skkn MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM KHẮC PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN KHI GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 2 - Pdf 27

PHÒNG GD & ĐÀO TẠO
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHUA TA
&
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM KHẮC PHỤC
NHỮNG KHÓ KHĂN KHI GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 2
Người thực hiện: Đinh Thị Hòa
Điện Biên Đông - Điện Biên, tháng 9 năm 2011
1
Phần I: MỞ ĐẦU
I - Lý do chọn đề tài:
Cùng với các môn học khác ở bậc tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng
quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của
thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một
số mặt của thế giới xung quanh. Nó góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy
nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ
độc lập, linh động sáng tạo cho học sinh. Mặt khác các kiến thức, kĩ năng môn toán ở
tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế.

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều năm đứng lớp
ở khối 2, tôi thấy: Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở
tiểu học.Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp học, đặc biệt ở lớp 2
yêu cầu các em viết lời giải cho phép tính Có thể nói, đây thực là một khó khăn cho
học sinh khi học giải toán có lời văn. Đọc một đề toán đang còn là khó đối với các em
vậy mà còn tiếp tục phải: Tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính đáp
số Và thực tế cho thấy không phải học sinh nào cũng học tốt giải toán có lời văn,đối
tượng học sinh yếu, kém khi học môn toán này vẫn luôn tồn tại, tuy nhiên về số
lượng học sinh yếu kém,nhiều hay ít và mức độ tiến bộ của học sinh yếu kém nhanh

- Bước đầu đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng học toán điển
hình ở lớp 2.
IV - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
3
2.Thực hành giải toán tiểu học.
3.Phương pháp điều tra quan sát.
4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
V - PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

1/ Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ đề tài này,vì điều kiện thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu
một số dạng toán lớp 2 như:
- Bài toán về nhiều hơn ,ít hơn.
- Tìm số bị chia, số trừ
- Tìm số hạng chưa biết.
- Tính chu vi, độ dài đường gấp khúc.
2/ Đối tượng nghiên cứu:
* Đối tượng: Các dạng toán có lời văn trong chương trình toán lớp 2.
* Địa bàn: Học sinh lớp 2 trường Tiểu học Chua Ta - Điện Biên Đông - Điện Biên.
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
Cơ sở lý luận và thực tiễn của giải toán có lời văn lớp 2.
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Vai trò của giải toán có lời văn lớp 2.

Việc dạy môn toán cho học sinh lớp 2 nói riêng nó có một vị trí rất quan trọng có
thể coi như" Hơn đá thử vàng" của dạy học toán trong một chương mục nào đó. Có
4

5
điemr hoặc những kiến thức thiếu sót của học sinh. Từ đó dễ dàng tìm giải pháp cho
học sinh phát huy ưu điểm khắc phục những kiến thức bị hổng, những khó khăn khi
sử dụng ngôn từ trong lời giải.
Điều quan trọng của việc dạy giải toán giúp học sinh biết cách tự giải quyết
vấn đề thường gặp trong đời sống, các vấn đề này được nêu dưới dạng các bài toán có
lời văn. Đây là sự vận dụng có tính chất tổng hợp các kiến thức kĩ năng, phương pháp
suy nghĩ và giải quyết vấn đề học được trong môn toán. Có ý nghĩa là đã đạt được
một bước tiến cao, thành quả học tập tốt.
2/ Nội dung cơ bản của một số dạng toán lớp 2:
Dạng 1: Các bài toán về nhiều, hơn ít hơn, phép nhân phép chia:
- Cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100
- Nhận biết mối quan hệ số lượng
- Cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100
- Bảng nhân, bảng chia( từ 2 đến 5)
Dạng 2: Đại lượng và đo đại lượng:
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: Tuần lễ, ngày trong tuần, biết xem lịch, xem đồng
hồ.
Dạng 3: Các bài toán có yếu tố hình học:
Tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi.
3/ Chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ.
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có 2 phép tính trong đó có các bài toán:
+ Bài toán về nhiều hơn , ít hơn.
+ Tìm số bị chia , số trừ.
+ Tìm số hạng chưa biết.
+ Tính chu vi độ dài đường gấp khúc.
- Học sinh nắm được các bước giải một bài toán có lời văn.
* Năng lực cần để giải quyết vấn đề:

7
học sinh.Chính vì thế mà học sinh không có hứng thú học tập- các hình thức học tập
nghèo nàn đơn điệu.
+ Trong quá trình dạy học giáo viên chưa nắm được hết các điểm yếu, các chỗ
hổng trong kiến thức của từng học sinh yếu kém để tập trung bù đắp, bổ sung kiến
thức.
* Về việc học của học sinh:
- Ưu điểm:
+ Học sinh đã phát huy được tính tích cực học tập sáng tạo, là người lĩnh hội tri
thức dựa trên sự hoạt động của giáo viên. Vì vậy học sinh rất phấn khởi và chủ động.
+ Hệ thống bài tập có nhiều cách thể hiện mới, có bài tập là cả một trò chơi thú
vị, phù hợp với tâm lý trẻ tiểu học. Vì thế các em đua nhau khám phá ra các tri thức
mới.
- Nhược điểm:
Đối với học sinh: Việc dạy và học dạng" dạng toán có lời văn" còn gặp rất
nhiều khó khăn nhất là đối với học sinh vùng cao. Học sinh lớp 2 đang trong giai
đoạn làm quen với làm tính, giải toán tư duy của các em còn hạn chế, khả năng suy
luận còn thấp.
Nhất là đối với học sinh vùng cao 100% là người dân tộc thiểu số, khả năng tư
duy kém, khả năng phân tích suy luận, tổng hợp còn rất nhiều hạn chế, các em
thường thiếu tự tin khi giải bài toán có lời văn.
Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2. Vì kĩ
năng đọc thành thạo của các em chưa cao,nên các em đọc được đề toán và hiểu đề
còn thụ động chậm chạp. Nó khiến cho tỉ lệ học sinh yếu, kém trong giải toán có lời
văn ngày càng cao.
2/ Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:
Qua thống kê việc học sinh giải toán tôi thấy các em có những sai lầm trong
cách giải toán như sau:
- Chưa đọc kĩ đầu bài, nên chưa xác định đúng yêu cầu của bài.
- Nhầm lẫn các " Dữ kiện, điều kiện,yêu cầu phải tìm"dẫn đến làm sai phép tính giải.

9
gì,hỏi gì để tìm cách giải quyết, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của đề bài với
phép tính tương ứng. Trình bày bài giải, viết câu trả lời phép tính tương ứng và đáp
số.)
- Về phần tóm tắt bài toán, yêu cầu học sinh tự tri giác rồi nêu(viết) tóm
tắt.Có thể bằng lời hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng( nên dùng sơ đồ đoạn thẳng để biểu
thị trực quan, khái niệm " nhiều hơn, ít hơn"). Phần tóm tắt cần thiết khi học giải
toán, tuy nhiên không nhất thiết phải viết vào phần trình bày bài giải( mục đích tóm
tắt bài toán cho biết gì và kết luận, bài toán hỏi gì từ đó giúp học sinh có cách giải
thích hợp).
- Về trình bày bài giải: Học sinh cần viết được câu lời giải và phép tính tương
ứng. Giaos viên kiên trì để học sinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời sau đó viết câu lời
giải. Lúc đầu học sinh lúng túng, ta nên chấp nhận cách diễn đạt tuy có vụng về
nhưng đúng ý là được.Cái khó nhất của giải toán ở lớp 2 là trình bày bài giải. Do đó
giáo viên cần cho học sinh tự nguyện viết câu lời giải, không nên vội vàng làm thay
cho học sinh.
- Khi dạy phần tính độ dài đường gấp khúc hoặc tính chu vi hình tam giác,
hình tứ giác, các bài toán dạng đó ( bài toán có nội dung hình học) được trình bày bài
giải như các bài toán có lời văn đã học.
- Hiện nay thực hiện dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, huy động
mọi kĩ năng của từng học sinh để tự tìm tòi khám phá ra các tình huống có vấn đề
trong học tập và trong cuộc sống. Tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp,
lập kế hoạch và biết lựa chọn kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề. Tập trung
mọi cố gắng để phát triển năng lực sở trường của mỗi học sinh tạo cho học sinh có
niềm vui và đặc biệt có niềm tin trong học tập.
- Dạy học phát huy tính tích cực, học sinh chủ động và sáng tạo trong học tập,
đồng thời yêu cầu học sinh phải độc lập suy nghĩ động não. Vì thế giáo viên nên tôn
trọng mọi suy nghĩ, ý kiến của học sinh, mọi sáng tạo của học sinh cho dù những
sáng tạo đó chưa thật sự có hiệu quả cao trong học tập.
10

đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho nhà
trường. Các gia đình này phần lớntrinhf độ văn hóa của bố mẹ không có, thậm chí họ
không biết cách dạy con như thế nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: " Học bài đi" rồi
con học gì, làm gì ở bàn học bố mẹ cũng không hay Đối với những em này, tôi phải
huopýngs dẫn nhiều hơn ở lớp để về nhà các em tự học. Một số học sinh thiếu SGK
và vở bài tập, tôi gặp gỡ và trao đổi với phụ huynh, động viên họ mua sách tạo điều
kiện cho con em học tập. Tôi trực tiếp kêu gọi những em học sinh cũ( lớp 2 năm
ngoái) ủng hộ số sách cũ của các em cho nhà trường để giúp đỡ những em có hoàn
cảnh gia đình khó khăn. Còn vở bài tập tôi cho phô tô lại cho những em thiếu, vì
không có vở bài tập các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi làm bài tập nhất là trong
khi kĩ năng đọc, viết chưa thành thạo.
2.Biện pháp thứ hai: Chuẩn bị cho việc giải toán.
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo tronh việc giải toán thì chúng ta
không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan
trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng Việt.
Chúng ta đã biết, học sinh lớp 2 còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp. Chính vì
vậy, để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên cần phải: Luôn
gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi,
luyện nói nhiều trong giờ Tiếng Việt giúp các em có vốn từ lưu thông; trong các tiết
học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti. Bên
cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc
nhanh đúng tốc độ,ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được
những yêu cầu mà bài tập nêu ra.
Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú ý rèn
luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em học sinh trong giờ học Tiếng Việt, bởi
vì học sinh đọc thông viết thạo là yếu tố "đòn bẩy" giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm
cách giải toán một cách thành thạo.
Theo chương trình SGK mới đến tuần 23 học sinh lớp 1 mới tập giải toán có lời
văn. Ở lớp 1 yêu cầu học sinh nhìn tranh nêu phép tính, tập nêu tiếp câu hỏi để hoàn
12

13
Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh)
Rồi tự trình bày bài giải:
Bài giải:
Số bưu ảnh của Bình có là:
11 + 3 = 14 (bưu ảnh)
Đáp số: 14 bưu ảnh.
3.Biện pháp thứ ba: Áp dụng qua các tiết dạy.
Khác với lớp 2 chương trình giáo dục cũ, chương trình Toán lớp 2 mới
thường được cho dưới dạng sau:
+ Lớp 2A có 15 bạn gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp
2A có bao nhiêu học sinh trai ?
+ Tháng trước tổ em được 16 điểm mười, tháng này tổ em được nhiều hơn tháng
trước 5 điểm mười. Hỏi tháng này tổ em được bao nhiêu điểm mười ?
Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh các kĩ
năng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải,
được tiến hành cụ thể qua các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khóa
quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông
thường như: "ít hơn", " nhiều hơn", " tất cả"
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng
dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm,
sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại: " Bài toán cho
gì? Bài toán hỏi gì? " và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp
giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh họa để các em tìm hiểu, nhận xét nội
dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa
vào câu hỏi của bài toán, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài
toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập.

Vườn nhà Hoa có số cây cam là:
15
17 - 7 = 10 (cây cam)
Đáp số: 10 ( cây cam)
Tóm lại: Tùy từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em cách lựa
chọn , đặt câu lời giải cho phù hợp.
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt khác nhau như 2 cách
trên.
Song trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi đưa cho các em suy
nghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với
câu hỏi của bài toán đó.
Tuy nhiên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất (cách 1) còn các cách
kia giáo viên đều công nhận là đúng và phù hợp nhưng cần lựa chọn để có câu lời
giải là hay nhất để ghi vào bài giải.
Bước 3: Trình bày bài giải:
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết câu lời
giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa.
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học, đẹp
mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện yêu cầu này trước
tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn, quy định.
- Đầu tiên là tên bài ( viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt, sau gần
tóm tắt là trình bày bài giải. Từ " Bài giải" hgi ở giữa trang vở ( có gạch chân), câu
lời giải ghi cách lề khoảng 2- > 3 ô vuông, chữ ở đầu câu viết hoa, ở cuối câu có dấu
hai chấm(:), phép tính viết lùi vào so với lời giải khoảng 2-> 3 chữ, cuối phép tính là
đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp số ghi sang phần vở bên phải
( có gạch chân) và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị tính ( không phải viết
dấu ngoặc đơn nữa).
Bước 4: Kiểm tra đánh giá kết quả.
Song song với việc hướng dẫn các bước thực hiện, tôi thường xuyên trình bày
bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày để từ đó

Buổi sáng: 12 xe đạp 12
Buối chiều: 20 xe đạp 20 ?
17
Cả hai buổi: ? xe đạp.
Dạng 2: Dạng đề dựa vào tóm tắt.
Ví dụ: Giaỉ bài toán theo tóm tắt sau:
Gói kẹo chanh: 28 cái
Gói kẹo dừa: 26 cái
Cả hai gói: ? cái.
(Sách giáo khoa Toán 2, trang 22).
- Bước 1: Đọc tóm tắt, xác định cái đã ch, cái cần tìm.
- Bước 2: Lập kế hoạch giải(như ví dụ1).
- Bước 3: Tiến hành giải và kiểm tra.
Dạng 3: Dạng đề tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Ví dụ: Giaỉ bài toán theo tóm tắt sau:
15 người
Đội 1:
2 người
? người
( Sách giáo khoa Toán 2 trang 25)
Bước 1: Xác định dữ kiện đề toán, tìm cái đã cho và cái cần tìm.
Bước 2: Lập kế hoạch giải( tìm lời giải, phép tính, đơn vị).
Bước 3: Tiến hành giải.
Đội hai có số người là:
15 + 2 = 17( người)
Đáp số: 17 người.
Bước 4: Kiểm tra kết quả (như các ví dụ trước).
Tiếp tục tiến hành kiểm tra nhiều kĩ năng giải toán của học sinh với nhiều dạng bài
khác nhau, tổng hợp kết quả qua chấm chữa bài cho 24 học sinh tôi thu được kết quả
sau:

nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã học
19
Tóm lại: Trong quá trình dạy học người giáo viên không chỉ chú ý đến rèn luyện kĩ
năng, truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải quan tâm chú ý đến việc:
Khuyến khích học sinh tạo hứng thú trong học tập.
5.Biện pháp thứ năm: Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trong mỗi tiết dạy.
Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học và lựa chọn xem đồ dùng đó cần đưa ra lúc nào,
cho phù hợp với nội dung của từng bài và các hoạt động trong tiết dạy. Tức là sử
dụng đồ dùng phải đúng thời điểm.
- Điều quan trọng nữa là giáo viên và học sinh phải được chuẩn bị bài, chuẩn bị đồ
dùng môn toán cẩn thận, chu đáo trước mỗi tiết học.
- Ngoài ra giáo viên cần tìm thêm những đồ dùng phụ trợ để cho tiết học thêm sinh
động, hoặc lựa chọn các trò chơi để củng cố kiến thức khắc sâu bài.
Ví dụ: Dạy bài lít ngoài đồ dùng là ca một lít và chai một lít giáo viên còn phải tìm
thêm can 5 lít, cốc loại 3 chiếc 1 lít, 4 chiếc 1 lít và chất lỏng như rượu, sữa để khắc
sâu cho các em về biểu tượng nhiều hơn, ít hơn với các chất lỏng và để tổ chức trò
chơi khi đong chất lỏng cũng là để củng cố đơn vị đo dung tích.
6. Biện pháp thứ sáu: Phát huy các nguồn lực trong nhà trường.
- Giúp đỡ học sinh yếu kém được gắn với cuộc vận động " Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực" và " Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và
sáng tạo". Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động " Hai không" với 4 nội dung do Bộ
GD - ĐT phát động , cương quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực
trong các lần tổ chức kiểm tra - thi cử trong toàn nghành.
- Ưu tiên phân công các giáo viên có năng lực tay nghề vững vàng, có đạo đức, tâm
huyết và có kinh nghiệm để phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém. Dạy phụ đạo học sinh
yếu kém bằng tâm lý sư phạm, kiên trì và dài lâu, dùng các biện pháp kích thích động
viên các em là chính, khơi dậy trong học sinh lòng tự tin, hứng thú học tập và vượt
khó để tiến bộ.
- Giáo viên phải nắm hết các điểm yếu, các nơi hổng hóc trong kiến thức của từng
học sinh yếu kém để tập trung bù đắp, bổ sung kiến thức. Không tạo không khí căng

+ Lớp 2A1 : Giỏi: 1 Khá: 2 TB: 9 Yếu: 2
21
+ Lớp 2A2 : Giỏi: 2 Khá: 5 TB: 10 Yếu: 3
- Căn cứ vào phương pháp dạy học, với vốn kiến thức của bản thân và tham khảo ý
kiến của bạn bè đồng nghiệp tôi đã đưa những biện pháp trên vào dạy thực nghiệm ở
lớp 2A1 và lớp 2A2.
- Trong quá trình thực nghiệm trong từng giờ dạy tôi luôn khái quát để tìm ra vướng
mắc của thầy và trò mắc phải để khắc phục qua từng tiết dạy.
- Hình thành những kiến thức ban đầu về giải toán có lời văn cho học sinh.
- Củng cố vận dụng kiến thức, thao tác đã học ở lớp 1 để khắc sâu cách giải, trình bày
bài giải, lời giải.
- Biết cách phân tích các bài toán hợp thành các bài toán đơn. Biết phát hiện lô gic
giữa các bài toán, để diễn tả tổng hợp bài toán dưới dạng tóm tắt, lập kế hoạch giải,
vận dụng các thủ thuật giải toán.
-Hình thành cho học sinh phương hướng, cách tìm hiểu bài, giải toán có lời văn một
cách thành thạo qua các bước.
+ Tìm hiểu kỹ đầu bài.
+ Lập kế hoạch giải.
+ Thực hiện kế hoạch giải.
+ Kiểm tra và đánh giá kết quả.
-Từ việc nắm vững các bước giải hướng dẫn các em biết lựa chọn và vận dụng các
thủ thuật giải toán sao cho phù hợp với mỗi dạng toán.
-Để đánh giá xem kết quả của quá trình thực nghiệm các biện pháp dạy bài toán có
lời văn tôi đã cho học sinh làm trên phiếu bài tập và thu được kết quả sau:
+ Lớp 2A1: Giỏi: 5 Khá: 5 TB: 4
+ Lớp 2A2: Giỏi: 6 Khá:6 TB: 8
- Từ kết quả trên ta thấy việc đáng mừng là số học sinh yếu, kém trong việc giải
toán có lời văn đã không còn nữa, tuy nhiên vẫn còn có những học sinh đã xác
định được đầu bài nhưng tìm ra cách giải vẫn còn hơi chậm cần phải có thời gian,
tôi tin rằng sử dụng tốt những biện pháp này hiệu quả sẽ còn cao hơn nữa.

5 quả trên tương ứng với 5 quả dưới, còn
- Cành dưới có nhiều hơn cành trên (3
học sinh trả lời)
- Nhiều hơn 2 quả (3 HS trả lời)
23
thừa ra 2 quả).
- Nêu bài toán: Cành trên có 5 quả cành
dưới có nhiều hơn cành trên 2 quả cam.
Hỏi cành dưới có bao nhiêu quả cam?
- Muốn biết cành dưới có bao nhiêu quả
cam ta làm thế nào?
- Hãy đọc cho cô câu trả lời của bài toán:
- Yêu cầu học sinh làm ra giấy nháp, 1
học sinh làm trên bảng lớp
Tóm tắt
Cành trên : 5 quả
Cành dưới nhiều hơn cành trên: 2 quả
Cành dưới :…….quả?
- Chỉnh sửa cho học sinh nếu các em còn
sai.
c. Luyện tập thực hành
Bài 1
- Gọi 1 HS đọc đề bài
- Gọi 1 HS tóm tắt
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Muốn biết Bình có bao nhiêu bông hoa
ta làm như thế nào?
- Trước khi làm phép tính ta trả lời như
thế nào?

- Yêu cầu học sinh đọc đề bài
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Để biết Đào cao bao nhiêu xăngtimet ta
làm như thế nào, Vì sao?
- Yêu cầu HS làm bài vào vở, 1 HS lên
bảng làm
Tóm tắt
Mận cao : 95cm
Đào cao hơn Mận: 3cm
Đào cao hơn :… cm?
- HS đọc đè toán, tóm tắt
- Bài toán hỏi số bi của Bảo
- Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi
Nam có 10 viên bi
Bài giải
Bạn Bảo có số bi là:
10 + 5 = 15 (viên bi)
Đáp số: 15 viên bi
- Đọc đề bài
- Mận cao 95cm. Đào cao hơn Mận 3cm.
- Đào cao bao nhiêu cm?
- Thực hiện phép cộng 95 + 3 “vì cao hơn
cũng giống như nhiều hơn”.
- Làm bài tập
Bài giải
Bạn Đào cao là:
95 + 3 = 98 (cm)
Đáp số: 98cm
3. Củng cố- dặn dò


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status