Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triến sỹ quan,thuyền viên tại công ty trách nhiệm hữu hạn và dịch vụ vận tải An Hải - Pdf 32

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
ĐỀ CƯƠNG CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triến sỹ
quan,thuyền viên tại công ty trách nhiệm hữu hạn và dịch vụ
vận tải An Hải.
MỤC LỤC
ĐỀ CƯƠNG CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP.................................................1
Đề tài: Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triến sỹ quan,thuyền viên
tại công ty trách nhiệm hữu hạn và dịch vụ vận tải An Hải...................1
MỤC LỤC....................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................3
Chương I: Giới thiệu chung về công ty.....................................................4
1. Lịch sử hình thành và phát triển.......................................................................................4
1.1. Giới thiệu chung về công ty..............................................................4
1.2. Tên,trụ sở,ngành nghề kinh doanh.................................................4
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty: .......................................................................4
1.3. Quá trình hình thành và phát triển.................................................5
2. Cơ cấu tổ chức công ty.......................................................................................................6
2.1. Sơ đồ công ty....................................................................................6
2.2. Chức năng nhiệm vụ các phòng ban...............................................7
3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.........................................................................10
3.1 Các chỉ tiêu tài chính.......................................................................10
3.2. Đánh giá kết quả hoạt động săn xuất kinh doanh........................12
Chương II: Thực trạng về vấn đề đào tạo và phát triển sỹ quan,thuyền
viên của công ty.........................................................................................14
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tại và phát triển sỹ quan thuyền viên tại
công ty ..................................................................................................................................14
1.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.............................................14
1.2. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp..............................................24
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
1

4. Kiến nghị với cấp trên......................................................................................................53
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
KẾT LUẬN................................................................................................54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................56
LỜI MỞ ĐẦU
Để quản trị thành công một doanh nghiệp thì đòi hỏi người quản trị phải
quản trị thành công tất cả 6 mảng quản trị như: nhân lực,hậu cần,tài
chính,kế toán…. Song quản trị 6 mảng kia suy cho cùng cũng là quản trị
con người do đó ta thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp. Đối với các công ty vận tải biển là công thương mại thì vấn đề
nhân lực càng quan trọng,nó tạo ra lợi thế cạnh tranh hay quyết định sự
sống còn của công ty.
Với tốc độ phát triển đến chóng mặt,được đánh giá là nghành then chốt của
quốc gia nhưng các công ty vận tải biển đang phải đối mặt với một thực
trạng vô cùng nhức nhối là “khát nhân lực”.
Mặt khác do Việt Nam là một nước thoát khỏi tình trạng bao cấp chưa lâu
tác phong nông nghiệp và tư tưởng lạc hậu đã ăn sâu mỗi lao động nói
chung và với lao động trong nghành hàng hải nói riêng. Cùng với cơ sở đào
tạo lạc hậu,vốn ít,tinh thần học tập chưa cao…. Đấy là những nhân tố làm
cho sỹ quan,thuyền viên của Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá thua sút
quá nhiều so với mặt bằng sỹ quan,thuyền viên của các nước trên thế giới
nói chung.
Điều này đặt ra một vai trò to lớn và cấp thiết cho các công ty vận tải biển
là đào tạo và phát triển lực lượng sỹ quan,thuyền viên của mình để đáp ứng
được nhu cầu nhân lực đang ngày càng tăng cao của mình.
Vì vậy em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triến
sỹ quan,thuyền viên tại công ty trách nhiệm hữu hạn và dịch vụ vận tải
An Hảỉ” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình. Với mục tiêu nghiên cứu,

Vốn điều lệ : 55tỷ VNĐ
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc : Nguyễn Văn An
Email:
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty:
- Đại lý tàu biển
- Đại lý hàng rời và container
- Kinh doanh vận tải biển.
- Sửa chữa tàu biển và thiết bị hàng hải.
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
1.3. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty An Hải ban đầu được hình thành dưới hình thức là công ty
TNHH 2 thành viên trở lên, và chính thức thành lập theo giấy phép kinh
doanh số 2385/GB – UB vào ngày 04/03/1996 của tỉnh Hải Phòng; đăng ký
kinh doanh số 048176 do ủy ban kế hoạch cấp ngày 12/03/1991. Với số
vốn điều lệ ban đầu là 55 tỷ VNĐ.Với nhiệm vụ chủ yếu là vận tải hàng
hoá nội địa, vận tải biển pha sông, kết hợp với vận tải vùng Đông Nam Á
và vận chuyển hành khách tuyến Bắc Nam và ngược lại
Trong lịch sử hơn 14 năm hình thành và phát triển, Công ty đã luôn nỗ lực
phấn đấu đạt được những thành tích cao trong sản xuất kinh doanh và góp
phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Sự phát triển của công ty được chia thành các giai đoạn sau.
Giai đoạn 1996-2000
Đây là giai đoaạn công ty mới thành lập nên gặp nhiều khó khăn,trở
ngại nhưng được sự giúp đỡ của chính phủ cùng với sự quyết tâm cao cảu
các lãnh đạo chủ chốt của công ty cùng với sự làm việc nhiệt tình của đội
ngũ công nhân trong nhà máy,công ty ban đầu đã đạt được những thành tựu
bước đầu đáng kể.
Giai đoạn 2001-2010

2. Cơ cấu tổ chức công ty
2.1. Sơ đồ công ty
Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức công ty
Nhìn vào sơ đồ ta thấy sơ đồ cơ cấu tổ chức đuợc tổ chức theo cơ cấu
chức năng. Nó có những đặc điểm như: nhiệm vụ quản trị được phân chia
cho các phòng ban riêng biệt theo các chức năng quản trị và hình thành nên
những người lãnh đạo được chuyên môn hóa chỉ đảm nhận thực hiện một
chức năng nhất định, ở công ty An Hải thì các bộ phận được chia ra thành
phòng TC-HC, phòng VT-ĐL,phòng TC-KT ,phòng KT-VT. Do đây là một
công ty lớn và kinh doanh ở lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực rộng và đòi hỏi
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
6
Tổng giám đốc
Phó giám đốc
CÁC TÀU BIỂN
Phòng TC- HC Phòng VT-ĐL Phòng TC-KT Phòng KT - VT
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
nhiều chuyên gia ở nhiều lĩnh vực nên công ty tổ chức bộ máy theo cơ cấu
chức năng là thích hợp.
Do đó mô hình này đã phát huy được những ưu điểm của nó như :
thu hút được các chuyên gia vào công tác lãnh đạo,giải quyết các vấn đề
chuyên môn một cách thành thạo hơn, đồng thời giảm bớt gánh nặng về
quản trị cho người lãnh đạo doanh nghiệp
Song mỗi mô hình luôn có mặt trái của nó do vậy khi áp dụng mô
hình này ngoài những ưu điểm mà công ty tận dụng được thì đồng thời nó
cũng phải chịu mặt khuyết điểm của mô hình như: người lãnh đạo doanh
nghiệp phải phối hợp hoạt động của những người lãnh đạo chức năng,
nhưng do khối lượng công tác quản trị lớn, người lãnh đạo doanh nghiệp
không thể phối hợp được tất cả các mệnh lệnh của họ, dẫn đến tình trạng
người thừa hành trong một lúc có thể phải nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí

động,vệ sinh lao động và công tác hành chính,đời sống,văn thư lưu trữ,bảo
mật và phục vụ.
Nhiệm vụ
- Đề xuất việc tuyển dụng,bố trí sắp xếp ,sử dụng lao động phù hợp
với trình độ ,năng lực ,sở trường,sức khoẻ của người lao động. Xây dựng
đội ngũ cán bộ CBCNV có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
- Xây dựng và hoàn thiện các quy chế,phuơng án về tổ chức cán bô
̣,định mức lao động nội bộ,khoán chi phí ….
- Tổ chức thực hiện tốt các quy chế ,việc quản lý tiền lương,khoán
tiền lương và trả tiền lương cho người lao động.
- Xây dựng và tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả kế hoạch
,phương án bảo vệ an ninh trật tự ,an toàn lao động và vệ sinh lao động,tự
quản về an ninh trật tự ,phòng chống các tệ nạn xã hội và phòng chống
cháy nổ.
2.2.4 Phòng tài chính kế toán
Chức năng
- Quản lý sử dụng tài sản,tiền vốn và tổ chức hoạt động tài chính kế
toán của công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Chịu trách nhiệm
kiểm tra,giám sát,quản lý công tác tài chính kế toán tại công ty.
Nhiệm vụ
- Quản lý và tạo lập các nguồn vốn ,sử dụng và khai thác các nguồn
đúng mục đích, có hiệu quả để phát triển vốn, phục vụ kịp thời cho quá
trình sản xuất kinh doanh.
- Lập hệ thống sổ sách,chứng từ, báo cáo,mẫu biểu quản lý hoạt động
sản xuất kinh doanh .
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
- Tổ chức hạch toán kế toàn đảm bảo yêu cầu quản lý và đúng phấp

Chức năng
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
- Bảo quản,bảo dưỡng,sửa chữa cơ sở vật chất và cung cấp vật tư ,
phụ tùng cho tàu hoạt động.
Nhiệm vụ
- Theo dõi ,quản lý số lượng, chất lượng vật tư, thiết bị , phụ tùng để
hạch toán thống kê đầy dủ và chuẩn xác. Đồng thời đề xuất các phương
án ,biện pháp quản lý thiết bị an toàn ,hiệu quả.
- Xây dựng các định mức về vật tư, chi phí vật tư, nhiên liệu .
- Thường xuyên kiểm tra , chỉ đạo sỹ quan thuyền viên luôn luôn chấp
hành tốt các quy phạm về an toàn phương tiện ,hang hóa và người lao động.
-Chịu trách nhiệm chỉ đạo về kỹ thuật cho tầu khi gặp sự cố hỏng
hóc cần sửa chữa .
- Phát hiện và phối hợp ngăn chặn,xử lý kịp thời các vụ việc tiêu cực
các nguy cơ mất an toàn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
3.1 Các chỉ tiêu tài chính
Bảng các chỉ tiêu tài chính cơ bản của công ty An Hải.
Đơn
vị
2006 2007 2008 2009
1.Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán ngắn hạn :TSLĐ/Nợ ngắn
hạn
Lần 0.89 0.76 0.81 0.773
Hệ số thanh toán nhanh:
(TSLĐ - Hàng tồn kho)/ Nợ ngắn hạn
Lần 0.63 0.58 0.57 0.561

thường có xu hướng tăng vào các năm trở lại đây song tỉ lệ tăng là không
đáng kể,thể hiện :năm 2006 là 0,5 lần,năm 2007 là 0,56lần,năm 2008 bằng
0,58 lần và năm 2009 là 0,57 lần năm. Điều này chứng tỏ khả năng kiểm
soát và huy động vốn của công ty rất cao do vậy tỉ lệ này đẫu không nhỏ
cũng không đáng lo ngại.
3.1.2 Các chỉ tiêu vê năng lực hoạt động
Nhìn vào kết quả thể hiện ở bảng trên ta thấy các chỉ tiêu vòng quay
hàng tồn kho và tỉ lệ doanh thu thuần / tổng tài sản không có xu hướng tăng
giảm rõ ràng. Cụ thể như sau:
Chỉ tiêu vê vòng quay hàng tồn kho: tỉ lệ này ổn định và khá cao vào
2 năm 2006,2007 với 15,58 lần vào năm 2006 và 15,55 lần vào năm 2007.
Nhưng tỉ lệ này lại giảm xuống vào 2 năm gần đây cụ thể giảm xuống còn
6,57 lấn ở năm 2008 và 7.05 lần vào năm 2009. Tỉ lệ này giảm là một tín
hiệu tốt. Sở dĩ có sự giảm đột xuất vào năm 2008 vì năm này là năm các
đơn đạt hàng tăng lên đột xuất đẫn đến sức ép khách hàng về nợ là không
lớn. Đây là giai đoạn cung khá chiếm ưu thế so với cầu.
Về tỉ lệ doanh thu thuần trên tổng tài sản: tỉ lệ này cũng biến động
tăng giảm không đồng đều: nằm ở mức khá cao vào năm 2006 là 109,54%
và giảm xuống còn 58,65% vào năm 2008 nhưng lại tăng lên vào năm 2009
là 94,74%. Sở dĩ có sự giảm này không phải vì doanh thu giảm,ngược lại
doanh thu của công ty tăng liên tục vào các năm trở lại đây song công ty
liên tục mua sắm các tài sản cố định mới làm cho tổng tài sản của công ty
tăng lên đẫn đến tỉ lệ trên. Đặc biệt vào năm 2008 đây là năm có nhiều đơn
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
hàng nên công ty chủ động mua thêm một số tàu mới để tăng khả năng
chuyên chở đẫn đến tài sản tằng đột biến -> tỉ lệ này giảm xuống.
3.1.3 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Chỉ tiêu này được phân tích kỹ ở phần đánh giá kết quả hoạt động

Tỉ lệ:LN sau
thuế/DT thuần
2,825 15.87 485,66 15,44 -2,71 12,87 -16,65
DT thuần 424728 630.000 36,8 680.000 7.94 735.000 8.09
Năm 2007 là một năm làm ăn khá phát đạt đối với công ty thể hiện
ở: LN trước thuế tăng 666,7% so với năm 2006, LN sau thuế tăng 833% so
với năm 2006, và doanh thu thuần cũng tăng đến 36.8% so với năm trước.
Có sự chuyển biến tích cực như trên vì năm 2007 cũng là năm đỉnh cao của
kinh tế Việt Nam,kinh tế phát triển mạnh đẫn đến các công ty cần vận tại
nhiều hơn do vậy công ty cũng có nhiều mối hàng hơn. Mặt khác năm 2007
là năm giá dầu còn ổn định và chưa tăng như các năm sau nên chi phí cũng
có phần ít hơn và ổn định hơn so với các năm sau.
Năm 2008 được gọi là năm làm ăn béo bở cho ngành hàng hải vì
lượng hàng cần vận tải nhiều và giá cước lại cao song nhìn vào bảng số liệu
ta thấy các chỉ số vẫn tăng hơn so với năm 2007 song nếu xét về tỉ lệ tăng
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
so với năm trước thì năm này không có những bước đột phá như những
năm trước đó . Điển hình là tỉ lệ LN sau thuế/ doanh thu thuần của năm
2008= -2,71% so với năm 2007. Sở dĩ có sự lạ lùng này là vì bên cạnh
những thuận lợi tưởng chừng như mỹ mãn thế thì vẫn có một trở ngại lớn là
giá xăng đầu biến động và gia tăng liên tục khiến chi phí tăng lên do vậy
mặc dù DT thuần năm 2008 cao hơn so với năm 2007 song LN sau thuế lại
thấp hơn năm 2007.
Bước sang năm 2009 nhìn vào biểu đồ bên dưới ta thấy giá xăng dầu
giảm so với năm 2008 song các chỉ tiêu đạt được lại không sáng sủa như
năm 2008 : LN sau thuế năm 2009 giảm 9,9% so với năm 2008, tỉ lệ LN
sau thuế/ DT thuần cũng giảm 16,65% so với năm 2009. Nguyên nhân do
năm 2008 là năm làm ăn phát đạt của ngành hàng hải thì năm 2009 dường

đáng nổi bật. Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đã nâng dần mức
sống của người dân. Đi biển không còn là nghề có thu nhập cao và có sức
lôi cuốn như trước đây, một lực lượng không nhỏ thuyền viên có kinh
nghiệm, có chức danh ở mức sỹ quan quản lý đã rời bỏ nghề và tìm những
công việc phù hợp ở trên bờ.
Tuy nhiên, một lực lượng không nhỏ thuyền viên mới, có khả năng
tiếng Anh, sức khoẻ tốt, có ý chí đi làm thuê trên tàu nước ngoài vẫn chủ
động tìm đến với các Đơn vị xuất khẩu thuyền viên và đi làm thuê trên tàu
nước ngoài. Lực lượng thuyền viên này đang ngày một gia tăng, kích hoạt
mạnh mẽ dịch vụ cung cấp thuyền viên. Tất cả những yếu tố đó đang tạo
nên một xu thế thương mại hoá thị trường thuyền viên nước ta.
Thực trạng thuyền viên hiện nay cho thấy nhu cầu về thuyền viên và
thị trường thuyền viên đang bị tác động bởi sự ra đời của các doanh nghiệp
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
hàng hải tư nhân; Các công ty chủ tàu mới thành lập; Ngành đóng tàu trong
nước đang phát triển rất mạnh; các chủ tàu nước ngoài đặt đóng tàu tại Việt
Nam và thuê thuyền viên Việt Nam; Bộ luật Hàng hải Việt Nam sửa đổi;
Có những Văn bản mới quy định về thuyền viên Việt Nam làm việc trên
tàu biển nước ngoài; Sự gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của
Việt Nam.
Điều đó đã dẫn tới tình hình xuất khẩu thuyền viên (XKTV) thời
gian qua nhìn chung bị chững lại do nhu cầu thuyền viên trong nước tăng
đáng kể. Năm 2004, chỉ riêng Tổng công ty Hàng hải Việt Nam có số
thuyền viên đi xuất khẩu là 1.089 người, doanh thu từ dịch vụ này là
8.127.759 USD. Sáu tháng đầu năm 2005 xuất khẩu được 958 người, doanh
thu 5.337.806 USD.
Nổi bật trong công tác XKTV năm qua là Trung tâm thuyền viên
Trường Đại học Hàng hải, tổng số thuyền viên của Trung tâm đi xuất khẩu

Thực tế cho thấy thị trường thuyền viên thế giới, Philipines vẫn duy
trì vị trí hàng đầu của các nước xuất khẩu thuyền viên. Gần đây, Trung
Quốc đang nổi lên như một quốc gia có lượng thuyền viên dồi dào, có sức
cạnh tranh to lớn, và được đánh giá là có chuyên môn, tính kỷ luật cao, sẵn
sàng chấp nhận mức lượng cạnh tranh để làm việc trên các tàu treo cờ
thuận tiện.
Điều đó đang làm cho thị trường XKTV của Philipines cũng như của
các nước XKTV khác đang bị co hẹp. Đó là một thách thức đáng kể với
XKTV Việt Nam.
Do vậy, việc nâng cao chất lượng thuyền viên Việt Nam phục vụ cho
đội tàu trong nước và công tác XKTV là việc hết sức quan trọng và cấp
thiết; trước hết, phải phát huy những mặt mạnh và hạn chế những mặt tồn
tại.
b.Về số lượng
Song song với thiếu nhân lực thì ngành hàng hải hiện nay đang phải
đối mặt với nỗi lo thiếu nhân lực. Đây là một thực tế khó tránh khỏi bởi
đơn giản, ngay cả những “đại gia” trong làng vận tải biển như Vosco,
Vinaship - những doanh nghiệp luôn sẵn sàng trả cho thuyền viên một mức
lương hậu hĩnh cũng chưa thoát cảnh “chạy đôn, chạy đáo” tìm thuyền
viên.
Trên thực tế, thiếu thuyền viên, chính xác hơn là thiếu sỹ quan cấp
quản lý cũng như những thuyền viên có kinh nghiệm đi biển không phải là
vấn đề quá mới mẻ. Thế nhưng vấn đề không mới này vẫn luôn làm đau
đầu các doanh nghiệp trong ngành hàng hải nói chung.
Theo Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến 2010, từ năm
2003 đến năm 2010, đội tàu biển Việt Nam sẽ phát triển thêm 294 tàu. Nhu
cầu tương ứng về đội ngũ sỹ quan thuyền viên sẽ phải có là khoảng 10.000
người, gồm thuyền viên làm việc trực tiếp trên tàu, thuyền viên sẵn sàng
thay thế và dự trữ (ước tính theo quy định về định biên an toàn tối thiểu
trên tàu), số lượng sỹ quan, thuyền viên cần được đào tạo mới để thay thế

đội ngũ thủy thủ và thợ máy được đào tạo từ các trường trung cấp,công
nhân kỹ thuật đặc biệt trong đó có 12% có trình độ cao đẳng thậm chí có
trình độ đại học. Tuy nhiên nếu xét thực tế thì lao động hàng hải của Việt
Nam còn bị thua sút nhiều so với mặt bằng lao động nước ngoài nói chung.
- Về mặt kiến thức chuyên môn: không nhiều sỹ quan,thuyền viên
của Việt Nam có kiến thức rộng và thường xuyên cập nhật các thông tin
mới về các trang thiết bị hàng hải cũng như các quy định ,quy ước trên thế
giới. Điều này một phần là do chương trình đào tạo sỹ quan,thuyền viên
của ta đã cũ,thiếu tính đổi mới. Mặt khác ,với các sỹ quan thuyền viên có
kinh nghiệm và giỏi về chuyên môn thì tuổi đời của họ cũng khá cao,sức
khỏe yếu và kém năng động,còn những sỹ quan có sức khỏe tốt,năng động
thì lại thiếu kinh nghiệm ,kiến thức ,kỹ năng chưa phong phú.
- Về ngoại ngữ: trình độ ngoại ngữ của sỹ quan thuyền viên chưa
giỏi và cũng chưa đồng đều. Nếu tính tất cả các chức danh trên tàu thì số
lượng sỹ quan,thuyền viên có thể giao tiếp thành thạo cho công việc còn ở
mức thấp.
- Về ý thức kỷ luật: một số ít thuyền viên có thái độ,tác phong làm
việc thiếu nhiệt tình,còn ỷ lại. Họ chưa ý thức được quan niệm “đi làm
thuê”,chưa với khái niệm làm thuê,hội nhập quốc tế….
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
Như vậy ,sự thiếu hụt về số lượng và yếu về chất lượng của lực lượng lao
động sỹ quan,thuyền viên tại việt Việt Nam đang và sẽ là một áp lực rất lớn
đối với công tác đào tạo của các doanh nghiệp ngành hàng hải trong đó có
bao gồm Công ty vân tải An Hải.
1.1.2 Quá trình hội nhập vào nền kinh tế của khu vực và thế giới
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực luôn tạo ra
những thách thức và cơ hội cho mỗi doanh nghiệp. Cơ hội đó là sự mở
rộng thị trường để phát triển,sự cạnh tranh về nguồn vốn,kỹ thuật,công

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
nhiều. Điều này buộc chúng ta phải bằng mọi cách nâng cao chất lượng
và hạ giá thành dịch vụ.
Với ngành hàng hải ,dù một ngành được đánh giá là có tính quốc tế
cao nhưng quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế vẫn có
một tác động tích cực đến ngành này. Cụ thể là khi Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế WTO ,Việt Nam đã cam kết “không hạn chế”ở
phương thức cung cấp dịch vụ đối với vận tải hàng hóa quốc tế (nghĩa là
nhà cung cấp dịch vụ vận tải biển nước ngoài được phép vận chuyển hàng
hóa ở Việt Nam mà không có bất kỳ rào cản nào. Đồng nghĩa với việc
cánh cửa ngành hàng hải đã mở toang và sự cạnh tranh trong ngành này
ở thời kỳ hậu WTO sẽ là một cuộc cạnh tranh gay gắt không chỉ trên các
tuyến vận chuyển quốc tế mà còn trên cả tuyến nội địa với sự tham gia
ngày càng nhiều các hãng vận tải nước ngoài. Để đối phó lại với sự cạnh
tranh này đòi hỏi Công ty vận tải An Hải phải có những chiến lược kinh
doanh hợp lý ,khai thác được hết những điểm mạnh của mình và phải có
sự chuẩn bị kỹ lưỡng về các nguồn lực bao gồm cả nhân lực và vật lực.
Đối với sỹ quan,thuyền viên được coi là một trong những nguồn nhân lực
đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển,công ty cần hoàn thiện
và đẩy mạnh hơn nữa hơn nữa các chương trình đào tạo về chuyên môn
và ngoại ngữ. Mặt khác cũng cần trang bị những kiến thức về luật pháp và
cả chuẩn mực quốc tế cho các sỹ quan,thuyền viên để tránh những sai
sót ,vi phạm đáng tiếc có thể xảy ra làm chậm trễ tiến độ vận chuyển hàng
hóa và ảnh hưởng đến uy tín của công ty. Bên cạnh đó sau khi gia nhập
WTO hoạt động xuất khẩu của thuyền viên của công ty An Hải ra nước
ngoài sẽ thuận tiện hơn nhiều. Sau khi trở về đây sẽ là đội ngũ có kinh
nghiệm và chuyên môn cao phục vụ cho công ty và góp phần giảm bớt
khoảng cách đội ngũ nhân lực của công ty với nhân lực của các công ty
lớn trong nước và thế giới.
Như vậy hội nhập khu vực và quốc tế với đội ngũ sỹ quan ,thuyền

tài do đó đây không chỉ là khó khăn cho riêng công ty An Hải nói riêng
mà cho cả các công ty trong nước nói chung.
- Đối thủ cạnh tranh là các hãng vận tải biển trong nước:
Công ty vận tải An Hải là công ty có trụ sở ở Hải Phòng, nhìn vào
biểu đồ ta thấy Sản lượng xếp dỡ container tại cảnh Hải Phòng cũng chỉ
đứng vị trí thứ 2 và cách 1 khoảng khá xa so với vị trí đứng đầu là Tân
cảng-Sài Gòn.
Biểu đồ 4 : Cơ cấu sản lượng container qua các hệ thống cảng Việt
Nam
Biểu đồ 5: Các doanh nghiệp vận tải biển lớn của Việt Nam
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
Nếu xét các doanh nghiệp trong ngành hàng hải Việt Nam thì An
Hải đang phải đối mặt với những đối thủ mạnh như Vosco, falcon,VSP,
VTB Vinalines… So số liệu trong bảng báo cáo tài chính và thực tế cho
thấy Công ty An Hải có quy mô tương đương với công ty An Hải cũng
chiếm khoảng 3.6% trong tổng thị phần của các doanh nghiệp vận tải
biển ở Việt Nam. Tức chỉ gần bằng 30%thị phần của doanh nghiệp đứng
đầu. Từ những số liệu trên ta phải thừa nhận một sự thật tuy An Hải là
một công ty lớn nhưng khi đặt lên bàn cân với các đối thủ khác trong
nước thì An Hải cũng chưa phải là một công ty lớn. Sự cạnh tranh đòi
hỏi công ty phải có những sự chuẩn bị về mọi mặt bao gồm cả chuẩn bị
về mặt nhân lực thông qua việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
Mặt khác bên cạnh những sự cạnh tranh về thị phần,khách hàng
thì về mặt nhân sự,những đối thủ cạnh tranh cũng luôn tìm cách để thu
hút và kéo chân những sỹ quan thuyền viên có năng lực và kinh nghiệm
tay nghề giỏi của công ty và đón đầu những người có triển vọng. Việc
này gây sức ép rất lớn lên công tác đào tạo sỹ quan,thuyền viên . Để đối

Đặc biệt hơn, các Trường đã tiến hành liên doanh, liên kết, xin đầu
tư bằng nguồn vốn ODA để bổ sung trang thiết bị huấn luyện như thiết bị
mô phỏng buồng máy, mô phỏng RADAR, GMDSS, ARPA, …
Ước tính đến cuối tháng 10 năm 2005, Việt Nam có khoảng 24.000
thuyền viên. Hiệp hội chủ tàu Việt Nam có 31 thành viên có khoảng trên
7000 thuyền viên. Bên cạnh việc tập trung đào tạo ở các trường đại học và
trung học hàng hải, một số công ty Vận tải biển đã có nhiều hình thức đào
tạo khác. Các Công ty và Trung tâm thuyền viên đã có nhiều cố gắng trong
công tác đào tạo thuyền viên.
Cụ thể là việc đào tạo lại và đào tạo nâng cao đang được chú trọng.
Hầu hết các Trung tâm xuất khẩu thuyền viên đều tập trung vào việc đào
tạo tiếng Anh và kỹ năng tay nghề. Các chương trình định hướng cho
thuyền viên trước khi nhập tàu đã thường xuyên được cập nhật, nâng cao
đáp ứng các yêu cầu của người thuê, đồng thời những kiến thức về phong
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ngô Thị Việt Nga
tục, tập quán, giao tiếp, ứng xử với người nước ngoài đã được đưa vào
chương trình giáo dục định hướng với nội dung phong phú và thời lượng
đầy đủ hơn.
Đặc biệt Công đoàn Hàng hải Việt Nam tiếp tục duy trì và đẩy mạnh
Dự án nâng cao chất lượng thuyền viên Việt Nam (VSUP), Dự án đào tạo
huấn luyện thuyền viên Việt Nam (VCTC) do Công đoàn toàn Thuỷ thủ
Nhật Bản tài trợ.
Tính đến hết tháng 12/2005 Dự án VSUP đã đào tạo cho ngành Hàng
hải Việt Nam 14 khoá học, nâng tổng số thuyền viên tốt nghiệp Dự án là
597 người; Dự án VCTC đã đào tạo được 200 người tại cả hai khu vực phía
Bắc và phía Nam. Dự án VSUP sẽ kéo dài tới năm 2008. Các nỗ lực trên đã
góp phần nâng cao chất lượng thuyền viên về tiếng Anh Hàng hải và tác
phong công nghiệp, bước đầu khắc phục được những nhược điểm và ngoại

cao đẳng, sau 2 năm làm thủy thủ mới được xếp vào chức danh thực tập sỹ
quan hàng hải, mà lẽ ra việc này phải được hoàn thành trong quá trình học
tập ở trường.
- Tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước, nhà trường và doanh
nghiệp sử dụng thuyền viên trong đào tạo nguồn nhân lực chưa được đảm
bảo bằng những văn bản pháp lý, còn nặng về vận động, thuyết phục, “xin,
cho” (thể hiện rõ qua việc học viên đi thực tập chức danh và thực tập tốt
nghiệp trên tàu).
- Việc ban hành và thực hiện các chế độ chính sách đối với giảng
viên, học viên nhằm thể chế hóa chiến lược “giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu” còn bất cập, chưa đủ sức thu hút người tài tham gia đào tạo,
huấn luyện sỹ quan và an tâm với nghề hàng hải.
- Các cơ sở đào tạo thuyền viên mới tập trung ở Hải Phòng và TP.
Hồ Chí Minh, riêng miền Trung, đặc biệt là cụm cảng Đà Nẵng, đang bị bỏ
trống.
1.2. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
1.2.1 Số lượng lao động
Bảng : Cơ cấu sỹ quan,thuyền viên tại công ty An Hải giai đoạn 2004-2008
Chức vụ 2004 2005 2006 2007 2008
Sỹ quan quản lý Thuyền trưởng 3,50 3,26 3,05 4,02 4,06
Phó I 4,07 4,23 4,02 4,07 4,45
Máy trưởng 3,05 3,05 3,65 3,28 3,46
Má 2 3,85 3,85 4,02 4,78 4,23
Sỹ quan vận hành Sỹ quan bong 11,12 11,25 11,25 11,37 12,04
Sỹ quan máy 11,65 12,02 11,45 11,30 11,02
Thợ thủy 26,26 26,00 25,58 24,62 25,25
Thủy thủ 36,62 36,34 36,98 36,56 35,49
Tổng 100 100 100 100 100
Số lượng sỹ quan,thuyền viên của công ty tăng dần qua các năm với
mức tăng bình quân trong giai đoạn năm 2004-2008 là 9,2%.

hút và giữ chân nhân viên có năng lực. Đồng thời đi liền với việc đó thì
công ty cũng sẽ phải xúc tiến đào tạo để bổ sung cho lực lượng sỹ
quan,thuyền viên đã bị thiếu hụt đặc biệt là sỹ quan quản lý. Nhưng việc
đào tạo sỹ quan,thuyền viên phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng vì
không phải thấy thiếu hụt thuyền viên mà đào tạo một cách ồ ạt không chú
trọng đến chất lượng gây tổn thất về thời gian,tiền bạc mà lại không có ý
nghĩa lớn.
1.2.2 Chất lượng lao động
Phải thừa nhận một tình trạng chung không chỉ riêng công ty vận tải
An Hải nói riêng mà của các công ty vận tải biển nói riêng là lực lượng sỹ
quan,thuyền viên hiện nay không những thiếu về số lượng mà còn yếu về
chất lượng.
Về trình độ chuyên môn:
Bảng:Cơ cấu sỹ quan,thuyền viên của công ty theo trình độ đào
tạo(%) năm 2008
Đối tượng ĐH,CĐ Trung cấp Đào tạo dạy nghề Tổng
Sỹ quan quản lý 16,62 0 0 16,62
Sỹ quan vận hành 13,63 10,57 0 24,20
Thủy thủ 7,64 43,33 8,21 59,18
Tổng 37,89 53,90 8,21 100
SVTH: Phạm Thị Vân QTKD tổng hợp 48D
25

Trích đoạn Xây dựng toàn diện và sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí đào Thực hiện đánh giá công tác đào tạo một cách khoa học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status