: Với những mặt hàng chính như quần áo may sẵn,
hàng thêu ren, trang trí và vải sợi, nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ chỉ tăng
1,8% trong năm 2007. Trong đó các sản phẩm dệt tăng 4,5%, hàng thêu ren
tăng 3,5%, tuy nhiên nhập khẩu vải giảm 2,9% và sợi giảm 9,8%. Hàng thêu
ren vẫn tiếp tục chiếm thị phần lớn nhất trong tổng sản lượng nhập khẩu hàng
dệt may với 43,9%. Mặc dù vậy, các sản phẩm từ vải dệt đang ngày càng trở
nên quan trọng trong những năm qua với thị phần tăng đều theo các năm từ
16,8% năm 1997 lên đến 33,7% năm 2007.
Về chất liệu, cotton hiện vẫn rất được ưa chuộng tại Hoa Kỳ. Năm 2007,
số lượng nhập khẩu mặt hàng quần áo chất liệu cotton chiếm 60,2% tổng số

cấu, mẫu mã sản phẩm, phát triển các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng
cao. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Dệt may
Việt Nam và Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến, cũng hư chấp hành
nghiêm túc các yêu cầu của phía Hoa Kỳ, để tránh tình hình bất lợi đối với
hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Báo cáo thực tập tổng hợp 13
Khoa Kế hoạch & phát triển
Thời điểm đầu năm 2007 lo ngại Hoa Kỳ áp dụng cơ chế giám sát đối
với hàng dệt may Việt Nam sẽ dẫn đến nguy cơ hàng dệt may Xuất Khẩu của
Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá, các nhà Nhập Khẩu Hoa Kỳ đã rút
hợp đồng làm các Doanh Nghiệp dệt may Việt Nam rất khó khăn.
Việc trở lại của những khách hàng lớn từ Hoa Kỳ đó là biểu hiện có dấu
hiệu tốt, bởi các cơ quan quản lý của Việt Nam cùng các Doanh Nghiệp dệt
may đã chủ động áp dụng các biện pháp và hạn chế được tác động của cơ chế
giám sát của phía Hoa Kỳ.
Tốc độ tăng trưởng hàng dệt may Xuất Khẩu của Việt Nam cũng ở mức
độ vừa phải mà phía Hoa Kỳ chấp nhận được. Do đó, khả năng hàng dệt may
Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá ít xảy ra.
Nhận thức được mối nguy hại nếu để phía Hoa Kỳ áp dụng biện pháp
chống bán phá giá, các Doanh Nghiệp đã chấp hành tốt những yêu cầu từ phía
cơ quan quản lý, do đó không để xảy ra trường hợp gian lận.
Các đơn hàng dệt may từ các nhà NK Hoa Kỳ đã tạo việc làm cho nhiều
DN, nhiều hợp đồng đã được ký kết và điều đáng quan tâm là trong những
đơn hàng quay trở lại với ngành dệt may, có rất nhiều hợp đồng không thuộc
nhóm mặt hàng nằm trong diện bị giám sát từ phía Hoa Kỳ. Điều đó cho thấy
các DN đã chủ động tìm được những mặt hàng mới để XK vào thị trường này
chứ không phụ thuộc vào những Cat "nóng" vốn được coi là những mặt hàng
XK chủ lực của ngành dệt may VN đối với thị trường Hoa Kỳ.
Năm 2008, xuất khẩu dệt may Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh.
Dệt may Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 9,5 tỷ USD, tăng 21,8% so với

Bán phá giá là việc hàng hoá nhập khẩu được bán với giá thập hơn với
giá công bằng, gây ảnh hưởng hoặc đe doạ gây ảnh hưởng đến ngành công
Báo cáo thực tập tổng hợp 15
Khoa Kế hoạch & phát triển
nghiệp trong nước của nước nhập khẩu sản xuất mặt hàng tương tự. Mỹ có
quyền áp đặt thuế chống phá giá lên hàng nhập khẩu để bù lại mức phá giá.
Luật thuế chống phá giá: Luật thuế chống phá giá được sử dụng rộng rãi
hơn luật thuế chống trợ giá. Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng
nhập khẩu khi nó được xác định là hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào
Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá giá ở Hoa Kỳ với giá “thấp hơn giá trị thông
thường”.
Luật thuế chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợ
giá. Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được
xác định là hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá
giá ở Hoa Kỳ với giá “thấp hơn giá trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông
thường có nghĩa là giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa
đó ở nước xuất xứ hoặc ở nước thứ 3 thay thế thích hợp.
Thuế chống phá giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện (1) DOC phải
xác định hàng nước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ được bán phá
giá ở thị trường Hoa Kỳ, và (2) USITC phải xác định hàng nhập khẩu được
bán phá giá đang gây thiệt hại vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc
ngăn cản hình thành ngành công nghiệp tương tự tại Hoa Kỳ.
Cũng giống như trường hợp luật thuế chống trợ giá, các thủ tục điều tra
về bán phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công
nghiệp hoặc do DOC tự khởi xướng.
Thuế chống bán phá giá sẽ được ấn định bằng mức chênh lệch giữa “giá
trị thông thường” và mức giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ. DOC sẽ xác định giá trị
thông thường của hàng nhập khẩu bằng một trong ba cách. Theo thứ tự ưu
tiên là:
(1) Giá bán của hàng hóa tại thị trường nội địa,

Báo cáo thực tập tổng hợp 17
Khoa Kế hoạch & phát triển
·Tất cả các chi phí đầu vào kể cả vật chất và phi vật chất (trừ một phần
không đáng kể) tạo thành tổng giá trị hàng hóa phải được thanh toán theo giá
thị trường.
Trên thực tế, những tiêu chí này rất khó thỏa mãn và rất hiếm có trường
hợp một ngành công nghiệp ở nước có nền kinh tế phi thị trường được coi là
hoạt động theo cơ chế thị trường để được áp dụng các phương pháp kinh tế thị
trường trong điều tra bán phá giá vào Hoa Kỳ.
Báo cáo thực tập tổng hợp 18
Khoa Kế hoạch & phát triển
Chương II: Thực Trạng Xuất Khẩu Hàng May Mặc Của Công
Ty Cổ Phần may 10 sang Thị Trường Hoa kỳ
I. Khái quát chung về Công ty cổ phần may 10
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10
Công ty cổ phần May 10 tiền thân là các xưởng may quân trang đặt tại
chiến khu Việt Bắc. Các xưởng may ra đời năm 1946 trong những ngày sục
sôi không khí toàn quốc kháng chiến. Vào thời điểm đó, các xưởng may này
có nhiệm vụ sản xuất quân trang bộ đội trong công cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.
Từ những xưởng may nhỏ bé, với nhà xưởng, thiết bị thô sơ, trình độ
quản lý lạc hậu, sản xuất theo kế hoạch nhà nước giao, đến nay May 10 đã trở
thành một trong những doanh nghiệp may mặc hàng đầu Việt Nam. Hiện tại
May 10 có 14 xí nghiệp thành viên đặt tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình,
Nam Định, THanh Hoá,Quảng Bình…. Với hơn 8000 lao động, nhà xưởng
khang trang, máy móc thiết bị hiện đại. Cho đến ngày nay Công ty đã trải qua
các giai đoạn phat triển:
* Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954) :
Sau cách mạng tháng 8/1945 do nhu cầu quần áo, mũ… phục vụ bộ đội
hình thành nên các tổ may. Ngày 19/12/1946 sau lời kêu gọi toàn quốc kháng

* Giai đoạn 1954 – 1960:
Năm 1954 kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Xưởng May 10
được lệnh trở về Hà Nội để có điều kiện sản xuất tập trng hơn. Đồng thời,
Cục Quân nhu cũng quyết định ghép Xưởng May 40 ở Thanh Hoá vào Xưởng
May 10. Với việc ghép hai đơn vị và trở về Thủ Đô, May 10 đã bước vào một
giai đoạn phát triển mới cao hơn. Sau một thời gian tìm hiểu, xã Hội Xá thuộc
Báo cáo thực tập tổng hợp 20
Khoa Kế hoạch & phát triển
tỉnh Bắc Ninh cũ, nay là Phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phô Hà
Nội được chọn làm cơ sở mới của May 10, vì nơi đây đáp ứng được 2 điều
kiện cơ bản:
Thứ nhất, Hội Xá là cửa ngõ Thủ Đô, tuận tiện về giao thông (sát đường
quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, gần sân bay Gia Lâm).
Thứ hai, Hội Xá có khu đất hoang (trước là bãi pháo cua quân đội Pháp
và Nhật) rộng gần 20 ha, đủ để xây dựng xí nghiệp lớn, lại không ảnh
hưởngđến sản xuất của bà con nông dân quanh vùng.
Tháng 10/1955, Tổng cục hậu cần tiến hành biên chế cho Xưởng May 10
số lượng 564 cán bộ, công nhân viên. Ngày 26/7/1956, Xưởng May 10 và
Xưởng May 40 được hợp nhất.
Cuối quý IV năm 1956, một bộ phận của May 10 được tách ra để thành
lập Xưởng May 20 chuyên may đo quần áo cán bộ trung, cao cấp của quân
đội đóng ở khu vực Hà Nội. Riêng Xưởng May 10 được Tổng cục hậu cần
giao nhiệm vụ may sẵn quần áo cấp phát từ cấp uý trở xuống.
Đến cuối năm 1956 đầu năm 1957, quy mô Xưởng May 10 được mở
rộng, máy móc được trang bị nhiều hơn với 253 chiếc máy bay, trong đó có
236 chiếc chạy bằng điện . Nhiệm vụ chủ yếu của Xưởng May 10 vẫn là may
quân trang cho quân đội. Yêu cầu về số lượng mặt hàng tuy có nhiều và phức
tạp hơn so với thời kỳ kháng chiến, nhưng với sự cố gắng của toàn bộ cán bộ
công nhân, Xưởng May 10 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, sản xuất
thêm được nhiều loại hàng quân trang đáp ứng nhu cầu của các binh chủng

thành trong kháng chiến của tập thể cán bộ công nhân May 10 đã giúp Xí
nghiệp từng bước vượt qua các kho khăn, luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu
kế hoạch sản xuất Nhà Nước giao và xứng đáng là một trong những lá cờ đầu
nghành may mặc trong xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo thực tập tổng hợp 22
Khoa Kế hoạch & phát triển
* Giai đoạn 1965 – 1975 :
Năm 1965, giặc Mỹ thua đau ở chiến trường Miền Nam và đã liều lĩnh
đem không quân ồ ạt đánh phá Miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của
Miền Bắc cho Miền Nam. Không quân Mỹ tập trung đánh bom vào những
tuyến đường giao thông huyết mạch của Miền Bắc, các cơ sở kinh tế, cơ quan
xí nghiệp hòng làm tê liệt nền kinh tế, đưa Miền Băc” trở lại thời kỳ đồ đá”.
May 10 nằm trong khu vực kinh tế - quân sự quan trọng, sát quốc lộ 5 nối Hà
Nội với Thành Phố cảng Hải Phòng, gần Tổng kho 205 của Tổng cục Hậu
cần, Tổng kho xăng dầu, Sân bay Gia Lâm…. Khu vực này chính là mục tiêu
đánh phá hang đầu của Không quân Mỹ.
Thực hiện phong trào do Bộ Công nghiệp nhẹ phát động, May 10 đã cử
một bộ phận cán bộ lãnh đạo và công nhân viên lành nghề lên Hà Bắc, xây
dựng Xí nghiệp May X200 tại Đáp cầu - Bắc Ninh để tăng them năng lực sản
xuất cho quốc phòng. Sau này Xí nghiệp May X200 tách ra hạch toán độc lập
và nay là Công ty Cổ phần may Đáp Cầu.
Ngoài việc chiến đấu bảo vệ sản xuất, May 10 hàng năm đều thực hiện
đúng nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc. Thời gian này, Xí nghiệp hoàn thành
tốt hai đợt tuyển quân: đợt một gồm 8 công nhân viên chức, đợt hai gồm 9
cháu là con em cán bộ của Xí nghiệp.
Trong trời gian 1973 – 1975, Xí nghiệp May 10 được cấp trên giao
nhiệm vụ sản xuất quân trang số lượng lớn phục vụ quân giải phóng và bộ đội
Miền Bắc. Cả Xí nghiệp sống lại không khí tưng bừng, náo nhiệt như thời
gian chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ 20 năm về trước. Cả xí nghiệp hăng
say sản xuất vì tiền tuyến lớn, làm việc không biết mỏi, không quản ngày

Báo cáo thực tập tổng hợp 24
Khoa Kế hoạch & phát triển
Mở nhiều lớp đào tạo công nhân mới, bồi dưỡng tay nghề cho công nhân
cũ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, cử cán bộ đi học tập trung hoặc tại chức
để nâng cao trình độ quản lý.
Kết quả là sản lượng , chất lượng sản phẩm cứ tăng dần hàng năm. Đặc
biệt, năm 1984, hai mặt hàng xuất khẩu sang Công hoà dân chủ Đức và
Bungari đượcđặt gia công tăng gấp đôi so với năm 1983. Xí nghiệp được
Tổng Công ty Xuất nhập khẩu hàng Dệt May gửi công văn khen ngợi vì đã
đảm bảo tốt các yêu cầu, quy định về tiêu chuẩn, quy cách chất lượng sản
phẩm, thời hạn giao hàng.
Từ năm 1975 đến năm 1985, mỗi năm xí nghiệp May 10 đã xuất ra thị
trường các nước xã hội chủ nghĩa từ 4 đến 5 triệu áo sơ mi. Mức tăng trưởng
bình quân hàng năm 30%, nộp ngân sách tăng từ 10 – 15%/ năm, thu nhập
bình quân tăng từ 5 – 10%/ năm.
* Giai đoạn từ 1986 đến nay :
Năm 1986 được xem là một mốc son lịch sử đôi với nền kinh tế Việt
Nam. Từ sự tỏng kết tình hình thực tiễn, phân tích những bài học thành công
và những tồn tại của giai đoạn 1976 – 1985, những nhận thức mới về xu thế
cvà con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội lần thư VI
của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới mà trước hết là sự đổi mới tư duy kinh
tế.
Là một doanh nghiệp Nhà nước gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển
của đất nước, Xĩ nghiệp May 10 quán triệt tinh thần đổi mới trong tư duy kinh
tế và đường hướng hoạt đông sản xuất kinh doanh. Chú trọng sản xuất và kinh
doanh hàng may mặc xuất khẩu, những năm 1986 – 1990 May 10 đẩy mạnh
xuất khẩu vào thị trường Liên Xô và Đông Âu theo nội dung các Nghị định
thư hàng hoá ký kết giữa Việt Nam và các nước trong hội đồng tương trợ kinh
tế SEV.
Báo cáo thực tập tổng hợp 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status