SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN VÀ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CHO HỌC SINH YẾU VÀ CÁ BIỆT TRONG LỚP CHỦ NHIỆM - Pdf 29

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN VÀ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH
TỰ HỌC CHO HỌC SINH YẾU VÀ CÁ BIỆT
TRONG LỚP CHỦ NHIỆM
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là điều rất quan trọng và cần thiết trong
điều kiện hiện nay. Thật vậy, thời gian tự học là lúc các em có điều kiện tự nghiền ngẫm
vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp. Điều đó không
chỉ giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn, bền vững, bồi dưỡng phương pháp học
tập và khả năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực
hoạt động sáng tạo.
Trong thời đại mà khoa học, kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà
trường dù tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và đang phát triển của
cuộc sống. Vì vậy, chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mỗi người mới có thể bù đắp được cho
mình những lỗ hổng về kiến thức để thích ứng với yêu cầu cuộc sống đang phát triển.
Như vậy, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường hiện
đại cần trang bị cho học sinh, vì nó có ích không chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhà
trường mà cả khi đã bước vào cuộc sống.
Trong trường học, để quản lí lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên
giảng dạy có đủ tiêu chuẩn làm công tác chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm phải là người: có
năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình làm công tác
giáo dục, quản lí học sinh, có uy tín với học sinh và tập thể sư phạm. Giáo viên chủ nhiệm
lớp do hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng để quản lí và tổ chức các hoạt động
giáo dục học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người tổ chức quản lý lớp học, dìu dắt học sinh
như con em của mình trưởng thành qua từng năm tháng. Giáo viên chủ nhiệm là chất keo
kết dính tạo nên sự đoàn kết thân ái giữa các thành viên trong lớp học. Sự tận tụy, trách
nhiệm và kĩ năng chủ nhiệm tốt, giáo viên chủ nhiệm sẽ tạo nên một tập thể lớp vững
mạnh, chất lượng giáo dục cao và được học sinh yêu thương, quí trọng.
Trên thực tế, công tác chủ nhiệm của giáo viên không phải lúc nào cũng thành công.
Mỗi trường học, mỗi lớp học, luôn tồn tại một số lượng không nhiều học sinh có năng lực
học tập yếu và có ý thức kỉ luật kém và thường được gọi là học sinh cá biệt. Với những lớp
học có học sinh yếu và cá biệt, giáo viên có kĩ năng chủ nhiệm yếu, thường rất vất vả trong

quá trình trong đó mỗi người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ và các phẩm chất
của bản thân, tự khai thác vận dụng những điều kiện vật chất có thể để biến một kiến thức
nào đó của người khác (của nhân loại) thành kiến thức sở hữu của mình, vận dụng một
kiến thức nào đó của người khác để làm cho công việc của bản thân có hiệu quả hơn”.
Trong bộ sách: “Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” gồm 2 tập,
GS. Nguyễn Cảnh Toàn, người có nhiều tâm huyết với vấn đề tự học đã đưa ra một quan
2
niệm về tự học có thể xem là hoàn chỉnh: “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu
nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân
tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng các công cụ) cùng các phẩm chất của
mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được
một lĩnh vực hiêu biết nào đó, một số kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân
loại hay cộng đồng biến chúng thành sở hữu của mình. Phát minh ra cái mới cũng có thể
coi là một hình thức tự học cao cấp”. Theo GS. Có 3 cấp độ tự học:
- Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy, giáp mặt thầy một số tiết trong ngày, trong tuần.
- Tự học có hướng dẫn của thầy nhưng không giáp mặt thầy mà nhận được sự giúp đỡ
của thầy từ xa.
- Tự học không có sự hướng dẫn của thầy. Người học tự đọc sách giáo khoa, tài liệu
thông qua đó mà tự hiểu, tự thấm các kiến thức trong sách.
Như vậy “tự học” là cả một quá trình con người vượt qua hoàn cảnh và vượt qua
chính mình, tự vận dụng tất cả ý chí nghị lực, phẩm chất tư duy, phẩm chất nhân cách, tâm
hồn, bản lĩnh văn hóa, mục đích sống, khát vọng sống của bản thân để vượt qua mọi khó
khăn, tự so sánh, đối chiếu, tự phê bình, tự sửa chữa để chiếm lĩnh tri thức. Tự học được
diễn ra mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người và bằng mọi cách. Hiệu quả của việc tự học
được đánh giá bởi chính hiệu suất và hiệu quả công việc của từng người. Việc tự học được
thực hiện ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích và khả năng tiếp thu, hoàn
cảnh và thời gian của từng người không ai giống ai. Tuy nhiên, tất cả mọi người tự học đều
nhằm đến mục đích biết được càng nhiều càng tốt để nâng mình lên đến một trình độ cao
hơn, phục vụ công việc của mình thuận lợi và có hiệu quả hơn. Thế giới đang bước vào thế
kỉ XXI, thế kỉ của thông tin, của khoa học và công nghệ hiện đại, bất cứ ai, ở bất cứ địa vị

trình nhận thức của các em mang tính chủ động và có tính chất nghiên cứu. Quan trọng hơn
việc tự học của học sinh được hình thành và rèn luyện dưới sự hướng dẫn định hướng của
giáo viên. Mục đích “tự học” của học sinh THPT là làm sao giúp các em hiểu sâu sắc trọn
vẹn bài học bằng chính năng lực của mình và biết vận dụng nó như một “kinh nghiệm” của
bản thân. Đây chính là yêu cầu hàng đầu cần đặt ra trong quá trình học tập của học sinh.
Điểm mấu chốt để rèn luyện cho học sinh một năng lực tự học tốt trong mỗi giờ học, yêu
cầu người giáo viên phải biết cách hướng dẫn các em tự học từ mức độ thấp đến mức độ
cao để khi rời ghế nhà trường các em có được một năng lực tự học hoàn thiện.
1.2. Học sinh cá biệt và nguyên nhân phát sinh học sinh cá biệt
1.2.1.Khái niệm về học sinh cá biệt :
Học sinh cá biệt là thuật ngữ thường dùng của nhà trường, thầy cô giáo chỉ những
học sinh hoang nghịch : thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học … , không chấp hành
nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mản cá
tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình .
4
HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn làm cho
HS dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có
nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội .
Học sinh cá biệt biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau, tạm chia làm 4
nhóm :
- Nhóm 1: Cá biệt là do vi phạm nội quy của Nhà trường, của lớp, mất trật tự trong
giờ học, lười học bài, đi học muộn …
- Nhóm 2: Cá biệt là do ham chơi điện tử, sẵn sàng bỏ học, lừa dối bố mẹ, thầy cô. -
Nhóm 3: Cá biệt là do vi phạm những chuẩn mực đạo đức, hỗn láo với thầy cô giáo, cha
mẹ, hay nói tục chửi bậy.
- Nhóm 4: Cá biệt là do vi phạm pháp luật, đánh bạn, trộm cắp, trấn lột, cờ bạc …
- Nhóm 5: Cá biệt là do tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, hoang
mang, sợ hãi, tiêu cực trong suy nghĩ (nhóm học sinh cá biệt này đang có xu hướng gia
tăng trong xã hội hiện nay).
Ở tất cả các nhóm HSCB trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và năng

em .
1.3. Vấn đề tâm lí học lứa tuổi học sinh THPT và nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm.
1.3.1. Vấn đề tâm lí học lứa tuổi học sinh THPT
1.3.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của lứa tuổi học sinh
THPT
- Khái niệm tuổi thanh niên: Là giai đọan phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết
thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên kéo dài từ 14, 15- 25 tuổi, được chia
thành 2 thời kì: 14,15 đến 17,18 tuổi: thanh niên mới lớn (HS THPT); 17,18 đến 25 tuổi:
tuổi thanh niên (giai đoạn 2 của tuổi thanh niên)
- Đặc điểm cơ thể:
+ Sinh lý: Tuổi đầu thanh niên là thời kì đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực,
nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, đa số các em đã vượt qua
thời kì phát dục.
+ Tâm lý: Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc
bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển.
- Những điều kiện xã hội của sự phát triển
+ Trong gia đình: Vị trí ngày càng được khẳng định. Được tham gia bàn bạc việc gia
đình. Yêu cầu cao hơn trong công việc, trong cách suy nghĩ.
+ Ngoài xã hội: (Thay đổi đáng kể)15 tuổi được làm CMT, 18 tuổi được đi bầu cử,
đủ tuổi nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động, nữ đủ tuổi kết hôn.
6
+ Ở nhà trường: (Nòng cốt các phong trào) Tham gia tổ chức Đoàn TNCS. Hệ thống
tri thức ngày càng phong phú.
1.3.1.2. Đặc điểm của hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi học
sinh THPT
+ Đặc điểm của hoạt động học tập: HĐHT đòi hỏi tính tích cực, năng động cao, đòi
hỏi sự phát triển mạnh của tư duy lý luận. Hình thành hứng thú học tập liên quan đến xu
hướng nghề nghiệp. Hứng thú học tập được thúc đẩy, bồi dưỡng bởi động cơ mang ý nghĩa
thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của môn học. Tích cực: thúc đẩy các em học tập

nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của học sinh lớn. KLSP: Nhà giáo dục cần giúp
các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, năng lực của các em.
1.3.1.4. Một số vấn đề giáo dục: Trước hết cần xây dựng mối quan hệ tốt giữa thanh
niên và người lớn trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Người lớn cần phải giúp
đỡ các em một cách khéo léo, tế nhị để hoạt động của các em được phong phú, hấp dẫn và
độc lập. Người lớn không được quyết định thay, làm thay trẻ. Cần có sự kết hợp chặt chẽ
giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
1.3.2. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ qui định của giáo viên bộ môn (điều 31,
mục 1 điều lệ Trường THPT cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học)
còn có những nhiệm vụ sau đây (điều 31 mục 2):
- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo
dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
- Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn,
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội THTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong
hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kì và cuối năm học, đề nghị khen
thưởng và kỉ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra
lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kì nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi
vò sổ điểm và học bạ của học sinh.
Những vấn đề lí luận nêu trên là cơ sở vững chắc để chúng tôi thực hiện các giải
pháp cho hướng nghiên cứu của đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn và thúc đẩy quá
trình tự học đối với học sinh yếu, cá biệt trong lớp chủ nhiệm”
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Nhiệm vụ của trường học là “Giáo dục” và rèn luyện các em học sinh nên người.
Riêng đối với học sinh có lực học yếu và cá biệt, với bản lĩnh, lòng vị tha, yêu thương, giáo
viên chủ nhiệm không chỉ “Giáo dục”, rèn luyện mà còn phải biết giúp đỡ, cải tạo các em
từ những học sinh hư, có lực học yếu thành con ngoan trò giỏi, công dân tốt. Nghề dạy học
“nghề cao quý trong các nghề cao quý”, là nghề “ trồng người”. Vinh quang của nghề dạy
8

2 học sinh yếu, cá biệt. Giáo viên yêu cầu một học sinh yếu làm thư kí nhóm, một học sinh
9
cá biệt đóng vai trò thuyết trình cho nhóm mình, các bạn học sinh khác trong nhóm phải
nhiệt tình giúp đỡ hỗ trợ bạn.
Khi mỗi nhóm thuyết trình xong, các nhóm khác bổ sung, tranh luận và cuối cùng
giáo viên góp ý, bổ sung, khuyến khích, động viên, khen thưởng, ghi vào sổ nhật kí và
bảng thành tích,…
- Kết thúc cuộc thảo luận, thuyết trình, giáo viên giao việc về nhà làm cho các
em:
+ Yêu cầu mỗi em học sinh yếu, cá biệt trong mỗi nhóm, cùng với sự giúp sức của
các bạn trong nhóm, có nhiệm vụ tập hợp bài viết của các nhóm khác, về nhà viết lại thành
một đề tài hoàn chỉnh, sau đó nộp cho giáo viên chủ nhiệm.
+ GVCN có nhiệm vụ duyệt, sửa chữa, bổ sung,… rồi trả lại cho các nhóm. Trưởng
nhóm viết lại và đóng thành tập xã luận. Mỗi nhóm sẽ cất giữ tập bài viết đó, xem đó như
là một “công trình” kiến thức bổ ích thể hiện khả năng nhận thức đúng đắn về việc xây
dựng cho mình một động cơ học tập.
Những việc làm nêu trên tuy rất nhỏ nhưng có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra động
cơ học tập lành mạnh cho các em học sinh yếu, cá biệt nói riêng và học sinh trong cả lớp
nói chung. Và nó chính là nền tảng vững chắc để hình thành nên ý thức tự học cho các em.
2.2. Hướng dẫn và thúc đẩy học sinh yếu, cá biệt tự làm việc với sách
Đọc sách là một trong những dạng hoạt động nhận thức cơ bản của con người, một
loại hình tự học quan trọng và phổ biến. Đọc sách là con đường thu lượm tri thức nhanh và
có hiệu quả. So với các hình thức học tập khác, học tập bằng con đường đọc sách có nhiều
ưu thế. Thứ nhất, nguồn thông tin trong sách là ổn định, chính xác, độ tin cậy và giá trị
khoa học cao, phù hợp với nhận thức, đặc điểm lứa tuổi học sinh, vì thế quá trình lĩnh hội
chúng là vấn đề không khó. Thứ hai, thời đại bùng nổ thông tin, sách, tài liệu học tập, giáo
trình cơ bản rất đa dạng và phong phú, người học rất thuận lợi cho việc lựa chọn. Thứ ba,
học sinh lúc đọc sách là chủ thể thực sự của hoạt động học tập, vì thế tính tích cực, tự giác,
độc lập sáng tạo,… sẽ được phát huy ở mức độ cao. Thứ tư, khi các em tự làm việc với
sách, việc thu nhận kiến thức sẽ trở nên sâu sắc và vững chắc hơn.

dẫn, thúc đẩy quá trình tự học của học sinh yếu và cá biệt
Mỗi bàn học, giáo viên sắp xếp một học sinh khá hoặc giỏi ngồi gần một học sinh có
lực học yếu hoặc cá biệt. Và những học sinh khá, giỏi có nhiệm vụ nhắc nhở, giúp đỡ,
động viên những bạn học sinh yếu và cá biệt ngồi cùng bàn trong vấn đề học tập cũng như
thực hiện nội qui của nhà trường. Tuyệt đối không xếp học sinh yếu về học lực và học sinh
cá biệt ngồi cạnh nhau trong bàn học.
11
Bốn thành viên trong ban cán sự lớp đồng thời là tổ trưởng của bốn tổ được bố trí
ngồi ở bốn vị trí khác nhau để quan sát lớp:
- Lớp trưởng kiêm Trưởng ban bảo vệ cơ sở vật chất của lớp và Tổ trưởng tổ 1.
- Lớp phó học tập kiêm bí thư chi đoàn và tổ trưởng tổ 2.
- Lớp phó văn thể mĩ kiêm Thủ quĩ và Tổ trưởng tổ 3.
- Lớp phó lao động kiêm Sao đỏ và Tổ trưởng tổ 4
TT -2 HSY-6 HSK -6 HSCB-6 TT -4 HSY-12 HSK -12 HSCB-12
HSCB-5 HSK -5 HSY-5 HSTB HSCB-11 HSK-11 HSY-11 HSTB
HSTB HSY-4 HSK -4 HSCB-4 HSTB HSY-10 HSK-10 HSCB-10
HSCB-3 HSK -3 HSY-3 TT- 1 HSCB-9 HSK-9 HSY-9 TT -3
HSTB HSY-2 HSK -2 HSCB-2 HSTB HSY-8 HSK -8 HSCB-8
HSCB-1 HSK -1 HSY-1 HSTB HSCB-7 HSK -7 HSY-7 HSTB
=== Lối vào

Chú thích sơ đồ:
- TT-1: Tổ trưởng tổ 1; tương tự TT-2, TT-3, TT-4
- HSK: Học sinh khá
- HSY: Học sinh có lực học yếu.
- HSCB: Học sinh cá biệt
- HSTB: Học sinh trung bình.
Dân gian có câu “học thầy không tày học bạn”. Vì thế, trong mỗi bàn học, GVCN sẽ
giao trách nhiệm cụ thể cho từng học sinh khá, giỏi, các em phải có nhiệm vụ kèm cặp,
hướng dẫn, giúp đỡ cho những bạn học sinh có học lực yếu trong bàn của mình. Công việc

(1đ/lượt, tính
luôn cho bài
kiểm tra)
Thực hiện nội qui,
nề nếp và tham
gia phong trào
(trừ 1 điểm/1 lần
vi phạm
Bàn học nào có số điểm thi đua cao nhất sau mỗi tuần được thưởng năm mươi nghìn
đồng (Tùy vào tình hình kinh tế của địa phương mà đề nghị mức thưởng cho phù hợp) và
được miễn trực nhật cho tuần học tới. Tiền thưởng sẽ được cộng dồn và trao thưởng vào
cuối học kì.
Bàn học nào có số điểm thi đua thấp nhất sau mỗi tuần sẽ trực nhật thay cho bàn có
số điểm cao nhất trong tuần đó.
Tổng kết mỗi tháng mà có bàn học hai lần bị điểm thấp, GVCN phải mời phụ huynh
của các em lên làm việc, để phối hợp cùng nhà trường thúc đẩy và giáo dục các em.
Nguồn khen thưởng sẽ trích từ quỹ Hội cha mẹ học sinh của lớp.
Số điểm thi đua trong mỗi tuần là cơ sở để xếp loại hạnh kiểm cuối mỗi học kì.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
13
Đánh giá hiệu quả đề tài là một trong những nội dung rất quan trọng; Bởi hiệu quả đó
có tác dụng làm sáng tỏ tính đúng đắn, khẳng định tính khả thi của những đề xuất trong đề
tài. Việc đánh giá hiệu quả đề tài được tiến hành bằng cách:
1. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm theo các định hướng, biện pháp mà đề tài đã đề
xuất;
2. Kiểm tra, đánh giá chất lượng hai mặt giáo dục của một lớp chủ nhiệm cụ thể.
Vào đầu HKII, chúng tôi đã định hướng cho GVCN lớp 12C12 thực hiện một số giải pháp
mà đề tài đề xuất. Và Kết quả khảo sát chất lượng học tập, quá trình rèn luyện đạo đức
của học sinh và thi đua phong trào, thực hiện nề nếp, nội qui đã thu được như sau:
Học

những kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm theo
các định hướng, biện pháp mà đề tài đã đề xuất, chúng tôi mạnh dạn khẳng định rằng, vấn
đề mà đề tài nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với lí luận và thực tiễn giáo dục. Kết quả thực
14
nghiệm bước đầu đã khẳng định tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp mà đề tài đã
đưa ra. Các đề xuất của đề tài được giáo viên và học sinh đánh giá cao.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục của Nhà
trường. Nó góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập, xây dựng và rèn luyện
đạo đức, nhân cách của học sinh. Nhà trường và giáo viên phải xác định, mình chính là nơi
để giúp các em trở thành những công dân tốt, tạo nên những “sản phẩm” giáo dục tốt nhất
mà xã hội yêu cầu. Chúng tôi cho rằng công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ không hề dễ
dàng, công tác này đòi hỏi ở người thầy không chỉ có “tâm” mà phải có sự tinh tế, khéo léo
và nghệ thuật để ứng xử cho phù hợp. Trong đó, công tác giáo dục, hướng dẫn và thúc đẩy
quá trình tự học cho những học sinh có lực học yếu, cá biệt là một trong những nhiệm vụ
khó khăn nhất, đòi hỏi sự tỉ mỷ, nỗ lực, tân tâm của thầy cô chủ nhiệm.
Nâng cao được chất lượng học tập của học sinh có lực học yếu, học sinh cá biệt có
một ý nghĩa rất to lớn đối với nhà trường và xã hội; thành công trong giáo dục học sinh có
lực học yếu, cá biệt sẽ góp phần quan trọng trong việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội và
cung cấp cho xã hội những công dân tốt, có tri thức. Đối với gia đình, CMHS, việc giáo
dục và nâng cao chất lượng học tập cho học sinh yếu, cá biệt sẽ đem lại nguồn hạnh phúc
lớn lao cho họ, giúp họ tránh được nỗi bất hạnh lớn nhất là con cái hư hỏng, không có kiến
thức để định hướng, lập nghiệp trong tương lai. Đối với nhà trường nói chung và tập thể
lớp nói riêng, đó là điều kiện đảm bảo cho trường, lớp có chất lượng học tập ổn định, trật
tự, nề nếp, các thành viên trong lớp sẽ cùng nhau tu dưỡng và học tập đạt kết quả cao.
Nâng cao được chất lượng học tập cho học sinh có lực học yếu, học sinh cá biệt là
một vấn đề không phải mới, nhưng cũng là vấn đề không hề cũ. Để có được những biện
pháp giáo dục học sinh yếu và học sinh cá biệt hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên chủ
nhiệm phải có tâm huyết và trách nhiệm cao trong công tác chủ nhiệm. Chúng tôi tin tưởng
rằng, những biện pháp giáo dục mà đề tài đưa ra sẽ là một gợi ý nhỏ, bồi dưỡng nghiệp vụ

2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai ápdụng tại đơn vị đạt hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và triển khai áp dụng tại đơn
vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng : Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
THÀNH TÍCH ÔNG NGUYỄN ĐỨC BẢNG ĐỀ NGHỊ DANH HIỆU
CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP CƠ SỞ
I. Sơ yếu lý lịch bản thân và chức năng nhiệm vụ được giao.
17
1. Sơ yếu lý lịch:
- Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC BẢNG
- Năm sinh: 16/09/1976
- Quê quán: Xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, Tỉnh Quảng Ngãi
- Chức danh: Phó hiệu trưởng trường THPT Võ Trường Toản.
2. Nêu chức năng, nhiệm vụ được giao: Phụ trách cơ sở vật chất và các hoạt động
ngoài giờ lên lớp.

18
2. Ngày tháng năm sinh: 16/09/1976
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Số 112, tổ 4, ấp Bể Bạc, xã Xuân Đông, Cẩm Mó, Đồng Nai.
5. Điện thoại: : 061 3749688 (Cơ quan); ĐTDĐ: 0908 965964.
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Phó hiệu trưởng.
8. Đơn vị cơng tác: Trường THPT Võ Trường Toản.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chun mơn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2000.
- Chun ngành đào tạo: vật lí – điện tử.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chun mơn có kinh nghiệm: Dạy học và quản lí
- Số năm có kinh nghiệm: dạy học 11 năm; quản lí 2 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 01 (Đề tài: Một số biện
pháp giúp đỡ và rèn luyện học sinh yếu, cá biệt trong lớp chủ nhiệm)
19
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Võ Trường Toản
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN VÀ THÚC ĐẨY
Q TRÌNH TỰ HỌC CHO HỌC SINH YẾU VÀ CÁ
BIỆT TRONG LỚP CHỦ NHIỆM
Người thực hiện: Nguyễn Đức Bảng
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status