Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Chăn nuôi gà là nghề truyền thống lâu đời của nhân dân ta. Nó cung cấp cho
chúng ta sản phẩm thịt và trứng, là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao vì
thế đòi hỏi nhu cầu cung cấp cho xã hội ngày càng nhiều. Nghề chăn nuôi gà từng
bước mở rộng, từ mô hình sản xuất đơn giản với những giống gà ban đầu, trên cơ
sở nghiên cứu phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều giống gà nuôi
theo nhiều mô hình khác nhau nhằm gia tăng sản phẩm cung cấp cho con người.
Cùng với những tiến bộ trong các lĩnh vực di truyền, hóa sinh, dinh dưỡng… đã
góp phần phát triển nghề chăn nuôi gà, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người
chăn nuôi. Bên cạnh đó, là sự phát triển song song của dịch bệnh. Ngày càng có
nhiều bệnh mới phát sinh đe dọa đàn gia cầm. Do tính chất ảnh hưởng rộng khắp
và sự nguy hiểm của nó nên gọi là đại dịch cúm gia cầm. Đại dịch cúm đi qua để
lại hậu quả thật nặng nề. Trước sự nguy hại của nó, các nhà khoa học ở các nước
như Trung Quốc, Mỹ… đang nghiên cứu về các loại văc-xin phòng ngừa để có thể
ngăn chặn đại dịch cúm gia cầm bùng phát trong tương lai.
Đại dịch cúm gia cầm đang xảy ra hiện nay có tác động tiêu cực đến hiệu quả
sản xuất nông nghiệp trong nước, khu vực và thế giới. Riêng ở Việt Nam, Đồng
bằng sông Cửu Long cũng bị thiệt hại nặng nề. Trong đó, tại huyện Châu Thành –
tỉnh Tiền Giang nơi có hoạt động nuôi gà công nghiệp lấy trứng diễn ra sôi động
đã gây thiệt hại to lớn cho nông hộ chăn nuôi, làm cho bà con nông dân gặp rất
nhiều khó khăn về đời sống. Trong khi đó chính quyền địa phương và các nhà
hoạch định chính sách chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hậu
quả do dịch cúm gia cầm gây ra vì thiếu luận cứ khoa học kinh tế.
Vấn đề nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn
nuôi của nông hộ trở nên bức xúc và cần thiết. Bởi lẽ dịch cúm gây ảnh hưởng
mạnh mẽ đến người chăn nuôi và kinh tế - xã hội của huyện. Nghiên cứu về vấn
đề này sẽ xác định được những thiệt hại, mất mát của người nông dân đồng thời
tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ để các cấp chính quyền có biện pháp hỗ
tình trạng cùng cực. Trước những tổn thất nặng nề của dịch cúm gia cầm gây nên,
do đó việc nghiên cứu “Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông
hộ tại huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang” để từ đó có thể đưa ra những giải
2
pháp khả thi để phát triển đàn gà công nghiệp lấy trứng theo hướng bền vững là rất
cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi gà công
nghiệp lấy trứng của nông hộ tại huyện Châu Thành để nắm được mức độ thiệt hại
đồng thời đưa ra giải pháp phát triển nghề chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng dựa
trên cở sở khoa học và tính hiệu quả kinh tế qua thực tiễn nghiên cứu.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
● Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành –
tỉnh Tiền Giang cùng những thiệt hại trong chăn nuôi khi dịch cúm gia cầm xảy ra.
● Phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ trước
và sau khi dịch cúm xảy ra.
● Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ và hiệu quả sử dụng vốn trong chăn
nuôi gà công nghiệp lấy trứng. Qua đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc
tái đàn.
● Đề xuất giải pháp nhằm phát triển đàn gà trong tương lai, mang lại hiệu
quả chăn nuôi cho người chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng.
1.3 Các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đối với mục tiêu 1:
+ Tổng số hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại địa bàn huyện.
+ Quy mô chăn nuôi của từng hộ trong huyện.
+ Kinh nghiệm chăn nuôi.
+ Cơ sở vật chất trong chăn nuôi.
+ Lao động cần thiết phục vụ cho chăn nuôi.
○ Kiểm định: Thực tế có hộ nào không nhận được tiền hỗ trợ không?
► Giả thuyết 3: Người nông dân gặp khó khăn tài chính trong việc tái đàn.
○ Kiểm định: Ngoài nguyên nhân tài chính có nguyên nhân nào khác ảnh
hưởng làm cho người nông dân không muốn tài đàn không?
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Không gian
- Các nông hộ nuôi gà công nghiệp lấy trứng thuộc các xã trong huyện Châu
Thành – tỉnh Tiền Giang.
4
- Số liệu được sử dụng trong đề tài là các số liệu được thu thập tại các cơ
quan ban ngành của tỉnh Tiền Giang gồm: Phòng Nông – Lâm – Ngư thuộc Sở
Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, Chi cục thú y Tiền Giang,
Trạm thú y huyện Châu Thành, Phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành, Phòng
Kinh tế huyện Châu Thành, Phòng Thống kê huyện Châu Thành.
Do tính chất của hoạt động nuôi gà công nghiệp thường chăn nuôi tập trung.
Do đó các số liệu sơ cấp trong đề tài là các số liệu thu thập tại các hộ nuôi có quy
mô tập trung từ 200 con trở lên.
1.4.2 Thời gian
- Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 2 năm 2007 đến tháng 6 năm
2007.
- Số liệu sử dụng trong đề tài là số liệu từ năm 2003 đến năm 2007.
+ Số liệu sơ cấp được thu thập trong tháng 4 và tháng 5 năm 2007.
+ Số liệu thứ cấp là các số liệu từ năm 2003 đến cuối năm 2006 và số kế
hoạch năm 2007.
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
- Hiệu quả sản xuất của việc nuôi gà công nghiệp lấy trứng của các nông hộ
chăn nuôi tập trung dạng cơ sở chăn nuôi.
- Các nông hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu Thành -
tỉnh Tiền Giang.
1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
nghiên cứu cụ thể. Cho nên tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu vấn đề này trong
thời gian thực tập tốt nghiệp đại học của mình.
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
6
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về nông hộ
Nông hộ là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và
dịch vụ... hoặc làm kết hợp nhiều ngành nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia
đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh. Nông hộ tiến hành sản xuất nông - lâm -
ngư nghiệp để phục vụ cuộc sống và được gọi là kinh tế hộ gia đình.
Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất có hiệu quả nhất về kinh tế- xã hội,
tồn tại và phát triển lâu dài và có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế hộ gia đình phát triển tạo ra
sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất lượng, có giá trị ngày càng cao, góp phần
tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện mọi mặt đời sống, cung cấp sản phẩm
cho công nghiệp và xuất khẩu. Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
được thực hiện ngay từ kinh tế nông hộ.
2.1.1.2 Khái quát về chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, chăn
nuôi cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Một xu
hướng tiêu dùng có quy luật là khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về
các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng và chủng loại. Chăn
nuôi còn là ngành cung cấp nhiều sản phẩm là nguyên liệu quý cho công nghiệp
chế biến. Phát triển chăn nuôi còn có mối quan hệ khắng khít thúc đẩy phát triển
ngành trồng trọt, tạo nên một nền nông nghiệp cân đối bền vững.
Chăn nuôi là ngành sản xuất có đối tượng tác động là cơ thể sống đòi hỏi
phải có đầu tư duy trì thường xuyên. Chăn nuôi có thể phát triển theo phương thức
di động phân tán theo phương thức tự nhiên, song cũng có thể phát triển tập trung
hoạt động thì chi phí khả biến lại không đổi trong phạm vi phù hợp. Chi phí khả
biến chỉ phát sinh khi có hoạt động.
Trong nuôi gà công nghiệp chi phí khả biến bao gồm chi phí con giống, chi
phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí điện, chi phí nước và một số chi phí khác
như chi phí gas…
b) Chi phí bất biến: là những chi phí có tổng số của nó không thay đổi khi có
mức độ hoạt động thay đổi. Chi phí bất biến có thể chia thành hai loại: chi phí bất
biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc.
Trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng chi phí bất biến là các chi phí
chuồng trại, chi phí lồng nuôi, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí trang thiết bị và
một số chi phí cố định khác… phục vụ cho chăn nuôi như thiết bị vận chuyển thức
8
ăn, máng ăn, máng uống, dụng cụ làm vệ sinh, quạt, moteur dùng phun xịt nước
cho gà khi trời nóng…
c) Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất
biến và yếu tố khả biến.
d) Chi phí cơ hội:
Ngoài ra đối với các nhà kinh tế, một trong những chi phí quan trọng nhất là
chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là: mọi đầu vào hay yếu tố sản xuất
đều có một cách sử dụng thay thế ngay cả khi nó không được sử dụng. Khi một
đầu vào được sử dụng cho mục đích cụ thể đó, thì nó không thể sẵn sàng để sử
dụng cho bất kỳ phương án nào khác và thu nhập từ phương án thay thế này sẽ bị
mất đi. Chi phí cơ hội có thể được định nghĩa theo hai cách:
Thứ nhất: chi phí cơ hội là giá trị của sản phẩm không được sản xuất vì một
đầu vào đã được sử dụng cho một mục đích khác.
Thứ hai: chi phí cơ hội là thu nhập sẽ nhận được nếu nguồn lực đầu vào này
được sử dụng cho phương án khác và đem lại lợi nhuận cao nhất.
2.1.1.4 Thu nhập
Hầu hết nông hộ dành phần lớn thời gian của hộ vào các hoạt động sản xuất
nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi nên thu nhập của họ cũng xuất phát từ các
+ Chi phí = chi phí cố định + chi phí lao động + chi phí biến đổi khác
Trong đó:
• Chi phí cố định = chi phí chuồng trại + chi phí trang thiết bị + chi phí dụng
cụ chăn nuôi + chi phí cố định khác.
• Chi phí biến đổi = chi phí thức ăn + chi phí thuốc thú y + chi phí điện +chi
phí nước + các loại chi phí biến đổi khác
• Chi phí lao động = (số lao động nhà + số lao động thuê) x công nhật
+ Doanh thu/ chi phí đo lường tổng số tiền thu được khi bỏ ra 1 đồng chi phí
đầu tư.
+ Lợi nhuận/ chi phí đo lường lợi nhuận của hộ thu được khi bỏ ra 1 đồng
chi phí đầu tư.
+ Lợi nhuận/ doanh thu đo lường trong 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
2.1.2 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí
10
Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp để đánh giá sự mong muốn
tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường
bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội.
Phương pháp này tìm sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từ
một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt
được lợi ích đó. Theo cách này đây là phương pháp ước lượng sự đánh đổi thực
giữa các phương án, và nhờ đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn ưu tiên
kinh tế của mình.
Phân tích lợi ích - chi phí là một khuôn khổ nhằm tổ chức thông tin, liệt kê
những thuận lợi và bất lợi của từng phương án, xác định các giá trị kinh tế có liên
quan, và xếp hạng các phương án dựa vào các tiêu chí giá trị kinh tế. Vì thế phân
tích lợi ích - chi phí là một phương thức để thực hiện sự lựa chọn chứ không chỉ là
một phương pháp để đánh giá sự ưa thích.
2.1.3 Phương pháp phân tích hồi quy nhiều chiều
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh
Multiple R: hệ số tương quan bội (Multiple Corrlation Corfficient) nói lên
tính liên hệ chặt chẽ của mối liên hệ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập X
i
,
R càng lớn mối liên hệ càng chặt chẽ. ( -1 ≤ R ≤ 1)
Hệ số xác định đã điều chỉnh R
2
(Adjusted Corfficient of Determination),
đây là một chỉ số quan trọng để chúng ta nên thêm một biến độc lập mới vào
phương trình hồi quy hay không.
Giá trị Significance F, giá trị này cho ta kết luận ngay mô hình hồi quy có ý
nghĩa khi nó nhỏ hơn mức ý nghĩa α nào đó, và giá trị Significance F cũng là cơ sở
11
để quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H
0
trong kiểm định bao quát các
tham số của mô hình hồi quy. Nói chung F càng lớn, khả năng bác bỏ giả thuyết
H
0
càng cao - giả thuyết H
0
cho rằng tất cả các tham số hồi quy đều bằng 0, nghĩa
là các biến độc lập (X
i
) không liên quan tuyến tính tới biến phụ thuộc Y.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Chăn nuôi là một trong hai ngành nông nghiệp phát triển nhất của nền nông
nghiệp Việt Nam. Nó góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng chung của ngành
nông nghiệp. Trong đó chăn nuôi gia cầm là một trong những ngành quan trọng,
ĐỢT DỊCH GÀ VỊT CÚT, BỒ CÂU
I (29/12/2003 – 30/03/2004) 1.025.424 466.374 175.610
II (01/04/2004 – 10/11/2004) 7.860 2.650 0
III (29/12/2004 – 06/02/2005) 77.556 15.418 51.850
Nguồn: Cục thống kê Tiền Giang
Qua đó có thể thấy tại Tiền Giang số lượng gia cầm bị thiệt hại trong 3 đợt
dịch cúm là rất lớn, trong đó thiệt hại nhiều nhất đó là gà bao gồm cả gà công
nghiệp, bán công nghiệp, thả vườn. Nếu xét về giá trị kinh tế, dịch cúm gia cầm đã
ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế hộ và cả nền kinh tế của tỉnh Tiền Giang. Chỉ tính
riêng đợt dịch cúm gia cầm đầu tiên Tiền Giang đã bị thiệt hại kinh tế khoảng 329
tỷ đồng.
Sau các đợt dịch này, tổng đàn gia cầm của Tiền Giang biến động rõ rệt; nếu
năm 2003, toàn tỉnh có 5.801.000 con gia cầm thì năm 2005, con số này chỉ còn lại
2.915.225 con, giảm 49,75% (số liệu của Cục Thống kê Tiền Giang); trong đó, hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỉ lệ cao (64,61%). Điều này làm ảnh hưởng kinh tế đời
sống của nhân dân trong huyện. Đặc biệt nghề nuôi gà công nghiệp lấy trứng là
một trong những nghề phát triển tại Châu Thành tuy số lượng con thấp hơn các
huyện khác trong tỉnh như Chợ Gạo. Nhưng từ việc nghiên cứu ở một huyện có số
lượng không thuộc vào hạng nhiều nhất trong tỉnh để có thể thấy được thiệt hại
của hộ nuôi của huyện để từ đó có cái nhìn khái quát hơn về tác động của dịch
cúm gia cầm đến hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông hộ khi
dịch cúm gia cầm xảy ra trước đây cũng như hiện tại.
Chính vì lẽ đó trong luận văn tốt nghiệp của mình tôi quyết định chọn địa
bàn huyện Châu Thành làm vùng nghiên cứu để thực hiện đề tài của mình.
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ chăn nuôi
gà công nghiệp lấy trứng tại các xã trong huyện Châu Thành. Những số liệu được
thu thập ít nhất trong 3 năm từ năm 2004-2006.
Để đảm bảo mẫu phỏng vấn mang tính phân tầng và đại diện tôi tiến hành
Mục tiêu 1: Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện Châu
Thành – tỉnh Tiền Giang cùng những thiệt hại trong chăn nuôi khi dịch cúm gia
cầm xảy ra.
Sử dụng số liệu thứ cấp và Phương pháp thống kê mô tả.
14
Mục tiêu 2: Phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng của nông
hộ trước và sau khi dịch cúm xảy ra.
Phân tích chi phí – lợi ích.
Mục tiêu 3: Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ và hiệu quả sử dụng vốn
trong chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng. Qua đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến việc tái đàn.
Phân tích nhân tố.
Phân tích hồi quy tương quan nhiều chiều.
Phân tích hàm thu nhập.
Mục tiêu 4: Đề xuất giải pháp nhằm phát triển đàn gà trong tương lai, mang
lại hiệu quả chăn nuôi cho người chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng.
Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT.
Tất cả số liệu trong luận văn được nhập vào từ phần mềm Excel và xử lý
trên phần mềm SPSS và Excel
15
Chương 3
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HỘ NUÔI
GÀ CÔNG NGHIỆP LẤY TRỨNG TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH -
TỈNH TIỀN GIANG
3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Châu Thành là cửa ngõ tỉnh Tiền Giang đi Thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh miền Tây Nam Bộ theo hướng Quốc lộ 1, đồng thời có ĐT864 và tuyến
sông Tuyền nối kết các huyện trong tỉnh với Thành phố Mỹ Tho trung tâm kinh tế
- văn hóa chính trị của tỉnh.
Độ ẩm không khí trung bình 82,5% và thay đổi theo mùa. Mùa mưa ẩm độ
cao và cao nhất vào tháng 9 (86,8%). Mùa khô ẩm độ thấp (tháng 3 còn 71%).
d) Mưa
Lượng mưa biến thiên từ 1.400 - 2.200, tập trung từ tháng 5 đến tháng 11
dương lịch.
e) Gió
Có 2 mùa gió chính: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc.
f) Thủy văn
Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ biển đông qua 2
con sông chính là sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây.
g) Địa hình
Huyện Châu Thành có địa hình tương đối phức tạp, thấp dần theo hướng
Nam Bắc và Đông Tây xen kẽ những giồng cát gò cao và những vùng trũng, gồm
có 3 dạng chính sau: địa hình cao, địa hình trung bình, địa hình thấp.
h) Địa chất - thổ nhưỡng
Địa bàn hyện có các nhóm đất sau: nhóm đất phù sa phát triển trên trầm tích
sông biển, nhóm đất phèn, đất cát biển đã phân hóa phẩu diện.
3.1.3 Dân số lao động
Huyện Châu Thành có tổng dân số là 256.072 người, trong đó số người trong
độ tuổi lao động là 160.665 người với 158.362 người có khả năng lao động. Ngoài
ra cũng có một đội ngũ ngoài tuổi lao động gồm những người trên và dưới tuổi lao
động nhưng thực tế có tham gia lao động là 7.551 người.
Về vấn đề phân phối nguồn lao động, hiện tại huyện Châu Thành có số người
lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 137.580. Huyện hiện có số
người trong độ tuổi có khả năng lao động đang đi học là 12.192 người. Tuy nhiên
hiện tại huyện cũng có 3.135 người trong độ tuổi lao động hiện không có việc làm
và 925 người có trong độ tuổi có khả năng lao động những không làm việc, 925
người trong độ tuổi có khả năng lao động đang làm nội trợ.
17
Thực trạng dân số và lao động hiện nay tại Châu Thành đa phần dân số hoạt
18
Năm 2006 đàn gia cầm của toàn tỉnh là 4.807.389 con trong đó gà là
2.414.938 con, riêng huyện Châu Thành có 609.055 con gia cầm với số gà là
452.222 con.
Tính đến cuối năm 2006, trên toàn tỉnh Tiền Giang ngành chăn nuôi chiếm
20,2% tăng 1,6% so năm 2005 trong cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp (theo giá
trị sản xuất, giá hiện hành).
Trong cơ cấu ngành chăn nuôi gia cầm chiếm 24,37% tăng 13% so năm
2005. Theo kết quả điều tra thống kê của Cục Thống kê thời điểm 01/08/2006 đàn
gia cầm toàn tỉnh hiện có: 4.807.389 con, tăng 729.049 con so năm 2005.
Trong năm 2007 tỉnh Tiền Giang phấn đấu toàn tỉnh có 4.815.900 con, riêng
huyện Châu Thành là 610.300 con.
3.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng tại huyện
Châu Thành tỉnh Tiền Giang trước và sau cúm gia cầm xảy ra
3.2.1 Tình hình chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng trước khi dịch cúm gia
cầm xảy ra
Cùng với cả nước ở huyện Châu Thành của tỉnh Tiền Giang đã xuất hiện
dịch cúm trên đàn gia cầm đầu tiên vào cuối năm 2003. Trước thời gian này nghề
nuôi gà công nghiệp lấy trứng là một trong những nghề phổ biến tại các xã trong
huyện do hiệu quả kinh tế của nó mang lại cao hơn rất nhiều so với các hoạt động
khác như làm ruộng, trồng hoa màu hay chăn nuôi heo… Nhiều gia đình đổ xô đầu
tư nguồn vốn tích lũy vào chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng, nhiều hộ khác thấy
hiệu quả của những người thân quen nên cũng bắt đầu nuôi gà này bằng nguồn
vốn tự có hoặc từ nguồn vốn vay ngân hàng để cải thiện kinh tế gia đình hiện tại.
Từ hoạt động này kinh tế gia đình khá lên nhanh chóng, đời sống người dân
được cải thiện rõ rệt. Do đó các hộ chăn nuôi không ngừng mở rộng quy mô chăn
nuôi sau mỗi lứa nuôi. Ban đầu nuôi nhỏ từ 200 đến 500 con, sau mỗi lứa nuôi đạt
hiệu quả kinh tế cao cũng như do hoạt động chăn nuôi gà công nghiệp đang rất
phổ biến, vì thế giá trứng giảm đi rõ rệt trong khi chi phí thức ăn, thuốc thú y lại
tăng lên rất nhiều đòi hỏi người chăn nuôi cần phải mở rộng quy mô nuôi. Tại lứa
Về quy mô chăn nuôi hiện nay của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ban
hành quyết định số 27/2006/QĐ – UBND về việc quản lý hoạt động chăn nuôi,
giết mổ, mua bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, sản phẩm động vật và
ấp trứng gia cầm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Cơ sở chăn nuôi gồm chăn nuôi tập trung qui mô lớn, chăn nuôi tập trung qui
mô vừa, chăn nuôi qui mô nhỏ, chăn nuôi hộ gia đình và điểm trung chuyển động
vật, cụ thể với gia cầm như sau:
20
+ Chăn nuôi tập trung qui mô lớn: thường xuyên có số gia cầm từ 10.000 con
trở lên.
+ Chăn nuôi tập trung qui mô vừa: thường xuyên có số gia cầm từ 2.000 con
đến dưới 10.000 con.
+ Chăn nuôi tập trung qui mô nhỏ: thường xuyên có số lượng gia cầm từ 200
con đến dưới 2.000 con.
+ Chăn nuôi hộ gia đình có số lượng gia cầm nhỏ hớn số lượng chăn nuôi qui
mô nhỏ.
Trong bài nghiên cứu này, tôi chỉ phân tích hiệu quả chăn nuôi ở hộ chăn
nuôi tập trung công nghiệp dạng qui mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó hộ nuôi qui mô
lớn chiếm tỉ lệ 8%, hộ nuôi qui mô vừa chiếm 52%, hộ nuôi qui mô nhỏ chiếm
40%. Qua 25 hộ phỏng vấn ngẫu nhiên có số lượng nuôi như sau:
Bảng 4: Số lượng gà nuôi của những hộ hiện đang nuôi
QUY MÔ NUÔI SỐ HỘ NUÔI (HỘ) GHI CHÚ
Nhỏ 10 2/10 hộ nuôi mới.
Vừa 13 Tái đàn.
Lớn 2 Tái đàn.
Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện ChâuThành
Có 23/50 hộ tái đàn sau cúm chiếm tỉ lệ 46% trong tổng số hộ nuôi trước
cúm với số lượng gà nuôi giảm đi rõ rệt. Qua đó có thể thấy số lượng gà công
nghiệp lấy trứng của của huyện Châu Thành giảm đi đáng kể sau khi dịch cúm xảy
ra và gây thiệt hại cho hộ nuôi trong huyện. Trong đó có 2 hộ mới bắt đầu nuôi sau
Số năm kinh nghiệm năm 1 18,5 7,30
Tuổi tuổi 33 70 48,64
Diện tích đất nông nghiệp công 0 14,5 4,21
Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện Châu Thành
Các hộ chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng có hộ không làm nông nghiệp vì
họ không có diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhưng cũng có hộ có diện tích đất
sản xuất nông nghiệp khá khoảng 14,5 công (1 công = 1000m
2
). Như vậy trung
bình mỗi hộ có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 4,21 công, có thể thấy
rằng ngoài chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng đa phần các hộ đều có sản xuất
nông nghiệp, tuy nhiên do hạn chế về diện tích đất canh tác nên nông hộ huyện
Châu Thành luôn cố gắng tìm một nghề phụ để cải thiện kinh tế gia đình. Đây là
một trong những lý do để nghề nuôi gà công nghiệp đã và đang phát triển tại
huyện Châu Thành.
Các chủ hộ nuôi gà công nghiệp có người còn rất trẻ 33 tuổi và lớn nhất là 70
tuổi, nếu tính trung bình những người nuôi gà khoảng độ tuổi 48,64 tuổi, đây là
những người trong độ tuổi trung bình, có khả năng sản xuất nông nghiệp rất tốt do
đã có quá trình tích luỹ kinh nghiệm. Trong đó hộ có số nhân khẩu ít nhất là 2
người, nhiều nhất là 10 người, trung bình mỗi hộ có khoảng 4,31 người. Như vậy
trung bình các gia đình ở các hộ điều tra có số nhân khẩu khá ít. Trong đó số người
có đi làm nhận tiền lương tiền công trung bình trong các hộ khoảng 0,54 người, số
người tham gia sản xuất nông nghiệp trung bình khoảng 2,12 người và số người
tham gia ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ cho gia đình khoảng 0,2 người.
Như vậy ngoài lao động nông nghiệp, trong các hộ cũng có một bộ phận thành
phần tham gia các hoạt động khác trong xã hội.
22
Về kinh nghiệm chăn nuôi, các hộ đã học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi từ
những người đã và đang chăn nuôi gà công nghiệp, trong đó có hộ mới nuôi sau
cúm nên kinh nghiệm chỉ có 1 năm. Tuy nhiên cũng có hộ đã nuôi gà công nghiệp
công nghiệp lấy trứng sản phẩm chính là trứng nên người chăn nuôi rất chú trọng
đến con giống trong chăn nuôi. Đó là những con giống đảm bảo yêu cầu đặt ra như
sạch bệnh, cho trứng say, phù hợp điều kiện thời tiết tại địa phương. Trước tình
hình dịch bệnh phát triển mạnh mẽ trong thời gian quan làm thiệt hại đến lợi ích
người chăn nuôi hiện nay 100% hộ nuôi gà công nghiệp đều quan tâm đến con
giống sạch bệnh. Do đó tất cả hộ chăn nuôi đều mua con giống đều mua con giống
từ các trại giống, đa phần nông hộ trong huyện mua con giống từ trại giống của
công ty C.P.Việt Nam (thuộc tập đoàn Charoen Pokphand của Thái Lan). Hộ nuôi
qui mô nhỏ và vừa thông qua các đại lý thức ăn đặt con giống, sau đó các đại lý
này liên hệ với trại giống để đặt con giống trong vòng khoảng 0,5 tháng để cung
cấp con giống cho người chăn nuôi còn hộ nuôi qui mô lớn thường đặt con giống
trực tiếp từ trại giống. Người chăn nuôi có thể mua con giống hậu bị hoặc con
giống từ lúc gà vài ngày tuổi tùy theo điều kiện nguồn lực cơ sở chăn nuôi của
nông hộ. Nông hộ huyện Châu Thành nuôi các giống gà sau:
24
Bảng 7: Giống gà nuôi
TRƯỚC CÚM SAU CÚM
Số hộ
nuôi
% so với tổng
hộ nuôi
Số hộ
nuôi
% so với
tổng hộ nuôi
Isabrowm 25 10 24 96
Tam Hoàng 0 0 1 4
Nguồn: Điều tra trực tiếp năm 2007 tại huyện ChâuThành
Đây là những giống nuôi khi hộ nuôi mà theo hộ chăn nuôi hiện nay đánh giá
có những phẩm chất chung sau: ít bệnh, dễ nuôi, cho trứng say, trứng dễ bán, năng
GIÁ HIỆN NAY
(đồng)
TỈ LỆ TĂNG GIÁ
(%)
25