Luận văn TỔNG KẾT VÀ THEO DÕI MÔ HÌNH TRỒNG BẮP KẾT HỢP CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG NĂM 2004 part 5 - Pdf 19

sản phẩm được công ty tiêu thụ với giá hợp đồng trước (3.200 đồng/kg) và
cung cấp ngược lại cho nông dân (giống F1).
•Đất đai và địa hình: Là xã Cù Lao nên đa số đất nông nghiệp ở Bình
Thạnh thuộc loại đất cát pha thịt, đất thịt và đất phù sa rất thích hợp để
trồng màu, riêng cây bắp đây là loại đất rất phù hợp với đặc điểm sinh
dưỡng và sinh thái của nó (Dương Minh, 1999).
•Nguồn nước tưới: Xã đã có nhiều biện pháp đầu tư và quan tâm đến
công tác thủy lợi, giúp người dân phục vụ sản xuất nông nghiệp. Mặt khác,
do Bình Thạnh có vị trí giáp với Sông Hậu và hệ thống kênh mương chạy
xung quanh địa bàn xã (Báo cáo xã, năm 2004), nên đảm bảo được nước
tưới quanh năm.
•Khí hậu và thời tiết: Theo báo cáo về “các hoạt động ngành nông nghiệp
của huyện Châu Thành”, thời tiết và khí hậu năm 2004 là tương đối thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp. Do đó, quá trình sản xuất màu của nông hộ
được duy trì và gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
•Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Do Bình Thạnh có vị trí ở gần các thị
trấn và thành phố lớn như thị trấn An Châu và thành phố Long Xuyên, nên
tiềm năng tiêu thụ các sản phẩm lớn. Mặt khác, đối với cây màu như bắp
lai, dưa hấu, đậu bắp…Công ty cổ phần BVTV An giang là nơi chịu trách
nhiệm cung cấp giống và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Do đó, thị
trường tiêu thụ sản phẩm của nông hộ ở đây tương đối ổn định và thuận lợi
đối với sự phát triển của mô hình màu kết hợp chăn nuôi bò.
•Khoa học kỹ thuật: Kết quả điều tra cho thấy có một số chi hội nông dân
sản xuất được thành lập tại địa bàn như hội nông dân chăn nuôi bò sữa và
bò thịt, hội nông dân sản xuất bắp lai, Ngoài ra, số lượng nông dân tham
gia vào các tổ chức này cũng tương đối cao (35%). Do đó, đây là điều kiện
tốt để nông dân trong vùng có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất
màu và chăn nuôi bò.
4.4.2 Chăn nuôi bò
Kết quả điều tra và tình hình thực hiện các chương trình phát triển
nông thôn của huyện Châu Thành năm 2004, kế hoạch sản xuất năm 2005 cho

của địa phương phát triển.
32
•Phương pháp chăn nuôi: Theo cách nuôi nhốt hoàn toàn trên chuồng sàn
bằng gỗ hoặc chuồng trệt lót đan ximăng hoặc đổ nền bê tông lợp lá hoặc
tole tùy theo điều kiện kinh tế hộ. Diện tích chuồng mới chỉ chiếm khoảng
15–20m
2
(tùy thuộc vào số lượng đàn bò) nằm trên đất thổ cư. Phân bò
được đa số hộ nuôi gom và sử dụng lại cho hoa màu (80%).
Với những thuận lợi trên, đã thúc đẩy nghề chăn nuôi bò và kinh tế
nông hộ ngày một phát triển. Đồng thời, tạo tiền đề cho sự tồn tại và mở rộng
mô hình canh tác tổng hợp màu kết hợp chăn nuôi bò trong thời gian tới.
a. Những khó khăn khi mở rộng/phát triển mô hình
Hai thành phần sản xuất của mô hình là trồng trọt và chăn nuôi, chúng
tạo ra lợi nhuận và góp phần vào khả năng phát triển của mô hình. Tuy nhiên,
sự phát triển của mô hình – xét theo ý nghĩa mở rộng tối đa các thành phần sản
xuất trong mô hình – sẽ bị giới hạn bởi sự giới hạn của nguồn lực sẵn có của
nông hộ như đất đai, công lao động, và khả năng quản lý,
Ngoài ra, sự thiếu thông tin về thị trường cũng làm giới hạn sự phát
triển của mô hình. Những thông tin về thị trường từ tivi (6,7%), radio (3,3%)
hay từ lãnh đạo địa phương (6,7%) còn hạn chế, nên có thể gây khó khăn trong
vấn đề lựa chọn cây trồng vật nuôi phù hợp nhu cầu thị trường, sản phẩm bán
được giá mà không ảnh hưởng đến các thành phần sản xuất trong mô hình.
Giống năng suất, chất lượng cao nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất
hiện tại và hướng xuất khẩu là chưa được đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng được một
phần nên lợi nhuận chưa cao. Ví dụ như: giống bò mà nông dân sử dụng để
nuôi vỗ béo đa số là các giống bò trôi nổi không rõ nguồn gốc (56,7%) chủ
yếu từ Cambodia, nên khó khăn trong việc xác định năng suất, thời gian
nuôi,…cũng như hiệu quả kinh tế của nó.
Mặt khác, sử dụng nông dược không đúng cách cũng là tác nhân gây

2
đất trồng bắp nông hộ tận dụng
được từ 1500 – 1800kg thân bắp, một con bò có thể sử dụng trong khoảng thời
gian từ 50 - 60 ngày (30 – 35 kg/ngày) và tiết kiệm được một khoản tiền đầu
tư cho chăn nuôi từ 250.000 – 500.000 đồng/con (trong 10 tháng nuôi).
Số lượng phân bò được sử dụng trung bình khoảng 7,5 tấn/ha để bón
trở lại cho cây màu, ngoài việc giúp trả lại dinh dưỡng cho cây trồng nông hộ
còn giảm được chi phí phân bón N.P.K hàng năm từ 400.000- 500.000
đồng/ha (Bảng 10). Ngoài ra, phân bò có giá rẻ (100 - 150 đồng/kg) hơn so
với phân N.P.K (4000- 4500 đồng/kg) nên có thể giảm được chi phí đầu tư cho
sản xuất nông nghiệp.
34
Bảng 10. Số lượng và chất lượng phân gia súc
Phân Trâu, Bò Phân lợn
Tỷ lệ N.P.K (%) 1,662 2,452
Số lượng phân kg/con/ngày) 20 5
Tổng N.P.K (kg/năm) 116 44
Nguồn: Nguyễn Tiến Vởn.1991.
Tóm lại, với khả năng tận dùng nguồn phụ phế phẩm của cây màu và
chăn nuôi bò cho thấy, để mở rộng mô hình cần tăng số lượng bò và tăng lợi
nhuận cho mô hình, nhất là khi nguồn phụ phế phẩm của trồng trọt vẫn còn
tiềm năng phát triển để cung cấp cho con bò.
35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
- Mô hình màu kết hợp chăn nuôi bò tại xã Bình Thạnh, huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế khả quan
cho nông hộ. Đặc biệt là cây bắp lai vừa cho giá trị kinh tế từ các sản
phẩm chính vừa được dùng để chăn nuôi bò gia tăng lợi nhuận cho
nông hộ. Tuy nhiên, lợi nhuận từ chăn nuôi bò chưa cao do chủ yếu là

NXB, TP. Hồ Chí Minh.
Dương Ngọc Thành. 2004. Tổng kết và phát triển mô hình sản xuất nông thủy
sản trong mùa nước nổi để tăng thu nhập cho người dân ở An Giang.
Viện nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác, Đại Học Cần Thơ.
Dương Văn Nhã. 2003. Tài liệu giảng dạy nông nghiệp bền vững. Khoa nông
nghiệp tài nguyên thiên nhiên. Đại Học An Giang.
Dương Văn Nhã. 2004. Nghiên cứu tác động đê bao đến đời sống kinh tế xã
hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh An Giang.
Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan (VNRP, An Giang 2001
– 2003).
Đoàn Hữu Lực. 2004. Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn cung cấp đạm đối với
sức sản xuất của bò lai Sind nuôi thịt tại tỉnh An giang. Tỉnh An Giang
Lê Bá Lịch. 2003. Định hướng sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam. Đặc san
khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi - số1_2003. Đọc từ:
nChanNuoi\sach_ta.
Niên giám thống kê. 2003. Tỉnh An Giang.
Nguyễn Quốc Đạt. 1999. Nuôi Bò Sữa. NXB nông nghiệp, TPHCM.
38
Nguyễn Tiến Vởn. 1991. Ngành chăn nuôi trong hệ thống sản xuất nông
nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu hệ thống canh tác. Trung tâm
nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác ĐBSCL. Đại Học Cần Thơ.
Nguyễn Trần Nhẫn Tánh. 2003. Quản lý môi trường tài nguyên thiên nhiên và
vật liệu. Khoa Kỹ Thuật - Công Nghệ Môi Trường, Đại Học An
Giang.
Preston, T.R and Ogle. R.B, 2003. Hội thảo khoa học về chăn nuôi bền vững
dựa trên nguồn thức ăn địa phương. Huế, Việt Nam. 25- 27 tháng 3
năm 2003. Trang 7 – 13.
Trương Mạnh Tiến. 2000. 200 câu hỏi/đáp về môi trường. Bộ khoa học, công
nghệ và môi trường, cục môi trường. NXB, Hà Nội.
Vô Danh. 2001. Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status