BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XHCN CỦA ĐẢNG TA
(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở)
Mã số: CS 2002 . 23 . 24
Người thực hiện: TS. Lương văn Tám
Năm 2003
BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XHCN CỦA ĐẢNG TA
(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở)
Mã số: CS 2002 . 23 . 24
Người thực hiện: TS. Lương văn Tám
Năm 2003
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH. ĂNGHEN, V.I. LENIN VÀ HỒ CHÍ
chất của một chế độ xã hội đƣợc hình thành từ sự phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghệ
cùng với sự phát triển con ngƣời trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Nếu công cụ thủ công là đặc trƣng cho cơ sở vật chất - kỹ thuật của các xã hội tiền tƣ
bản chủ nghĩa thì nền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất của chủ nghĩa tƣ bản. Cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật mà giai cấp tƣ sản thực hiện ở thế kỷ XVIII đã chuyển nền sản
xuất xã hội từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, đánh dấu một bƣớc nhảy vọt lớn của sản
xuất xã hội, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tƣ bản.
Trên nền tảng của cái logic trên thì theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin,
chủ nghĩa xã hội là xã hội phát triển cao hơn chủ nghĩa tƣ bản, và nhƣ vậy, cơ sở vật chất - kỹ
thuật của nó, tất nhiên, phải là nền đại công nghiệp cơ khí phát triển, hoàn thiện ở một trình
độ cao hơn (CNTB). Vào các thế kỷ XVIII-XIX, chủ nghĩa tƣ bản chiếm địa vị thống trị và
chi phối ở nhiều nƣớc, nó thâu tóm cả nền tiểu sản xuất, làm phá sản nhiều tầng lớp dân cƣ,
do đó quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa dựa trên sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa đã trở
thành cái hình thức chật hẹp và trở thành xiềng xích đối với sự phát triển của lực lƣợng sản
xuất đã xã hội hóa rộng lớn. Vì thế, xóa bỏ sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa, xác lập sở hữu
xã hội chủ nghĩa để giải phóng và phát triển lực lƣợng sản xuất của xã hội trở thành một yêu
cầu khách quan. Tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và sự xuất hiện chế độ xã hội chủ
nghĩa bắt nguồn từ căn nguyên sâu xa đó của sự phát triển lực lƣợng sản xuất.
Thời kì sau Cách mạng tháng Mƣời Nga, do ý thức rất rõ vai trò cơ sở vật chất - kỹ
thuật đối với sự phát triển xã hội, Lênin đã sớm nhận thức chức năng nền tảng của nền đại
công nghiệp cơ khí đối với chủ nghĩa xã hội. Ông đánh giá rất cao những thành tựu của chủ
nghĩa tƣ bản trong lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt những thành tựu công nghiệp của Đức và
Mỹ. Chính vì vậy, Ngƣời đã đƣa ra một luận điểm nổi tiếng: "Chủ nghĩa cộng sản là Chính
quyền Xô viết cộng với điện
1
khí hóa toàn quốc"(1). Và để làm sáng tỏ vấn đề ông diễn giải: "Cơ sở vật chất duy nhất của
chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp... một nền đại công nghiệp ở vào trình độ
kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo nông nghiệp”(2). Tƣ tƣỏng nêu trên của các nhà kinh
(2)
Sđd, t. 44, tr. 11.
2
phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tƣ bản chủ nghĩa. Theo
Mác và Ăngghen, xóa bỏ tƣ hữu là xóa bỏ tƣ hữu tƣ bản vì nó là nguồn gốc đẻ ra mọi áp bức
bóc lột và bất bình đẳng.
Sau này, Lênin cũng đã nhận thấy tầm quan trọng của việc xóa bỏ chế độ tƣ hữu tƣ
bản chủ nghĩa và khẳng định: chủ nghĩa xã hội không hề xóa bỏ tất cả các quyền sở hữu của
mọi công dân mà chỉ muốn xóa bỏ quyền sở hữu của các địa chủ và tƣ bản. Ông coi đó là
điều cốt yếu. Các nhà kinh điển từ Mác, Ăngghen đến Lênin đều coi sự khẳng định cuối cùng
việc thiết lập chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Các ông
đều quan niệm rằng, việc thiết lập chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất sẽ mang lại cho xã hội
một loạt hệ quả mà trƣớc hết là tạo ra cho nó khả năng điều tiết một cách có kế hoạch nền sản
xuất xã hội và tạo điều kiện để xóa bỏ sản xuất hàng hóa, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột và bất
công trong xã hội.
Khi chế độ tƣ hữu tƣ bản chủ nghĩa với nền sản xuất đại cơ khí đã bị công hữu hóa, do
xã hội làm chủ thì sẽ không còn hiện tƣợng do chạy theo lợi nhuận mà làm cho sản xuất rơi
vào tự phát gây ra khủng hoảng kinh tế.
Tuy nhiên, các ông cũng không có tƣ tƣởng cực đoan trong vấn đề này, Ph.Ăngghen
trong tác phẩm "Nguyên lí chủ nghĩa cộng sản" đã nêu: Việc xóa bỏ chế độ tƣ hữu phải là
một quá trình lâu dài, từng bước từ thấp đến cao. Kế thừa tƣ tƣởng đó, Lênin đã áp dụng
Chính sách kinh tế mới (NEP), tinh thần căn bản của NEP do chính Lênin khởi xƣớng là chú
trọng giải phóng mọi tiềm năng của sản xuất xã hội, coi lợi ích kinh tế của ngƣời lao động là
động lực và đòn bẩy kích thích sản xuất phát triển, do đó, cần thiết phải thực hiện những biện
pháp mở rộng thị trƣờng, khai thông những ách tắc trong lƣu thông, phân phối, trao đổi sản
mới nhất của chủ nghĩa tƣ bản. Lênin khẳng định, điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn của
chủ nghĩa xã hội chính là ở chỗ, giai cấp vô sản đƣa ra và thực hiện đƣợc kiểu tổ chức lao
động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Nếu kỷ luật lao động của chế độ nô lệ và phong
kiến là kỷ luật roi vọt, kỷ luật lao động của chủ nghĩa tƣ bản là kỷ luật đói, thì kỷ luật lao
động của chủ nghĩa xã hội là kỷ luật tự giác.
Kỷ luật tự giác và tự nguyện trong lao động của đông đảo quần chúng là nguồn sức
mạnh, là điều kiện bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội. Nó là sản phẩm tất
yếu của việc thủ tiêu chế độ tƣ hữu tƣ bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tƣ liệu sản
xuất, của việc điều hành nền sản xuất xã hội theo một kế hoạch chung, thống nhất lợi ích
chung của toàn xã hội. Nó cũng đồng thời là kết quả của giáo dục, rèn luyện lâu dài và công
phu trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng cộng sản và Nhà nƣớc xã hội chủ
nghĩa tiến hành đối với đông đảo quần chúng lao động đƣợc giải phóng và trở thành ngƣời
chủ xã hội mới. Nhờ chất lƣợng
4
của kỷ luật lao động mới bắt nguồn từ lợi ích thiết thân của ngƣời lao động mà chủ nghĩa xã
hội mới có thể tạo ra đƣợc năng suất lao động xã hội cao hơn gấp bội so với chủ nghĩa tƣ bản.
Lẽ dĩ nhiên, đạt tới mục tiêu đó là cả một quá trình lịch sử lâu dài tiến lên từng bƣớc,
vừa dựa vào tiến bộ kỹ thuật, vữa dựa vào ý thức ngƣời lao động, vừa dựa vào cơ chế quản lý
và chính sách ngày càng hoàn thiện, qua đó vừa cải tạo triệt để xã hội cũ, vừa từng bƣớc xây
dựng và hoàn thiện chế độ xã hội mới.
1.1.4. CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Khi bàn về phân phối, Mác vạch rõ: trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mỗi ngƣời sản xuất
sẽ đƣợc nhận trở lại từ xã hội một số lƣợng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lƣợng lao
động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội. Nguyên tắc là nhƣ vậy, nhƣng phân phối theo lao
động không có nghĩa là mỗi ngƣời làm đƣợc bao nhiêu sản phẩm là đƣợc hƣởng hết bấy
nhiêu. Tổng sản phẩm do lao động xã hội tạo ra phải đƣợc đem phân phối vừa cho tiêu dùng
cá nhân, vừa cho cả tích lũy tái sản xuất mở rộng và cả tiêu dùng công cộng của xã hội.
các hình thức áp bức, bóc lột này bằng hình thức áp bức, bóc lột khác. Chỉ có chủ nghĩa xã
hội mới có khả năng giải phóng con ngƣời khỏi các hình thức áp bức và bóc lột đó.
Việc xóa bỏ tình trạng ngƣời bóc lột ngƣời sẽ góp phần giải phóng con ngƣời khỏi các
tai họa khác nhƣ sự nô dịch, áp bức dân tộc; góp phần tạo ra sự bình đẳng, hữu nghị giữa các
dân tộc.
Chủ nghĩa xã hội không chỉ giải phóng con ngƣời ra khỏi tình trạng nô lệ, mà còn tạo
điều kiện cho con ngƣời phát triển toàn diện để họ trở thành ngƣời chủ xã hội và có năng lực
làm chủ xã hội thật sự. Đây chính là bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa nhân đạo
cộng sản chủ nghĩa. Với thời gian và nọ lực của con ngƣời, nhất là của lực lƣợng tiến bộ lãnh
đạo xã hội, sự nghiệp này sẽ dần dần đƣợc thực hiện.
1.1.6. CNXH thực hiện sự bình đẳng xã hội.
Mác và Angghen coi việc xây dựng xã hội công bằng và bình đẳng là mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó vừa phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội, xu thế phát triển
của lịch sử, vừa thể hiện đƣợc nguyện vọng bao đời của quần chúng lao động. Khi đƣa ra
quan niệm của mình về chủ nghĩa xã hội, các ông quan niệm rằng, công bằng và bình đẳng là
những chân giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa và nó phải trở thành hiện thực trong cuộc sống
của nhân dân lao động, đem lại tự do và hạnh phúc cho ngƣời lao động.
Các ông khẳng định rằng, bình đẳng là cơ sở, là căn cứ chính trị và là một trong
những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, với cách nhìn duy vật biện
chứng về sự phát triển của lịch sử, với quan điểm lịch sử - cụ thể áp dụng vào việc phân tích
trình độ phát triển hiện thực của chủ nghĩa xã hội, các ông đã làm sáng tỏ một nhận thức khoa
học là, dưới chủ nghĩa xã hội, bình đẳng không có nghĩa là ngang bằng nhau về mọi phương
diện, vì con người trong xã hội không có điều kiện như nhau, thí dụ người khỏe, người yếu,
người trẻ, người già, người có ít con, người có đông con, người lao
6
động chân tay, người lao động trí óc..., do đó đóng góp của mỗi ngƣời cho xã hội cũng khác
nhau và nhu cầu của mỗi ngƣời cũng khác nhau. Nói cách khác, chủ nghĩa xã hội không thể
của nó: chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống; tính
chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp với tinh thần của chủ nghĩa xã hội
sinh động, sáng tạo của bản thân quần chúng nhân dân.
1.1.8. Nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân lao động, nhà
nước mang bản chất giai cấp - giai cấp công nhân.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng đề cập tới khái niệm chuyên
chính vô sản khi xác định bản chất, chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc kiểu mới, nhà nƣớc
đƣợc xác lập trong thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội giành chính quyền của giai cấp vô
sản. Mác và Ăngghen đã từng nói đến nhà nƣớc thực hiện chức năng của chuyên chính vô sản
trong những điều kiện và hoàn cảnh kịch sử xác định của thời kỳ quá độ từ xã hội tƣ bản tới
xã hội cộng sản.
Thực chất của chuyên chính vô sản là nhằm xác lập, bảo vệ và phát triển nền dân chủ
vô sản (hay nền dân chủ xã hội chủ nghĩa) để đem lại quyền lực dân chủ, trƣớc hết là dân chủ
cho đông đảo quần chúng lao động. Do đó, nó tất yếu phải thực hiện trấn áp đối với các thế
lực phản cách mạng đi ngƣợc lại lợi ích của quần chúng lao động và của cả xã hội. Nhà nƣớc
cách mạng ấy còn là công cụ để quần chúng nhân dân thể hiện và thực hiện sức mạnh sáng
tạo của mình trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nƣớc.
Lênin làm sáng tỏ thêm nhiều phƣơng diện cụ thể thuộc về bản chất và chức năng của
nhà nƣớc đó. Ông nhấn mạnh rằng, đó là nhà nƣớc kiểu mới, nhà nƣớc nửa nhà nƣớc, nhà
nƣớc không còn hoàn toàn theo nghĩa đen của nó nữa.
Sự khác biệt về nguyên tắc, về bản chất của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa so với tất cả
các nhà nƣớc đã có trong lịch sử, kể cả nhà nƣớc tƣ sản mà nó trực tiếp phủ định là ở chỗ,
trấn áp bằng bạo lực tuy vẫn là một chức năng nhà nƣớc có tính phổ biến đối với nhà nƣớc xã
hội chủ nghĩa, nhƣng chức năng này không còn là chủ yếu và cũng không phải là duy nhất.
Nó hƣớng chủ yếu vào lĩnh vực tổ chức và xây dựng xã hội mới, làm cho chủ nghĩa xã hội tỏ
rõ tính ƣu việt của nó bởi tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Đây mới là mặt chủ
yếu, là bản chất quan trọng nhất của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, theo Lênin, nhà
nƣớc xã hội chủ nghĩa trong khi thực hiện chức năng của chuyên chính vô sản nó hƣớng
đề cập, muốn nhấn mạnh. Chẳng hạn:
Về phân phối sản phẩm, chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa... làm của chung. Ai
làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những
ngƣời già cả, đau yếu và trẻ con.(2)
(1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.461
(2)
Sđd, t.8, tr. 226.
9
Khi quan niệm chủ nghĩa xã hội về mặt kinh tế, Hồ Chí Minh thƣờng nhấn mạnh hai
yếu tố: chế độ sở hữu (công cộng hoặc xã hội) và quan hệ phân phối: làm theo năng lực,
hƣởng theo lao động.
Còn trong lĩnh vực chính trị, Ngƣời nhấn mạnh mặt bản chất của chủ nghĩa xã hội, đó
là nền dân chủ kiểu mới, là nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân, "chỉ lo làm lợi cho nhân dân,
trƣớc hết là nhân dân lao động, ngày càng đƣợc tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho
trong xã hội không có ngƣời bóc lột ngƣời."(1)
Khi tìm hiểu chủ nghĩa xã hội theo quan niệm này của Hồ Chí Minh phải đặt trong
tổng thể quan niệm chung của Ngƣời về chủ nghĩa xã hội, không đƣợc tuyệt đối hóa một mặt
nào đó mà Ngƣời đƣa ra, dễ dẫn đến sai lầm trong chỉ đạo thực tiễn.
Quan niệm về chủ nghĩa xã hội bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: chỉ
rõ mục tiêu, phƣơng hƣớng và phƣơng tiện để đạt đƣợc mục tiêu đó. Đây là quan niệm phổ
biến mà Hồ Chí Minh hay dùng nhất. Trong hơn hai chục khái niệm về chủ nghĩa xã hội mà
Hồ Chí Minh đề cập, thì trong đó có hơn 2/3 thuộc loại này. Dƣới đây là một số trƣờng hợp
dung rất phong phú, hàm súc, là cả một quan niệm rộng lớn về con đƣờng phát triển, về con
đƣờng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngƣời. Di sản đó nếu đƣợc
nghiên cứu một cách thấu đáo, vận dụng hợp lý sẽ thật sự trở thành nền tảng lý luận cho việc
tìm kiếm mô hình chủ nghĩa xã hội đổi mới ở Việt Nam. Mục tiêu: dân giàu, nƣớc mạnh, xã
hội công bằng và văn minh mà Đảng ta đặt ra chỉ có thể đạt đƣợc bằng con đƣờng xã hội chủ
nghĩa và thông qua chủ nghĩa xã hội. Đây chính là sự diễn đạt ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong
thời hiện đại.
1.2.2 Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
* Những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã đƣợc các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đề
cập đến. Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tiễn Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã khẳng định con đƣờng cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ
tƣ bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh viết: "Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ
phong kiến, đến chế độ tƣ bản, đến CNXH, nói chung thì loài ngƣời phát triển theo qui luật
nhất định nhƣ vậy. Nhƣng
12
tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đƣờng khác nhau.”(1)
Theo Hồ Chí Minh, khi bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nƣớc ta có
những đặc điểm sau đây:
Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, dƣới sự lãnh đạo của
giai cấp công nhân, trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và trí thức đã đƣợc củng cố
vững chắc, Việt Nam tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai
đoạn mới không bắt đầu bằng một cuộc đảo lộn chính trị, giành chính quyền. Đặc điểm này
đƣợc Hổ Chí Minh hết sức lƣu ý và luận chứng đầy đủ.
Về phƣơng diện kinh tế, "miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mà đặc
Những đặc điểm này quy định bản chất và tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tƣ bản chủ nghĩa ở nƣớc ta.
* Bản chất và tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nƣớc ta là quá trình biến nền sản xuất nhỏ, lạc hậu thành nền sản xuất lớn, hiện đại. Thực
chất phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức
tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta đã hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân
chủ, so sánh lực lƣợng trong nƣớc và quốc tế đã có những biến đổi. Bản chất này đòi hỏi phải
áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm
chống lại các thế lực đi ngƣợc lại con đƣờng xã hội chủ nghĩa.
Do những đặc điểm và bản chất trên quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài.
Quá trình đó bao gồm hai mặt: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, xây dựng nền tảng
vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài. Hồ Chí
Minh hết sức nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó đƣợc Hồ Chí Minh lý giải theo các bình diện:
Thứ nhất, đây thật sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả
lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thƣợng tầng. Nó đặt ra
và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.
Thứ hai, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp mang tính kinh tế.
Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta chƣa có kinh nghiệm, là công việc hết sức mới mẻ, vừa làm
vừa học, có thể sẽ có vấp váp và thiếu sót. Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức
tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.
Thứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn luôn bị các thế lực phản động trong
và ngoài nƣớc tìm cách chống phá. Theo Ngƣời "kẻ địch gồm có 3 loại: CNTB và bọn đế
quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm
ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể đàn áp nó mà phải cải tạo nó một
cách cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài. Kẻ địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tƣ tƣởng tiểu tƣ
sản còn ẩn nấp
nhân, nông dân và trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; củng cố và tăng cƣờng sức mạnh
toàn
(1)
Sđd, t. 9, tr. 287.
15
bộ hệ thống chính trị cũng nhƣ từng thành tố của nó trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là tƣ tƣởng nhất quán của Hồ Chí minh.
Nội dung kinh tế, đƣợc Hồ Chí Minh đề cập đến trên các bình diện: lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Ngƣời nhấn mạnh đến việc tăng gia sản xuất
gắn liền với thực hành tiết kiệm, không ngừng nâng cao năng suất lao động trên cơ sở tiến
hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa "Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là 2 việc
then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, để cải thiện đời sống nhân dân”(1)
Đối với cơ cấu kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần
kinh tế. "Ngƣời thì có 2 chân. Kinh tế một nƣớc thì có 2 bộ phận chính: nông nghiệp và công
nghiệp. Ngƣời không thể thiếu một chân, thì nƣớc không thể thiếu một bộ phận kinh tế. Nƣớc
ta là một nƣớc nông nghiệp. Nâng cao nông nghiệp là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn chính
quyền, toàn dân”(2).
Ngƣời có quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp, lấy nông
nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thƣơng nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các
ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Ở nƣớc ta, Hồ Chí Minh là ngƣời đầu tiên chủ trƣơng phát triển cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ngƣời cho rằng "có hình thức sở
hữu chính về tƣ liệu sản xuất nhƣ sau: - sở hữu nhà nƣớc tức là của toàn dân; - sở hữu của
hợp tác xã; - sở hữu của ngƣời lao động lẻ; - một ít tƣ liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tƣ
bản”(3).
bản chủ nghĩa Trong bối cảnh lịch sử lúc đó, việc khẳng định con đƣờng bỏ qua chế độ tƣ
bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, đó là quan điểm đầy sáng
tạo, xuất phát từ điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa
18
phong kiến. Cách mạng Việt Nam đi vào trào lƣu cách mạng vô sản toàn thế giới, và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đang đƣợc tiến hành ở Liên Xô, có thể tạo ra khả năng giúp
đỡ cho Việt Nam phát triển nhanh chóng.
Lực lƣợng để thực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam là đông đảo quần chúng
nhân dân, lấy khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân làm nền tảng
dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Điều đó nói lên tính chất cuộc cách mạng do Đảng
Cộng sản lãnh đạo, đó là sự nghiệp cách mạng của đông đảo nhân dân lao động.
Sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản cuối những năm 20 đã có tác dụng to lớn đối với
việc thúc đẩy sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng và đề ra cƣơng lĩnh cách mạng của
Đảng trong giai đoạn lịch sử đó.
Tóm lại, bối cảnh quốc tế và trong nƣớc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã dẫn tới sự
lựa chọn lịch sử của cách mạng Việt Nam là đi theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Lý tƣởng đó
mang tính định hƣớng, phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng
của nhân dân Việt Nam đang bị đô hộ, bị bóc lột tàn khốc.
2.2. Giai đoạn 1945 -1954.
Nghị quyết Hội nghị cán bộ TW lần thứ 5 (3/1948): muốn tiến lên CNXH, các nƣớc
dân chủ mới cần có 3 điều kiện: quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân ngày càng vững chắc;
thành phần kinh tế XHCN ngày càng rộng lớn và có thể lấn dần kinh tế tƣ nhân; đƣợc các
nƣớc XHCN thành công và các nƣớc dân chủ khác giúp đỡ.
Nghị quyết cũng nêu rõ: quá trình tiến từ dân chủ mới lên CNXH là một cuộc đấu
tranh lâu dài, khó khăn và gian khổ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần II (2/1951). Tại Đại hội, Đảng ta đã nêu lên nhiều quan
2.3. Giai đoạn từ sau năm 1954 đến nay.
2.3.1.Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960). Đề ra đƣờng lối CMXHCN ở
miền Bắc một cách toàn diện và cụ thể. Với những quan điểm sau:
CMXHCN là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt, nhằm đƣa MB nƣớc ta từ
nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nhỏ tiến dần lên nền kinh tế XHCN dựa trên cơ sở sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN.
CMXHCN là một quá trình bao gồm 2 mặt: cải tạo XHCN và xây dựng CNXH. Hai
mặt đó có quan hệ khắng khít với nhau, ảnh hƣởng và thúc đẩy lẫn nhau.
Cải tạo: các tp kinh tế phi XHCN, chuyển nền kinh tế nhiều thành phần sang nền kinh
tế XHCN. Đảng chủ trƣơng: cải tạo nông nghiệp, công thƣơng nghiệp TB tƣ nhân ...
Xây dựng: công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ mà mấu chốt
là ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng, coi công nghiệp là nền tảng. Tiến hành CMXHCN
trên lĩnh vực tƣ tƣởng - văn hóa..
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện CMXHCN ở MB thời kỳ này cũng đã bộc lộ
những hạn chế sau:
Nhanh chóng chuyển nền kinh tế nhiều thành phần sang nền kinh tế XHCN thuần
nhất, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể
20