1
TRUỒNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHAT
NGUYỄN THỊ MẾN
LựA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
sức
NHANH NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY
100M CHO Nữ ĐỘI TUYỂN ĐlỂN k in h
TRƯỜNG THPT
YÊN DŨNG SỐ 2 - BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI - 2011
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHAT
NGUYỄN THỊ MẾN
LựA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
sức
NHANH NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY
100M CHO Nữ ĐỘI TUYỂN ĐlỂN k in h
Nguyễn Thị Mến
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GDTC : Giáo dục thể chất
TDTT : Thể dục thể thao
THPT : Trung học phổ thông
XPC
: Xuất phát cao
XPT
: Xuất phát thấp.
TĐC
: Tốc độ cao.
T
: Tiết.
MĐ
: Mục đích.
TĐ
: Thời điểm
5
DANH MUC BẢNG BIỂU
Số biểu
Nội dung
bảng
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Yên
Dũng số 2 - Bắc Giang.
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và
học tập môn GDTC.
Trang
26
27
Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy lOOm đang
Bảng 3.3
được trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang áp
32
35
36
Bảng 3.9
Tiến trình thực nghiệm.
38
Bảng 3.10
Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm.
39
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Biểu đồ 3.1
Biểu đổ 3.2
Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm của
nhóm đối chứng.
Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm của
nhóm thực nghiệm.
Biểu diễn kết quả chạy 30m tốc độ cao trước và sau
thực nghiệm.
Biểu diễn kết quả của chạy 60m XPT trước và sau
40
1.4. Nội dung và các giai đoạn huấn luyện điền kinh..........................................8
1.5. Sức nhanh và các biểu hiện của sức nhanh..................................................... 11
1.6. Phương pháp rèn luyện sức nhanh................................................................... 15
CHƯƠNG 2: NHIỆM v ụ , PHƯƠNG PHÁP, T ổ CHỨC NGHIÊN c ứ u ........ 21
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................21
2.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 21
2.3. TỔ chức nghiên cứu...........................................................................................23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ..................................................... 25
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sự phát triển sức nhanh trong chạy
lOOm của nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang. .. 25
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức nhanh
nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên
Dũng 2 - Bắc Giang................................................................................................... 31
KẾT LUẬN........................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................47
8
ĐẶT VẤN ĐỂ
Trong xã hội ngày nay, khi chất lượng cuộc sống đã và đang từng bước
được nâng cao, thì nhu cầu về sức khỏe nói chung và tập luyện thể dục thể
thao (TDTT) nói riêng càng được quan tâm nhiều hơn. Thể dục thể thao là một
công cụ để nâng cao sức khỏe, tạo điều kiện cho người lao động phát ừiển một
cách toàn diện. Bác Hồ cũng đã nói: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ
thể tráng kiệrTi 1], muốn phát triển trí óc thì trước hết con người phải khỏe
manh. Và cũng vì lí do: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống
và đại học.
Trong môn điền kinh, chạy lOOm là môn được nhà trường đặc biệt quan
tâm. Tập luyện và thi đấu chạy lOOm đòi hỏi vận động viên phải có sự hội tụ
đầy đủ các tố chất thể lực và khả năng phối hợp vận động. Trong đó việc phát
triển sức nhanh là yếu tố quan trọng, khâu then chốt vì nó ảnh hưởng trực tiếp
đến thành tích của môn chạy cự li lOOm. Môn thể thao này đòi hỏi vận động
viên phải có sự nỗ lực cao về ý chí, tính tự giác, tích cực. Do vậy, chạy lOOm
là môn thể thao đòi hỏi ngưòi tập phải tập luyện có khoa học, có hệ thống mới
đạt thành tích cao. Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Lựa chọn
bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy lOOm cho nữ đội
tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang”.
*Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài nghiên
cứu lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh trong chạy lOOm cho nữ đội tuyển
điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang để ứng dụng trong quá
tành giảng dạy, góp phần nâng cao thành tích chạy lOQm.
10
CHƯƠNGI
TỔNG QUAN CÁC VAN ĐỂ NGHIÊN cứu
1.1. TÁC DỤNG CỦA TDTT
Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của thể dục thể thao (TDTT) thể hiện ở
sự phát triển các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự mềm dẻo
khéo léo) và bổi dưỡng lã năng, kĩ xảo khác trong lao động, quân sự và sinh
hoạt sau này.
Người tập TDTT thường có thân hình cân đối, nở nang, cơ bắp phát
triển khỏe manh. Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ tránh được các bệnh về
tim mạch. Người tập thường xuyên thì tim sẽ khỏe hơn và to hơn bình thường.
GDTC
TRONG TRƯỜNG THPT
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại
điều 41 quy định: Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển thể dục
thể thao, quy định giáo dục thể chất (GDTC) bắt buộc trong trường học,
khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức thể dục tự nguyện của nhân
dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục
thể thao chuyên nghiệp, bổi dưỡng các tài năng thể thao. [3]
Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khóa VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT
thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trinh
giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đào tạo giáo viên TDTT cho trường
học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế
độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở
thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó phát hiện và
tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.
Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được ủy ban Thường
vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT
trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh
thiếu niên nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh,
12
sinh viên được thực hiện ữong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến
đại học. TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt
buộc và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học. Nhà nước khuyến khích và
tạo điều kiện cho học sinh được tập TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và
điều kiện từng nơi. GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu
viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những thành
công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc đẩy các
em tự giác, tích cực trong học tập.
Về trí nhớ: Các em ở tuổi này hầu như không tồn tại việc ghi nhớ máy
móc, do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt chẽ
và lĩnh hội được bản chất, vấn đề cần học tập. Vậy nên khi giảng dạy GDTC
giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân
tích chi tiết kĩ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng
phương tiện, phương pháp để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời
gian nhàn dỗi.
Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so vói lứa tuổi
trước đó. Các em có thể tiếp thu được những bài tập khó và đòi hỏi khắc phục
khó khăn lớn trong luyện tập.
1.3.2. Đặc điểm sinh lí của học sinh THPT
*Hệ thần kinh
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện. Khả năng tư duy, khả
năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi cho việc
hình thành các phản xạ có điều kiện, giúp các em tiếp thu và hoàn thiện kĩ
thuật động tác. Tuy nhiên đối với một số bài tập đơn điệu không hấp dẫn thì
làm cho các em nhanh chóng mệt mỏi.
Vì vậy khi giảng dạy GDTC, giáo viên cần thay đổi nhiều hình thức tập
luyện một cách phong phú, đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi
để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính.
Ngoài ra do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến
yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế nên giáo viên cũng
cần sử dụng bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng của học sinh
để có nhũng biện pháp điều chỉnh kịp thời.
14
NỘI DUNG VÀ CÁC GIAI ĐOẠN HUẤN LUYỆN ĐlỂN
k in h
1.4.1. Nội dung huấn luyện điền kinh
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung hay điền kinh nói riêng là quá
trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kĩ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lí và
lí luận. Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo
thành một quá trình thống nhất của việc hoànthiện thể thao cho vận động viên
điền kinh. Qua trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương
tiện, phương pháp huấn luyện chung, huấn luyện chuyên môn và các hình thức
khác nhau của lượng vận động trong tập luyện và thi đấu.
1.4.2. Các giai đoạn huấn luyện điền kinh
Trong quá trình huấn luyện điền kinh nói chung và huấn luyện chạy cự
li ngắn nói riêng đều có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn huấn luyện ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa sâu.
+ Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
Mỗi giai đoạn đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ riêng đáp ứng với
nhu cầu và mục đích huấn luyện vận động viên.
*Giai đoạn huấn luyện ban đầu
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là phát triển thể lực toàn diện của
các em, dạy cho các em những bài tập khác nhau, gây cho chúng sự ham thích
thể thao đặc biệt là điền kinh.
Trong giai đoạn huấn luyện này phương pháp trò chơi chiếm ưu thế vì
nó không chỉ dùng để phát triển tốc độ mà còn để tăng cường sức manh, khả
năng phối hợp vận động và sức bền. Trong giai đoạn huấn luyện ban đầu còn
có các bài tập nhằm phát triển tổng hợp các tố chất thể lực của vận động viên.
các phương tiện huấn luyện với tỉ trọng thích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực
hiện chúng và vị ừí tiến hành tập luyện. Đây là giai đoạn vận động viên tập
luyện thể thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ
17
điêu luyện về thể thao. Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của
chuyên môn hóa sâu như: thể lực, kĩ thuật, chiến thuật, tâm lí cũng như được
nâng lên đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng các bài
tập đào tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng và
cường độ tăng nhiều hơn so với giai đoạn trước, khối lượng các cuộc kiểm ưa
thi đấu cũng tăng lên rõ rệt và ữở thành nội dung không thể thiếu được trong
kế hoạch huấn luyện. Hệ thống tập luyện và thi đấu ngày càng trở nên cá biệt
hóa, đào tạo thể thao phần lớn gắn liền với thành tích thể thao. Do đó, đòi hỏi
vận động viên phải dành nhiều thời gian và công sức, dồn nhiều tâm trí để tập
luyện và thực hiện chế độ sinh họat phù hợp, có kế hoạch để đạt được thành
tích cao nhất.
*Giai đoạn hoàn thiện thể thao
Ở giai đoạn này lượng vận động trong huấn luyện tương ứng với thi đấu
càng lớn và việc tuân thủ theo nguyên tắc thích hợp càng nghiêm ngặt thì
thành tích càng cao. Y ì vậy cần đặc biệt thận trọng đến mối quan hệ giữa khối
lượng và cường độ của lượng vận động trong huấn luyện.
Việc huấn luyện chạy ngắn đẳng cấp cao khác với huấn luyện cấp thấp
hơn cả về nhiệm vụ, nội dung và sự phân chia lượng vận động. Khi bắt đầu lập
kế hoạch huấn luyện cần phân tích và làm rõ những mặt manh, mặt yếu trong
thi đấu của vận động viên, những khâu còn yếu trong huấn luyện thể lực và kĩ
thuật, lượng vận động khác nhau của chu kì năm.
Tất cả những tài liệu này cho phép huấn luyện viên lựa chọn thận trọng
hơn các phương tiện huấn luyện (để sửa chữa những khuyết điểm) khối lượng
và cường độ trong chu kì huấn luyện nhiều năm. Qua nghiên cứu các nhà lí
khác nhau. Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp. Thí dụ
thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thòi gian phản ứng vận động, tốc độ động
tác đơn và tần số bước chạy. Trong động tác có sự phối hợp phức tạp thì tốc độ
không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác
nhau. Thí dụ trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số
19
của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau. Vì
vậy tốc độ động tác hoàn chỉnh chỉ biểu hiện gián tiếp sức nhanh của con
người. Cho nên trong khi phân tích đánh giá sức nhanh của con người phải căn
cứ vào mức độ phát triển của từng hình thức đơn giản của nó.
1.5.1. Đặc điểm sức nhanh
Sức nhanh là một tố chất thể lực để tiến hành các hành vi vận động
trong thời gian ngắn nhất trong các điều kiện quy định.
Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thành tích
trong nhiều môn thể thao có chu kì.
Trong các môn thể thao có chu kì, sức nhanh động tác cũng đặc biệt
quan trọng đối với toàn bộ hoặc đối với các tình huống từng phần trong các
môn chạy cư li ngắn, cũng như ừong giai đoạn tăng tốc và xuất phát trong đua
thuyền, đua ca nô và boi.
Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình
thần kinh, sức nhanh - nhanh, khả năng kéo căng kéo giãn, tính đàn hồi và khả
năng thả lỏng của các cơ, ý chí tinh thần và các cơ chế sinh hóa.
*Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh
Chỉ khi nào thay đổi một cách nhanh nhất giữa hưng phấn và ức chế trong
những sự điều hòa tương ứng của hệ thần kinh cơ, kết hợp dùng lực tốt nhất thì
mới có thể đạt được một tốc độ động tác cao và tần số động tác tối đa.
*Năng lực sức mạnh nhanh
Là tỉ lệ sức mạnh - nhanh, trong sức nhanh phản ứng đặc biệt trong sự
1.5.2. Cơ sở sinh lý, sinh hóa của sức nhanh
Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:
1. Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ.
2. Dãn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương.
3. Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm.
4. Truyền túi hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ.
5. Hưng phấn cơ và hoạt động đáp trả.
21
Trong đó giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thòi gian nhất. Những động tác
được thực hiện với tốc độ tối đa khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm sinh
lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện rõ ở chỗ: Khi thự hiện với tốc độ tối đa thì khả
năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến hành thực hiện động tác sẽ gặp khổ
khăn. Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác.
Trong các động tác rất nhanh và được thực hiện với tần số cao, thí dụ
trong chạy cự li ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của
biên độ động tác. Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể,
sau đó bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ
phận này một gia tốc theo hướng ngược lại. Trong động tác tốc độ lớn, hoạt
tính của cơ diễn ra trong thòi gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và
thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường.
Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của 2 quá trình thần kinh
hưng phấn và ức chế được chi phối bởi 3 yếu tố: cường độ, độ cân bằng và độ
linh hoạt. Một yếu tố cũng cần được chúng ta để ý là tính chất bẩm sinh.
Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ trắng thì phát triển sức nhanh.
Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ đỏ thì phát triển sức manh.
Do đó, cơ sở sinh lý phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và
tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động tăng
cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao khả năng thả lỏng.
Như vậy, bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản gồm 2 phần:
tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tập tốc độ động tác theo phương
pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn thiện phản
ứng vận động đơn giản. Phương pháp này dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa
sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời gian ngắn.
Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt với khoảng thời gian
ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao.
23
1.6.2. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp
Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm có hai loại:
phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn. Phản ứng đối với vật
thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân,
phản ứng với các vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây. Bài tập phản
ứng đối với vật thể di động yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ
vật thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li. Trò chơi vận động với bóng có tác
dụng rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động. Trong khi tiến
hành giáo dục phản ứng vận động phức tạp cần phải đảm bảo nguyên tắc từ
đơn giản đến phức tạp và tiến hành theo cách tăng dần số lượng biến đổi tình
huống có thể xảy ra.
1.6.3. Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác
Mặc dù phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng tốc độ tối đa phụ thuộc chủ
yếu vào tính linh hoạt của các quá trình thần kinh. Suy rộng ra thì tốc độ chủ
yếu phụ thuộc vào tần số động tác. Như vậy, bản chất của rèn luyện tốc độ là
tác động nâng cao tần số động tác. Phương tiện rèn luyện sức nhanh tần số là
các bài tập, các bài tập này phải thỏa mãn 3 yêu cầu:
+ Kĩ thuật động tác cho phép thực hiện với tốc độ giới hạn.
+ Kĩ thuật bài tập đã được tiếp thu tới mức kĩ xảo.
+ Thời gian bài tập tương đối ngắn (không quá 20 - 22 giây) để tốc độ
+ Tăng tốc độ tối đa.
+ Tăng sức mạnh tối đa.
Kinh nghiệm cho thấy, nâng cao tốc độ tối đa là việc làm khó khăn,
trong khi đó nâng cao sức manh đơn giản hơn nhiều. Vì vậy, trong thực tiễn
người ta sử dụng rộng rãi các bài tập sức mạnh để nâng cao tốc độ. Hiệu quả
của các bài tập sức manh càng cao khi lượng đối kháng tập luyện càng lớn.
Trong quá ừình rèn luyện sức mạnh để nâng cao tốc độ cần giải quyết
hai nhiệm vụ cơ bản sau:
25
+ Nâng cao sức mạnh tốc độ.
+ Rèn luyện khả năng phát huy sức mạnh lớn trong điều kiện vận động
nhanh.
Để rèn luyện khả năng nhanh chóng phát huy sức mạnh, trong trường
hợp này càng căng cơ tối đa được tạo lên bằng lượng đối kháng dưới mức giới
hạn và tốc độ lớn nhất. Trong rèn luyện sức manh tốc độ cần lưu ý rằng động
tác phải thực hiện với biên độ cực đại. Nếu thực hiện động tác với biên độ hạn
chế (có chỗ dừng) thì những mối liên hệ phối hợp bất lợi sẽ được củng cố.
Cần phải sử dụng kết hợp các bài tập sức mạnh tốc độ với các bài tập
sức mạnh đơn thuần và lấy các bài tập sức manh đơn thuần làm cơ sở. Nếu chỉ
sử dụng các bài tập sức manh tốc độ thì tốc độ tối đa sẽ không được nâng lên
một cách đáng kể bởi vì trong các động tác nhanh thời gian tác động lên hệ
thần kinh cơ ngắn, xong khi tập sức manh đơn thuần để phát triển tốc độ cần
lưu ý rằng trong thời gian tập sức mạnh đơn thuần, tốc độ thường tạm thời
giảm đi. Chỉ qua 2 - 6 tuần, sau khi ngừng hoặc giảm đột ngột lượng vận động
đó thì tốc độ mới bắt đầu tăng lên. Trong thời gian dừng bài tập sức manh đơn
thuần người ta sử dụng chủ yếu bài tập sức manh tốc độ.
Các bài tập sức manh chi ảnh hưởng tích cực tới sức nhanh khi chúng
tăng cường sức manh ở các động tác cần phát huy tốc độ tối đa. Trong rèn