nội dung đào tạo cho giáo viên tiểu học về đánh giá năng lực sử dụng tiếng việt của học sinh bằng trắc nghiệm - Pdf 32

Trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Khoa Giáo dục tiểu học

Báo cáo tập huấn thử nghiệm

NỘI DUNG ĐÀO TẠO CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH BẰNG
TRẮC NGHIỆM

Người nghiên cứu: Th.s. Hoàng Thị Tuyết

Đại học sư phạm TP.Hồ Chí Minh
Tháng 12/2001


Trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Khoa Giáo dục tiểu học

Báo cáo tập huấn thử nghiệm

NỘI DUNG ĐÀO TẠO CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH BẰNG
TRẮC NGHIỆM

Người nghiên cứu: Th.s. Hoàng Thị Tuyết

Đại học sư phạm TP.Hồ Chí Minh
Tháng 12/2001


MỤC LỤC

trƣờng tiểu học mà mình phụ trách. Trong khoa trình học lớp cử nhân tiểu học, họ đƣợc trang
bị một số hiểu biết về trắc nghiệm nói chung qua việc học bộ môn Tâm lý học trắc nghiệm
(45 tiết). Theo họ, những hiểu biết lĩnh hội đƣợc từ bộ môn này đã bƣớc đầu cho họ một số
cơ sở để nhìn lại những điều mình đã làm và ít nhiều biết điều chỉnh việc biên soạn các đề thi,
đề kiểm tra. Tuy nhiên, tất cả họ đều chƣa trải qua một khoa tập huấn chính thức nào về đo
lƣờng thành quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh tiểu học bằng trắc nghiệm. Cùng với
môn Toán, ở tiểu học, thành quả học tập môn Tiếng Việt đƣợc đánh giá chủ yếu theo hƣớng
định lƣợng với rất nhiều bài kiểm tra: kiểm tra hàng tháng, kiểm tra định kỳ và kiểm tra cuối
năm. (Ý kiến này nêu ra khi các trƣờng tiểu học chƣa áp dụng đại trà thông tƣ 15 của Bộ giáo
dục- đào tạo về đánh giá thành quả học tập của học sinh tiểu học. Theo thông tƣ này, hiện
nay, kết quả học tập môn Tiếng Việt và Toán chỉ đƣợc tính trên điểm số của bốn bài kiểm tra:
2 bài kiểm tra giữa học kỳ và 2 bài kiểm tra cuối kỳ. Các bài tập, bài làm hàng tháng chỉ đánh
giá là hoàn thành hay chƣa hoàn thành). Vì vậy, họ thực sự có nhu cầu tìm hiểu, nắm vững
kiến thức về đo lƣờng thành quả môn Tiếng Việt bằng trắc nghiệm để có thể vận dụng chúng
vào thực tiễn biên soạn các bài tập, bài kiểm tra. Mặt khác, nếu không trực tiếp biên soạn các
bài trắc nghiệm thì đối những nhà quản lý chuyên môn, những giáo viên, hiểu biết về vấn đề
đo lƣờng thành quả học tập môn Tiếng Việt cũng hữu ích cho họ trong quá trình xem xét, xác
định giá trị và hiệu quả của các bài trắc nghiệm do những cơ quan chuyên môn ở cấp cao hơn
biên soạn.

2. Thời gian tập huấn
Thời gian tập huấn kéo dài trong bốn tháng rƣỡi.
- 6 buổi học viên tham gia bài giảng để nắm những vấn đề lý thuyết kết hợp với một
số bài tập thực hành mẫu trên lớp.
- Phần thực hành đƣợc tiến hành kéo dài trong hơn ba tháng. Trong thời gian này,
ngƣời nghiên cứu trực tiếp làm việc với từng nhóm nhỏ để hƣớng dẫn, theo dõi và điều chỉnh
các hoạt động thực hành của các học viên.

3. Nội dung tập huấn
a. Lý thuyết


4. Phương thức tập huấn
- Học viên nắm những lý thuyết về trắc nghiệm dạy tiếng thông qua nghe giảng và
đọc nghiên cứu tài liệu theo hƣớng dẫn của giáo viên tập huấn. Việc cung cấp lý thuyết giúp
mỗi học viên hình thành một phƣơng pháp luận thích hợp cho bản thân, nhờ đó học viên có
thể ứng dụng những lý thuyết này vào thực tiễn lớp học.
- Tổ chức một số hoạt động/ hình thức bài tập giúp học viên truy cập lại kiến thức,
kinh nghiệm đã có về biên soạn trắc nghiệm, rồi suy nghĩ , dƣới hình thức cá nhân hay trao
đổi với ngƣời khác, phác thảo ra những phƣơng diện lý thuyết liên quan đến trắc nghiệm.
Hƣớng dẫn học viên đối chiếu các phƣơng diện lý thuyết đã nghiệm thấy với các phần lý
thuyết trong tài liệu tham khảo, sau đó thử nghiệm những lý thuyết này một lần nữa trong
thực tiễn.
- Tập hợp giáo viên/ nhà quản lý từ nhiều trƣờng khác nhau thảo luận theo nhóm về
những tiêu chí hay tiêu chuẩn năng lực thông qua việc phân tích các sản phẩm bài làm của
học sinh. Những trao đổi nhƣ thế này cung cấp cho học viên cơ hội nhận ra những năng lực
tiêu biểu biểu hiện những trình độ khác nhau của học sinh, và nhƣ vậy giúp họ nâng cao tính
nhất quán của các phán đoán của mình về năng lực ngôn ngữ của học sinh thông qua việc
xem xét các kết quả học tập thu đƣợc từ các bài trắc nghiệm
- Giáo viên tập huấn làm mẫu, học viên theo mẫu luyện tập thực hành
- Tổ chức đƣa học viên vào những hoạt động cá nhân kết hợp hoạt động nhóm/cặp
nhằm giúp họ thực hành hình thành và phát triển bảng mục tiêu qui định các kết quả học tập,
thực hành viết các câu trắc nghiệm, thực hành xem xét nội dung kiểm tra có tƣơng thích với

2


các mục tiêu đã đề ra theo dự tính cũng nhƣ đã diễn ra trên thực tiễn không; thực hành đo độ
tin cậy các bài trắc nghiệm bằng một phƣơng pháp đơn giản.
- Ngƣời nghiên cứu theo dõi, sửa chữa bài tập thực hành của các nhóm.
- Học viên nộp các sản phẩm cùng của mình sau đợt tập huấn, sau đó trực tiếp nhận

dụng dấu chấm câu.
- Đọc dấu chấm hỏi bằng cách cao giọng ở cuối câu hoặc nhấn mạnh vào từ dùng để
hỏi.
- Đọc dấu chấm cảm thay đổi giọng đọc cho phù hợp với tình cảm đƣợc diễn đạt trong
câu đó. Biết quan sát cách nhấn giọng của ngƣời đọc câu hỏi hay biết tìm hiểu câu văn diễn tả
tâm trạng của ngƣời khác khi nghe thể hiện dấu cảm.
- Biết vận dụng dấu câu đã học vào đoạn văn, vào bài tập làm văn, nâng cao cách sử
dụng dấu câu vào văn viết.
Tuy nhiên, việc sắp xếp các kết quả học tập thƣờng tuỳ tiện, thiếu hệ thống. Sở dĩ nhƣ
vậy có lẽ do học viên hiểu biết hạn chế về tính hệ thống của kiến thức, của các kỹ năng thuộc
một lĩnh vực học tập ngôn ngữ nào đó. Điều này cũng dẫn đến sự hạn chế trong khả năng
nhận diện ra các mục tiêu đƣợc nêu ra trong tài liệu có sẵn cũng nhƣ xem xét chúng có thực
sự liên kết với nhau một cách hệ thống không
Bên cạnh đó, đa số học viên nêu mục tiêu chung chung, sao chép từ các tài liệu giảng
dạy, không cụ thể và tƣơng thích với nội dung và mục tiêu giảng dạy của từng phần học cụ
thể. Đặc biệt, hầu hết các kết quả học tập không đƣợc trình bày nhƣ những mục tiêu hành vi
có thể quan sát đƣợc để nhờ vậy có thể đo lƣờng một cách cụ thể. Bảng mục tiêu, nhìn chung
đƣợc trình bày theo mô thức gồm ba phần kiến thức, kỹ năng và thái độ. Các mục thuộc kiến
thức và kỹ năng nhiều khi có liên quan mật thiết với nhau vẫn đƣợc xếp tách bạch nhau.
Có một số bảng mục tiêu dƣờng nhƣ đƣợc viết theo cách moi trong ký ức những gì đã
giảng dạy trong lớp học rồi cứ nhƣ thế mà đặt thành các mục tiêu không theo thứ tự hay
nhằm đến một mục đích nào rõ rệt.
Có một số bảng mục tiêu có vẻ nhƣ không thực sự đƣợc xây trên dự kiến về mục đích,
về nội dung, và hình thức của sự khảo sát, do đó có tình trạng ngƣời biên soạn trắc nghiệm
đặt tầm quan trọng quá đáng về một phần nào đó của chƣơng trình trong khi coi nhẹ những
phần khác cũng quan trọng không kém.

4



- Khả năng hình dung và tạo ra một hình thức trắc nghiệm tƣơng thích với từng mục
tiêu của học viên cụ thể còn rất hạn chế. Thƣờng nêu mục tiêu có thể cụ thể, nhƣng khi biên
soạn bài trắc nghiệm, họ lại lấy những bài soạn sẵn mà họ ang áng là quan trọng, không thực
sự có sự chọn lọc các bài trắc nghiệm có sẵn theo hƣớng xem xét cân nhắc xem chúng tƣơng
ứng thế nào với các kết quả học tập cụ thể đã nêu trong bảng mục tiêu.
- Có những bài trắc nghiệm thể hiện cách biên soạn là lật những trang sách giáo khoa
rồi lần lƣợt biến cải những ý tƣởng bắt gặp trên trang giấy sách thành những câu hỏi trắc
nghiệm.
- Nhiều câu trắc nghiệm lấy nguyên văn từ sách giáo khoa, điều này tạo cho học sinh
thêm cơ hội đoán mò hoặc khuyến khích ngƣời làm trắc nghiệm cho câu trả lời theo kiểu
nhận diện lại đơn thuần những điều đã học.
- Đối việc biên soạn kiểu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, học viên gặp khó khăn trong
việc biên soạn các câu mồi nhử. Các câu mồi nhử thƣờng có xu hƣớng khác biệt một cách
rạch ròi với câu trả lời đúng cho hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn. Điều này, làm cho độ
khó của bài trắc nghiệm không đạt mức độ phù hợp.

5


- Đối với loại bài điền từ, các chỗ trống chừa không đều nhau. Đặc biệt học viên ít để
ý đến việc ngữ cảnh của đoạn có đủ rõ để giúp học sinh dựa vào đó để đoán ra nghĩa của câu
để từ đó có thể định ra từ cần điền ra gì. Việc điền từ đôi khi đƣợc thực hiện nhƣ những thao
tác lấp chỗ trống bằng cách nhớ và ghi lại những điều đã học. Cách thực hiện này làm cho
mục đích của loại trắc nghiệm điền từ trong dạy tiếng là đo lƣờng khả năng hiểu từ trong ngữ
cảnh và sử dụng từ phù hợp với ngữ cảnh của học sinh không đƣợc bộc lộ.
- Trong trắc nghiệm đọc hiểu, xu hƣớng sử dụng lại ngữ liệu đã học và các câu hỏi đã
dùng trong khâu hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu trở thành quan niệm, quán tính của giáo viên.
Việc biên soạn trắc nghiệm đọc hiểu theo hƣớng dựa trên một ngữ liệu mới (dĩ nhiên ngữ liệu
này phải chứa lƣợng từ mà hầu hết học sinh đã gặp hay đã biết) để qua đó có thể đo lƣờng
khả năng học sinh sử dụng các kỹ năng đọc hiểu vào một tình huống mới thƣờng bị giáo viên

nghiệm ngƣời viết lại chỉ đề cập đến một vài trong số các mục tiêu đã đề ra.

6


Rõ ràng, không phải sự phán đoán, phân tích nào của ngƣời biên soạn trắc nghiệm
cũng đều đúng cả, nhƣng nếu suy xét thật kỹ các mục tiêu của bài trắc nghiệm và phân tích
thật chi tiết các thành phần của nó, cũng nhƣ xem xét các câu trắc nghiệm có đo lƣờng đúng
kết quả học tập ta đã định không thì cũng sẽ làm tăng giá trị của bài trắc nghiệm lên rất nhiều.
Bài trắc nghiệm có thể phục vụ cho nhiều mục đích. Ngƣời biên soạn trắc nghiệm phải biết rõ
mục đích của mình thì mới soạn thảo đƣợc bài trắc nghiệm có giá trị, bởi vì chính mục đích
này chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm

6. Về số lượng các mục trắc nghiệm của một bài trắc nghiệm.
Số lƣợng các mục trắc nghiệm cho từng kết quả học tập, thƣờng chỉ một hoặc hai
mục. Điều này do ảnh hƣởng của việc quen với cách thiết kế các bài kiểm tra môn Tiếng Việt
hiện nay. Bài trắc nghiệm cho mỗi lĩnh vực hoạt động ngôn ngữ thƣờng chỉ bao gồm từ 3 đến
5 mục. Thí dụ, bài kiểm tra đọc hiểu chỉ gồm ba hay năm câu, bài từ ngữ hay ngữ pháp chỉ
gồm 5 đến 10 mục. Mặt khác cũng do các đối tƣợng tham gia có tâm lý mang tính định kiến
là nhiều câu trắc nghiệm trong một bài kiểm tra là quá cao đối với học sinh tiểu học. Thực tế
này làm cho các bài kiểm tra tiếng Việt có một độ tin cậy không cao.

7. Về việc tính độ tin cậy cho bài trắc nghiệm
Do không có nhiều thời gian lại rất bận nhiều công việc chính khác nên các học viên
tham gia tập huấn hầu nhƣ không thể tập trung tâm sức vào đợt tập huấn. Hơn nữa, các thành
viên tham gia đợt tập huấn một cách tự nguyện, không thực sự chịu một sự ràng buộc gì về
trách nhiệm phải hoàn thành bài tập nên việc xác lập bảng mục tiêu hay phân bố câu trắc
nghiệm hay viết các câu trắc nghiệm diễn ra khá chậm chạp và khó khăn. Tất cả thành viên
tham gia đều không thể biên soạn dạng thứ hai cho bài trắc nghiệm của mình. Vì vậy, việc
vận dụng phƣơng pháp phỏng định độ tin cậy đơn giản đối với loại trắc nghiệm tiêu chí lớp

chúng.
(2) Để có thể biên soạn các bài trắc nghiệm sau khi học, nhất thiết ngƣời học phải
đƣợc tham gia thực hành một cách hệ thống, cẩn thận dƣới sự hƣớng dẫn của giảng viên. Các
công việc thuộc quá trình biên soạn đòi hỏi nhiều thời gian và sự suy nghĩ, nghiên cứu thực
hiện của ngƣời học, đồng thời sự hƣớng dẫn, giúp đỡ cận kỹ của ngƣời dạy.
2. Phần trình bày lý thuyết phải tinh gọn, cơ bản, phải giúp cho học viên hiểu rõ và
nắm các thuật ngữ cơ bản. Đặc biệt lý thuyết phải có giá trị thực tiễn, nghĩa là lý thuyết phải
giúp ngƣời học thực hành đƣợc và nhờ vậy họ hình thành đƣợc khả năng biên soạn trắc
nghiệm cho bản thân.
3. Đối với đối tƣợng đã có kinh nghiệm biên soạn trắc nghiệm, trong phần giảng giải
lý thuyết cần tổ chức cho học viên hoạt động khơi gợi lại những kinh nghiệm họ đã có, hƣớng
họ hình dung và suy nghĩ lại những kinh nghiệm mình đã có. Trên cơ sở ấy, giáo viên trình
bày lý thuyết theo hƣớng cung cấp kiến thức nhằm giúp học viên nhận ra cơ sở lý luận cho
những cách thức biên soạn trắc nghiệm mà ít nhiều họ đã biết.
4. Sau khi học viên nghe giảng, giáo viên cần đƣa ra những câu hỏi nhằm khuyến
khích học viên nắm chắc những điều cơ bản bằng cách phải đọc lại bài giảng, đọc lại tài liệu
học tập và tài liệu tham khảo rồi ghi vắn tắt những câu trả lời. Hình thức học cặp hay nhóm
thích hợp cho hoạt động học tập này.
5. Lƣu ý học viên những thói quen, quán tính trong biên soạn trắc nghiệm do kinh
nghiệm đã đƣợc tích lũy một cách tự phát hơn là tự giác.
6. Trong phần hƣớng dẫn thực hành biên soạn trắc nghiệm, hình thức học cá nhân là
tốt nhất. Tuy nhiên có thể sử dụng hình thức học cặp đối với hai học viên có cùng một nội
dung biên soạn nhƣng phải ở hai trƣờng khác nhau. Công tác thực hành của học viên cần có
sự theo dõi sát sao và sự hƣớng dẫn, giúp đỡ của giáo viên để giúp học viên có thể điều chỉnh
ngay sau khi họ hoàn thành bản thảo, trƣớc khi có thể có một bài trắc nghiệm chính thức đƣa
đến học sinh. Sự giám sát này cần đƣợc thực hiện nhƣ hình thức học tập trợ giảng (tutoring),
thầy làm việc trực tiếp với từng trò.
7. Trong quá trình trao đổi, giúp đỡ học viên thực hành, tránh lối bày sẵn mà nên tìm
cách kích thích họ phải xem xét lại những điều mình đã làm, giúp học nhận ra những ƣu và
nhƣợc điểm của bài thực hành, gợi hƣớng tham khảo lại tài liệu liên quan để có thể điều


10%

2

- Đƣa ra đƣợc những từ cùng nghĩa, gần nghĩa hay trái nghĩa.

15%

3

- Giải nghĩa / đoán nghĩa đƣợc một số từ mới trong một đoạn văn về chủ đề

5%

1

thiếu nhi.

5%

1

nhi.

15%

3

 Mục tiêu 2: Hiểu và sử dụng từ


20

- Nhận ra một vài từ dùng chƣa thích hợp trong một đoạn văn về chủ đề thiếu

- Biết đặt câu với những từ cho sẵn
- Biết đặt thêm một vài câu phù hợp, liên quan ý với một câu cho sẵn

Bài trắc nghiệm nội dung từ ngữ lớp Hai từ tuần 18 đến tuần 22.
Chủ đề Học tập
1. Đánh dấu X vào ô trống em cho là đúng "Đoàn kết" là:
□ Cùng học, cùng chơi với bạn ngồi chung bàn.
□ Không trêu chọc nhau
□ Cùng hợp sức đồng lòng làm một việc chung

9


□ Chơi thân với nhau.
2. Đánh dấu X vào ô trống em cho là đúng. "Dũng cảm" là
□ Không sợ ai hết.
□ Việc gì cũng làm.
□ Dám đƣơng đầu với khó khăn, không sợ nguy hiểm.
□ Sẵn sàng và dám làm mọi điều ngay cả việc không tốt.
3. Đánh dấu x vào ô trống em cho là đúng. "Đến nơi đến chốn" là:
□ Làm hoàn thành một công việc, không bỏ dở dang.
□ Đi đến một nơi mà ta muốn đến.
□ Làm giỏi mọi việc.
□ Làm một việc đƣợc giao.
4. Đánh dấu vào câu chứa tất cả các từ đều thuộc chủ đề đồ dùng học tập



Từ trái nghĩa với từ "chăm học " là:
□ Chăm làm
□ Lƣời biếng
□ Lƣời học
□ Ham học
□ Tối dạ
9. Điền thêm từ vào chỗ trống trong các câu sau
a) Nơi nào trong nhà đƣợc bố trí dành làm chỗ riêng cho trẻ ngồi học gọi là......
b) Ngƣời biết xếp đặt đồ đạt gọn gàng, đúng nơi đúng chỗ gọi là ngƣời..............
10. Đánh dấu x vào những câu có từ dùng chƣa thích hợp
□ Ở lớp, Hoa luôn luôn chăm học, ở nhà Hoa chăm làm.
□ Việc gì Hoa cũng làm đến nơi đến chốn
□ Đi học về Hoa biết đồng tam hiệp lực giúp đỡ cha mẹ.
□ Bạn Mai đi học rất cần cù
Ghi chú: Bài trắc nghiệm có 10 câu, chỉ thực hiện đo lƣờng các kết quả học tập thuộc
mục tiêu 1.

11


Sản phẩm 2
Bảng mục tiêu giảng dạy
Từ ngữ lớp 4 - Tuần lễ 18 - 21
Chủ đề Quân đội - Công nghiệp
 Mục tiêu 1: Hiểu nghĩa từ ngữ thuộc chủ đề
- Xác định nghĩa của các từ ngữ thuộc chủ đề
- Đƣa ra định nghĩa của các từ ngữ thuộc chủ đề
- Nêu đƣợc những từ cùng nghĩa/gần nghĩa với một số từ thuộc chủ đề.

□ Cán bộ
b. Đất nƣớc ta đang phát triển.............................................”
□ Than đá
□ Công nghiệp nhẹ
□ Nông nghiệp Sản xuất
2. Điền từ vào 1 đoạn văn với các từ thích hợp sau: hiện đại hóa, cơ khí, sản xuất, máy
móc, kỹ thuật (5 đ)
a. "Các nhà máy............................................................................................ở nƣớc ta đang
đƣợc..........................................................................................
từng bƣớc. Muốn phát
triển.......................................................................................cần phải trang bị đầy đủ cho các
nhà máy những............................................................................dụng cụ, phụ tùng, nguyên
liệu và ................................................................................................................cần thiết".
b. Chọn từ "Bộ đội, hỏa điểm, súng, tiêu diệt, địa hình" điền vào chỗ trống (2,5đ)
"Lợi dụng...............................................................có lợi, anh tiếp cận,
ném.............................................................................................................lựu đạn rồi vụt đứng
dậy dùng bao cát bịt chặt lấy họng.............................................................địch. Tiếp theo, tiếng
anh hô vang lên: "Xung phong" ................................................................................. ta .
..................................................... xông lên. Địch hoàn toàn
bị.......................................................................................................”
3. Chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống đoạn văn sau: (2.5đ)
"Tháng hai vừa qua, anh tôi đã trúng tuyển..............................Anh bắt đầu những ngày luyện
tập trên ................................Anh đƣợc phân công ....................................ở cỗng chào vào
ngày Chủ nhật. Anh mặc............................................rất chỉnh tề. Trên vai áo còn đeo
........................................................................của binh chủng đặc công. Em rất vui khi anh giờ
đã khỏe mạnh."
4. Các từ gạch dưới trong đoạn văn sau chưa thích hợp, em hãy chữa lại cho đúng:(2đ)
"Đơn vị bác tôi thuộc quân phục (.......................................) Hải quân. Sau một năm đóng
quân trên trận địa (..................................), các bác đƣợc trở về đất liền. Để chào mừng ngày
Quân đội nhân dân Việt Nam, bác tôi chuẩn bị quần áo (

 Mục tiêu 1: Hình thành kỹ năng đọc thành tiếng
- Phát âm đúng các phụ âm đầu, âm cuối, vần thanh dễ lẫn lộn do
phƣơng ngữ.
- Đọc đúng từ, câu, đoạn
- Đọc ngắt đúng chỗ, rõ ràng, rành mạch Đọc diễn cảm.
 Mục tiêu 2: Hình thành kỹ năng đọc hiểu
- Hiểu nghĩa các từ ngữ khó

10%

2

- Hiểu ý câu, mối liên hệ về ý giữa các câu

10%

2

- Hiểu đoạn văn nhƣ là một tập hợp câu biểu lộ một ý trọn vẹn.

5%

2

- Khái quát ý chính từng đoạn

10%

1


- Đặt câu với một số từ đã học trong bài đọc.

10%

2

- Hiểu đƣợc một đoạn văn mới có chứa những từ đã học

10%

2

5%

1

5%

1

100%

20

tác giả.
Mục tiêu 3: Tăng đƣơc vốn từ theo chủ đề đã học

nghĩa, đồng nghĩa, đồng âm khác nghĩa.

 Mục tiêu 4: Hình thành tƣ tƣởng, tình cảm.

2. Bánh lái uể oải khuấy động mặt nƣớc xanh xầm.(.....................................................).
3. Mặt trời lững lờ di chuyển trên sông. (.......................................................)
4. Những ngọn đồi xanh giống nhƣ những nếp gấp lộng lẫy trên bộ y phục sang trọng của mặt
đất. (...........................................................................................)
5. Thỉnh thoảng có chiếc lá thu vàng bập bền trên mặt nƣớc. (................................)
Những bông hoa tím
Cồn cát cao trên kia là chỗ cô Mai nằm nghỉ. Những cây dƣơng đang độ lớn vây
quanh mộ với hàng chữ đỏ khắc trên bia: " Nguyễn Thị Mai, dân quân, hi sinh ngày 10-101968".
Những ngƣời già trong làng kể lại rằng: chiều nào cô Mai cũng ra cồn cát đỏ với một
khẩu súng trƣờng. Và trên nền cát trắng tinh, nơi ngực cô Mai tì xuống đón đƣờng bay của
giặc, mọc lên những bông hoa tím. Ngày chiếc máy bay bốc cháy đâm đầu xuống biển cũng
là ngày cô hi sinh.... Những bông hoa ấy vừa nở, mùi thơm bay về tận làng, làm nôn nao cả
lòng ngƣời những buổi chiều nhƣ chiều nay.
Trần Nhật Thu

16


(Sách giáo khoa Tiếng Việt 4- tập 2, tr.13)
Đánh dấu x v à o ô trống em cho là đúng
1. Từ "nằm nghỉ" trong câu cồn cát cao trên kia là chỗ cô Mai nằm nghỉ thể hiện cách
diễn đạt:
□ cô Mai đang nghỉ mệt.
□ cô Mai đã mất
□ cô Mai đã mất với tấm lòng thƣơng yêu trìu mến
□ cô Mai đã hy sinh trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm
2. Cô Mai đã hi sinh trong thời kỳ:
□ chống Mỹ
□ chống Pháp
□ thực dân Pháp đô hộ nƣớc ta

- Nhận ra câu thiếu chủ yếu hay thiếu vị ngữ.
- Xác định ranh giới của chủ ngữ, các vị ngữ, song song
- Nêu đƣợc ý nghĩa của vị ngữ trạng thái hay hoạt động
- Nhận biết danh từ trong câu
- Nêu đặc điểm của danh từ cụ thể/danh từ trựu tƣợng
- Nêu đƣợc điểm khác nhau giữa danh từ trừu tƣợng và danh từ cụ

Tầm
quan
trọng

Số
câu

50%

15

50%

15

thể.
- Nêu đƣợc điểm khác nhau giữa danh từ chung và riêng.
- Nhận diện và phân biệt các loại danh từ trong một câu hay trong
một đoạn.
- Hệ thống, phân loại danh từ trong 1 chuỗi các danh từ khác nhau
- Nêu đƣợc công dụng của danh từ trong câu: làm chủ ngữ, làm vị
ngữ với từ "là"
 Mục tiêu 2: Sử dụng câu.


Ghi chú: Ngƣời viết bảng mục tiêu và lập bảng phân bố câu hỏi theo tầm quan trọng của các
mục tiêu trên khá cẩn thận và cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn trắc nghiệm, học
đã bận một số công tác xa đột xuất nên đã không biên soạn đƣợc bài trắc nghiệm.

19


Sản phẩm 5
MỤC TIÊU GIẢNG DẠY TIẾT 18, 19, 20, 21. NGỮ PHÁP LỚP 5
Câu ghép Đẳng lập
 Biết sử dụng câu ghép đẳng lập
1) Thêm một vế câu phù hợp với ý nghĩa của một vế cho sẵn. (15% - 3 câu )
Dạng 1: Thêm vế câu và dấu câu thích hợp vào 1 vế cho sẵn
- Bố đi làm ........................................................................................
Dạng 2: Nối vế câu thích hợp ở cột A và cột B
A
B
- Trời mƣa to
- Bạn Lan học giỏi môn tiếng Việt
- Bạn hồng học giỏi môn toán
- Đƣờng lầy lội
2) Sửa một vế câu không phù hợp với vế câu đầu tiên (15% - 3 câu)
- Nam đá banh, trời nắng chang chang
- Hoa hồng thơm nức, quả xoài ăn ngon
3) Viết lại một đoạn văn trong đó sử dụng dấu phẩy và dấu hai chấm cho thích hợp. (15% -3
câu)
" Những cảnh tuyệt đẹp của đất nƣớc hiện ra, cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm
cỏ: dòng sông với những đoàn thuyền ngƣợc xuôi."
4) Dùng từ chỉ quan hệ thích hợp để nối hai vế câu. (10% -2 câu)

Ví dụ: Nắng ấm, sân rộng và sạch, Mèo con chạy giỡn hết góc này đến góc khác, hai
tai dựng đứng lên, cái đuôi ngoe nguẩy. Chạy chán, mèo con lại nép vào một gốc cau, một sợi
lông cũng không động: nó rình một con bƣớm đang chập chờn bay qua. Bổng cái đuôi quất
mạnh một cái, mèo con chồm ra. Thôi hụt rồi!. . . .
Bài trắc nghiệm nội dung kiến thức ngữ pháp lớp 5 từ tuần 18 đến tuần 22
Câu ghép đẳng lập
1. Thêm vế câu và dấu thích hợp vào 1 vế cho sẵn: (lđ)
- Bố đi làm .............................................................................................................
- Hôm nay, bài tập rất nhiều...................................................................................
2. Nối vế câu thích hợp ở cột A và cột B: (lđ)
A
B
- Trời mƣa to
- Bạn Lan học giỏi môn Tiếng Việt
- Bạn Hồng học giỏi môn Toán
- Đƣờng lầy lội
3. Sửa một vế câu không phù hợp với vế câu đầu tiên: (lđ)
- Nam đá banh, trời nắng chang chang
- Hoa hồng thơm nức, quả xoài ăn ngon.
4. Sửa lại từ chỉ quan hệ đã dùng sai: (lđ)
- Cuộc chiến đầu sắp bắt đầu còn mọi ngƣời vẫn bình tĩnh.
- Bố mẹ em đi làm thì em đi học.
5. Thêm từ chỉ quan hệ giữa hai vế câu: (lđ)
- Trời mƣa to .......................................... bạn Lan không có áo mƣa.
- Gia đình bạn Nam có nhiều khó khăn ................................. bạn ấy vẫn học giỏi.
- Con Nâu đứng lại ................................. cả đàn đứng theo.
- Chị Vân đã dứt câu hát ...................................Em vẫn còn nghe nao nao.
6. Đặt hai câu ghép đẳng lập có sử dụng dấu câu hay từ chỉ quan hệ: (2đ)
- .................................................................................................................
- .................................................................................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status