ISSĩtĩỉa^Ạ
m m m m
N G U YÊN TRỌNG HOÀN
ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
NGỮ VĂN 9
t
(Tái bún lần tliứ tư)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Công ty Cổ phần Dịch vụ xuất bản Giáo dục Hà Nội Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giữ quyền công bố tác phẩm
41 -2010/CXB/417-05/GD
Mã số: T9V36hO-C:PD
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện Chương trình Trung học cơ sở (Ban hành kèm theo Quyêt định
số CB/QĐ-BGD&ĐT ngày 24 - 1 - 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo),
môn Ngữ văn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp - trong đó
trọng tâm của yêu cầu dạy học phần Văn là Đọc - hiểu văn bản (bao gồm các
trích đoạn hoặc tác phẩm văn học trọn vẹn, các văn bản nhật dụng). Đây là
yêu cầu lần đầu tiên được gọi tên một cách chính thức trong sách giáo khoa
Ngữ văn, xác định những nội hàm cụ thể để học sinh thực hiện một chuỗi
có thể giới thiệu một văn bản tương đương hoặc gần gũi với bài học để tạo
điều kiện cho người đọc so sánh kiến thức ; có thể cung câp một số nhận điịnh
để tham khảo cho việc đánh giá về tác giả, tác phẩm ; cũng có thể cung cấp
một bài văn, bài thơ có tính chat thực hành hoặc mỏ rộng trường liên tưởng.
*
*
*
Mục đích tìm hiểu và tính chẵt của tài liệu sẽ quy định phương thức íđọc.
Phương thức đọc - hiểu văn bản Ngữ văn chắc chắn không chỉ là điều qman
tâm của một cá nhân. Rất mong các thầy, cô giáo và các bạn học sinh trrong
quá trình sử dung cuốn sách này góp cho những ý kiên quý báu để chúng tôi có) dịp
bổ khuyết.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 7 - 2005
TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀvN
4
T^hồKi mộ+
TIẾN TỚI MỘT QUY TRÌNH
ĐỌC - HlỂu VĂN BẢN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1. Vấn để
Đọc là một hoạt động nhận thức nhằm hiểu nghĩa thông qua quá trình chủ
thể người đọc làm việc với văn bản. Trước văn bản, người đọc vận dụng
những kiến thức đã có cùng với những gợi ý (trực tiếp và gián tiếp, hàm ngôn
(1) Lê Vũ, theo Straits Times, báo Giáo dục Thành phô'H ồ Chí Minh, số 21,13 - 11 - 2003.
(2) Lê Vũ, theo Straits Times, báo Giáo dục Thành phô'H ồ Chí Minh, số 22, 17 - 11 - 2003.
6
đọc có kinh nghiệm hơn, ki năng nảy tinh tế hơn ihông qua việc phân tích và
đánh giá văn bản. Viết là một hình thức hồi đáp lại đối với văn bản. Thông
qua các bài viết, học sinh học cách sáng tạo văn bản và điều đó giúp các em
phát triiển khả năng suy nghĩ có phê phán.
Việ*c đọc thường diễn ra theo các bước cơ bản sau : học sinh đọc thầm, học
sinh nghe giáo viên hoặc nghe bạn trong lớp đọc, đọc thành tiếng. Việc đọc
thành tiếng đặc biệt có nghĩa khi người đọc biết dừng lại mỗi lần gặp phải
một từ mới và khó, lấy đó làm căn cứ để chú ý, tập trung thảo luận. Sau khi
đọc, giáo viên giúp học sinh tham gia hội thoại (trao đổi) về văn bản đọc.
Những thảo luận về bài học sẽ giúp học sinh có điều kiện tích luỹ kiến thức về
tử mới và các khái niệm liên quan tới nội đung đọc - hiểu, gắn nó với kinh
nghiệmi hiểu biết trước đây. Trong hoạt động này, học sinh được học từ mới
gián tie'p khi nghe và nhìn thấy từ được sử dụng trong những tình huống khác
nhau, v í dụ qua hội thoại, qua nghe người khác đọc và qua chính bản thân
mình đ ọc.
Hiếu vừa là nguyên nhân, vừa là mục đích của việc đọc. Khi nào người
đọc chưa hiểu được văn bản thì đó chưa phải là quá trình đọc. Trong khi đọc,
học sinỉh đồng thời nhận ra nghĩa của những điều đang đọc, tham gia một quá
bình plhức tạp, vận dụng kiến thức đã biết để đọc (hiểu biết về từ vựng, cấu
trúc vă,Ti bản, kĩ năng đọc) thây nghĩa của văn bản. Muôn đạt được điều đó,
với mỗi bài đọc, phải được đặt dưới sự kiểm soát của các câu hỏi, nhằm :
1. Hướng học sinh vào mục tiêu bài đọc, 2. Tập trung sư chú ý của học sinh vào
nội dưng bài đọc, 3. Giúp học sinh suy nghĩ tích cực trong khi đọc, 4. Khuyến
khích hoc sinh kiểm soát được quá trình đọc - hiểu, 5. Giúp học sinh hình dung
ô'ng
nhất, kết hợp hài hoà của các yếu tố : dân tộc và nhân loại, truyền thống; và
hiện đại để làm nên sự thông nhẵt giữa sự vĩ đại và giản dị trong phong cách
của Người.
10
động để ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ về một thảm hoạ có thể huỷ diệt toàn bộ
sư sống trên trái đất.
3. Tóm tắ t:
Dây là một bài văn nghị luận xã hội. Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản
có liên quan mật thiết với nhau :
- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất.
- Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng
thời đâu tranh cho một thế giới hoà bình.
Đê làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đưa ra một hệ thống lập
luận chặt chẽ, đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức
thuyết phục.
15
4. Cách đọc :
Bài văn có giọng tranh luận, đối thoại ngầm, hệ thông lập luận, dẫn (Chứng
râ't ngắn gọn, súc tích, có sắc thái khẳng định mạnh mẽ. Vì thế, cần thcê hiện
giọng đọc mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng từng ý, từng câu.
II - KIẾN THỨC C ơ BẢN
Chúng ta đang sông trong một thế giới mà trình độ khoa học kĩ thuật
đang phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc : những thành tựu củat ngày
hôm nay, rất có thê’ chỉ ngày mai đã thành lạc hậu. Đã từng có những ý kũẽn bi
quan cho rằng : trong khi của cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân ssố trái
đâ't lại tăng theo cấp số nhân, con người sẽ ngày càng đói khổ. Tuy nhiêm, nhờ
có sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, của cải xã hội ngày' càng
dồi đào hơn, số người đói nghèo ngày càng giảm đi...
Đó là những yếu tô' tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phẩần lớn
chúng ta đều nhận thây. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầm như
rất ít người có thể nhận thức được. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-lkét đã
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.
Trẻ em là tương lai đất nước. Suy rộng ra, sự vận động và phát triển của
thế giới trong tương lai phụ thuộc râ't nhiều vào cuộc sống và sự phát triển
của trò em hôm nay. Càng ngày, vẫn đề đó càng được nhận thức rõ ràng hơn
trôn phương diện quốc tế. Năm 1990, Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em đã
được tổ chức. Tại đó, các nhà lãnh đạo các nước đã đưa ra bản Tuyên bô' th ế
giới về s ự sôhg còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Bài viết này
đã trích dẫn những ý cơ bản nhất của bản Tuyên bớ'đó.
Ngay trong phần mở đầu, bản Tuyên bô'đã khăng định những đặc điểm
cũng như những quyền lợi cơ bản của trẻ em. Từ đó, các tác giả bắt vào mạch
chính với những ý kiến hết sức cơ bản và lô gích.
23
Trong phần thứ nhât, tác giả nêu ra hàng loạt vân đề có về thực trạng
cũng như sự vi phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em. Đó là sự bóc lộit, đày
đoạ một cách tàn nhẫn, là cuộc sông khốn khổ của trẻ em ở các nước rnghèo.
Trong hoàn cảnh ấy, những con sô" thông kê rất có sức nặng ("Mỗi ngíày, có
hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo và kíhủng
hoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia cư, dịch bệnh... ; Mỗi ngày có tới
40 000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật,..."). Những con số biiết nói
ấy thực sự là lời cảnh báo đối với nhân loại.
Với nội dung như vậy nhưng các tác giả lại đặt tên cho phần này là Sự
thách thức. Mới đọc, có cảm tưởng giữa đề mục và nội dung không thật ithống
nhất. Tuy nhiên, đó lại là yếu tố liên kết giữa các phần trong văn bản nà'y. Tác
giả đã sử dụng phương pháp "đòn bẩy" : hiện thực càng được chỉ rõ bao nhiêu
thì những vân đề đặt ra sau đó lại càng được quan tâm bây nhiêu.
Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay
những cơ hội) cho những hoạt động vì quyền của trẻ em. Đó là những phương
tiện và kiến thức, là sự hợp tác, nhất trí của cộng đồng thế giới cùng sự tăng