MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ, RÈN LUYỆN
HỌC SINH YẾU VÀ CÁ BIỆT TRONG LỚP CHỦ NHIỆM
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong trường học, để quản lí lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo
viên giảng dạy có đủ tiêu chuẩn làm công tác chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm phải là
người: có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình
làm công tác giáo dục, quản lí học sinh, có uy tín với học sinh và tập thể sư phạm. Giáo
viên chủ nhiệm lớp do hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng để quản lí và tổ
chức các hoạt động giáo dục học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người tổ chức quản lý
lớp học, dìu dắt học sinh như con em của mình trưởng thành qua từng năm tháng. Giáo
viên chủ nhiệm là chất keo kết dính tạo nên sự đoàn kết thân ái giữa các thành viên
trong lớp học. Sự tận tụy, trách nhiệm và kĩ năng chủ nhiệm tốt, giáo viên chủ nhiệm
sẽ tạo nên một tập thể lớp vững mạnh, chất lượng giáo dục cao và được học sinh yêu
thương, quí trọng.
Trên thực tế, công tác chủ nhiệm của giáo viên không phải lúc nào cũng thành
công. Mỗi trường học, mỗi lớp học, luôn tồn tại một số lượng không nhiều học sinh có
năng lực học tập yếu và có ý thức kỉ luật kém và thường được gọi là học sinh cá biệt.
Với những lớp học có học sinh yếu và cá biệt, giáo viên có kĩ năng chủ nhiệm yếu,
thường rất vất vả trong công tác quản lí, giáo dục các em. Các em thường có biểu hiện
ngỗ ngược không vâng lời, không chấp hành nội qui nhà trường, có thái độ học tập
không nghiêm túc, đôi lúc còn lôi kéo những học sinh trong lớp và lớp khác quậy phá
để chứng tỏ mình… Những học sinh này làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền nếp, chất
lượng học tập chung của lớp và của nhà trường.
Có thể nhận thấy, trong thời gian gần đây, số học sinh cá biệt đang có xu hướng
ngày càng gia tăng. Và cứ mỗi năm học, nhà trường cùng giáo viên chủ nhiệm kết hợp
với cha mẹ học sinh đã đưa ra nhiều biện pháp uốn nắn, giáo dục các em, nhưng nhìn
chung vẫn chưa đạt được những kết quả như mong đợi.
Trước những thực tế nêu trên, với vai trò của người quản lí giáo dục và cũng
từng là giáo viên đạt những thành công trong công tác chủ nhiệm, tôi mạnh dạn đề
xuất sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Một số biện pháp giúp đỡ, rèn luyện học sinh
yếu và cá biệt trong lớp chủ nhiệm”
nắn, giáo dục các em thì dễ dẫn đến các em từ những vi phạm nhỏ đến việc làm không
có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .
1.1.2. Nguyên nhân phát sinh học sinh cá biệt :
- Từ gia đình : Thiếu sự quan tâm hay quá tin tưởng, chiều chuộng của gia
đình; những éo le trong cuộc sống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến sự hư đốn, hay nói
một cách khác là đạo đức học sinh yếu kém.
- Từ xã hội : Thực trạng những mặt xấu của xã hội; Trong điều kiện xã hội hiện
nay từng giờ từng ngày những cám dỗ,ảnh hưởng tiêu cực của xã hội dội vào nhà
trường và tác động đến học sinh.
- Từ nhà trường: Nhà trường chưa có biện pháp phù hợp trong việc quản lí giáo
dục học sinh; chưa quan tâm đúng mức tới những HS có hoàn cảnh đặc biệt (những em
quá đầy đủ về vật chất, được chiều chuộng; ngược lại những em quá khó khăn thiếu
thốn về vật chất hoặc những em có hoàn cảnh éo le, những em có cá tính khác
thường…); chưa tạo ra môi trường thân thiện thức sự khi các em đến trường, làm cho
các em thấy nhàm chán khi đến trường, có nhu cầu muốn tự thay đổi và làm mới môi
trương sống; từng giáo viên chưa trở tành chỗ dựa về tinh thần cho các em mỗi lúc gặp
khó khăn, giáo viên còn ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, sợ bị súc phạm khi đối diện
với HS hư, thiếu tâm huyết với nghề, chưa quan tâm phát hiện và ngăn chặn kịp thời
những hành vi lệch lạc của HS…
-Từ bản thân học sinh : Giai đoạn tâm sinh lý có nhiều biến đổi.Từ tuổi thiếu
niên chuyển sang tuổi thanh niên, học sinh muốn khẳng định mình bằng sự hiểu biết
chưa hoàn thiện của mình; có thể do bản năng hoặc bệnh a dua hay bệnh lấy lệ. . Thậm
chí các em còn nghĩ làm như vậy là không sai! Khi đạo đức yếu kém thì học lực cũng tỉ
lệ thuận với nó. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả, các em kiến thức bị hổng dẫn đến mất căn
bản; điểm kiểm tra thấp so với các bạn cùng lớp làm các em mặc cảm đưa đến hiện
tượng sợ bị kiểm tra, tiếp theo là chán học và cuối cùng nảy sinh bỏ học.
Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng ở đây chỉ nêu một số
nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không
lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực
học tập của các em .
mang ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của môn học. Tích cực: thúc đẩy
các em học tập và đạt kết quả cao các môn đã lựa chọn. Tiêu cực: chỉ quan tâm đến
môn học liên quan đến việc thi mà sao nhãng các môn học khác.
+ Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất
cao. Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò
của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Các em đã tạo được
tâm thế phân hoá trong ghi nhớ. Có sự thay đổi về tư duy: các em có khả năng tư duy
lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất
quán. Nguyên nhân: Do sự phát triển của quá trình nhận thức. Do ảnh hưởng của hoạt
động học tập. Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển.
+ Kết luận sư phạm: Các nhà giáo dục cần giúp các em có thể phát huy hết năng
lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách khách quan.
1.2.1.3. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu:
+ Sự phát triển của tự ý thức: Chú ý đến hình dáng bên ngoài. Quá trình tự ý
thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi, có tính đặc thù riêng. Sự tự ý thức của các em xuất phát
từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động đến địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ
mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên phải ý thức được đặc điểm nhân cách của
mình.
+ Sự hình thành thế giới quan: Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan
là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung
nhất, những quy luật phổ biến của tự nhiên, của xã hội... Việc hình thành thế giới quan
không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức, mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung. Kết
3
luận sư phạm: Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần phải xây dựng thế giới quan
lành mạnh, đúng đắn cho các em.
+ Giao tiếp và đời sống tình cảm: Giao tiếp trong nhóm bạn. Tuổi thanh niên mới
lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Ở lứa tuổi này, các em có khuynh hướng
làm bạn với bạn bè cùng tuổi. Các em tham gia vào nhiều nhóm bạn khác nhau. KLSP:
nhiệm không chỉ “Giáo dục”, rèn luyện mà còn phải biết giúp đỡ, cải tạo các em từ
những học sinh hư thành con ngoan trò giỏi, công dân tốt. Nghề dạy học “nghề cao quý
trong các nghề cao quý”, là nghề “ trồng người”. Vinh quang của nghề dạy học và công
tác chủ nhiệm là ở chỗ: Một lớp học, xuất phát có nhiều yếu và HSCB, hết năm học có
thể xoá được tám mươi phần trăm “gánh nặng” cho lớp, cho trường, cho gia đình.
Nghề dạy học vốn là nghề “sáng tạo trong các nghề sáng tạo”. Nói theo cách nói
của thầy thuốc: Thầy phải “chẩn” đúng bệnh, dùng loại thuốc “đặc trị” phù hợp mới
cứu được con “bệnh” cá biệt..
2.1. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng học sinh yếu và cá biệt.
4
U.D. Usinxki- nhà giáo dục học người Nga cho rằng: “Muốn giáo dục on người
về mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Nếu hiểu rõ học sinh thì mới thực
hiện được chức năng quản lí – giáo dục toàn diện học sinh trong lớp học, mới lựa chọn
được biện pháp tác động phù hợp, mới biến quá trình giáo dục của giáo viên thành quá
trình tự giáo dục của hoc sinh, mới đánh giá đúng đắn và chính xác chất lượng và hiệu
quả quá trình giáo dục.
2.1.1. Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm tình hình của lớp chủ nhiệm
- Số lượng và chất lượng học tập cũng như hoạt động phong trào của lớp chủ
nhiệm.
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy và ban cán sự cũ của lớp.
- Thời khóa biểu học tập chính thức và trái buổi của lớp.
2.1.2. Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm của từng học sinh, đặc biệt là những
học sinh yếu và cá biệt
- Nghiên cứu hồ sơ học sinh: học bạ, sơ yếu lí lịch, sổ liên lạc, các bản nhận xét,
đánh giá học sinh của giáo viên cũ… Nghiên cứu hồ sơ học sinh là bước tiếp cận đầu
tiên đối với đối tượng giáo dục, nhằm tìm hiểu sơ bộ những thông tin liên quan đến
mỗi học sinh đặc biệt là những học sinh yếu và cá biệt trong lớp.
- Trao đổi, trò chuyện trực tiếp với học sinh, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ
ngồi ở bốn vị trí khác nhau để quan sát lớp:
- Lớp trưởng kiêm Trưởng ban bảo vệ cơ sở vật chất của lớp và Tổ trưởng tổ 1.
- Lớp phó học tập kiêm bí thư chi đoàn và tổ trưởng tổ 2.
- Lớp phó văn thể mĩ kiêm Thủ quĩ và Tổ trưởng tổ 3.
- Lớp phó lao động kiêm Sao đỏ và Tổ trưởng tổ 4
Sơ đồ lớp được bố trí cụ thể như sau:
TT -2
HSY-6
HSK -6
HSCB-6
TT -4
HSY-12
HSK -12
HSCB-12
HSCB-5
HSK -5
HSY-5
HSTB
TT- 1
HSCB-9
HSK-9
HSY-9
TT -3
HSTB
HSY-2
HSK -2
HSCB-2
HSTB
HSY-8
HSK -8
HSCB-8
HSCB-1
HSK -1
Do đó, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các dự án liên
quan đến “phương pháp kỷ luật tích cực” như: dự án trường học thân thiện của Tổ chức
cứu trợ trẻ em Thụy Điển, dự án Bảo vệ Trẻ em – Tăng cường phương pháp kỷ luật
tích cực của Tổ chức Plan, phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện – học
sinh tích cực”...
Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống bằng "phương pháp kỷ luật tích cực"
(PPKLTC) là một trong những biện pháp hữu hiệu trong công tác giáo dục toàn diện,
đồng thời góp phần xây dựng môi trường học tập thân thiện, an toàn cho học sinh, TS.
Ngũ Duy Anh, Vụ trưởng Vụ công tác Học sinh - Sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
6
đã nhấn mạnh tại hội thảo “Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh bằng phương pháp
kỷ luật tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 26/5.
2.4.1. Khái niệm: Giáo dục kỷ luật tích cực là giáo dục kỷ luật dựa trên nguyên
tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ; không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của trẻ ; có
sự thỏa thuận giữa người lớn – trẻ em và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ em
2.4.2. Lợi ích của giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh và giáo viên
Giảm được áp lực quản lý lớp học vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật.
Từ đó giáo viên tạo được sự tin tưởng nơi học sinh, được học sinh tôn trọng và quý
mến. Xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò. Nâng cao hiệu quả quản
lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Được sự đồng tình, ủng hộ từ phía
gia đình học sinh và xã hội.
2.4.3. Một biện pháp kỉ luật tích cực
- Thứ nhất: Giáo viên cần tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh có học lực yếu
và cá biệt như: thu nhập hàng ngày của gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình như thế nào? Có êm ấm hạnh phúc hay không?
- Thứ hai: khi các em mắc lỗi, giáo viên nên xử lý mềm mỏng, khôn khéo, phân
tích đúng, sai để các em tự thấy được khuyết điểm mà sửa chữa.
- Thứ ba: Giáo viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở,
7
Đánh giá hiệu quả đề tài là một trong những nội dung rất quan trọng; Bởi hiệu
quả đó có tác dụng làm sáng tỏ tính đúng đắn, khẳng định tính khả thi của những đề
xuất trong đề tài. Việc đánh giá hiệu quả đề tài được tiến hành bằng cách:
1. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm theo các định hướng, biện pháp mà đề tài đã đề
xuất;
2. Kiểm tra, đánh giá kết công tác chủ nhiệm ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
thông qua chất lượng học tập và quá trình rèn luyện đạo đức của học sinh
Kết quả khảo sát qua chất lượng học tập và quá trình rèn luyện đạo đức của
học sinh:
Học ki
Học kì I
Học kì II
Chất lượng các mặt
giáo dục và tỉ lệ
dạt yêu cầu
Chất lượng học tập
Lên
lớp
thẳng
Lớp chủ
Lớp thực nghiệm 10B15 32
(44 học sinh)
01
13
2
16
14
4
10
0
20
19
01
12
2
16
18
hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải có tâm huyết và trách nhiệm cao
trong công tác chủ nhiệm. Chúng tôi tin tưởng rằng, những biện pháp giáo dục mà đề
tài đưa ra sẽ là một gợi ý nhỏ, bồi dưỡng nghiệp vụ chủ nhiêm cho giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục về mọi mặt cho lớp chủ nhiệm.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm trường trung học, Nhóm tác giả trường
cán bộ quản lí giáo dục, TPHCM 2010.
2. Tài liệu tập huấn công tác giáo viên chủ nhiệm trong trường trung học cơ sở,
trung học phổ thông, Nguyễn Thanh Bình và nhóm tác giả, Hà Nội 2011.
3. Sổ chủ nhiệm, Sở GD&ĐT Đồng Nai, năm 2011-2012.
4. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, Hà Nhật Thăng, NXBGD, 1998.
5. Và một số tài liệu, tạp chí, trang Web khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nguyễn Đức Bảng
9