Phát triển doanh nghiệp bán lẻ Việt nam trong điều kiện cạnh tranh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o---------

CÔNG TRÌNH THAM DỰ CUỘC THI Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2010

Tên công trình: PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT
NAM TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP
Thuộc nhóm ngành: XH1b
Họ và tên sinh viên: Ngô Hoàng Quỳnh Anh. Nam/nữ: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: Anh 16 Khoá: 47 Khoa: Kinh tế và kinh doanh quốc tế Năm thứ : 2/4
Ngành học : KTĐN

Họ và tên sinh viên: Thái Ngọc Anh Nam/nữ: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: Anh 16 Khoá: 47 Khoa: Kinh tế và kinh doanh quốc tế Năm thứ : 2/4
Ngành học : TMQT

thế nữa, các nhà bán lẻ nước ngoài đều đã và đang rất thành công trong việc
chinh phục thị trường bán lẻ nước ta. Điều đó đã tạo ra sức ép cạnh tranh rất
lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại. Nhất là khi đã số nhà bán lẻ nội địa
chỉ có quy mô nhỏ, và rất nhỏ, chỉ một số ít có khả năng cạnh tranh với doanh
http://svnckh.com.vn
3

nghiệp ngoại như Sài Gòn Co.op Mart, Phú Thái, Hapro, Sài Gòn Nguyễn Kim,
Trần Anh ... nhưng vẫn ở thế yếu hơn.
Một ngành dịch vụ có tầm quan trọng như vậy đối với nền kinh tế quốc
gia mà lại có nguy cơ rơi vào tai của các doanh nghiệp nước ngoài, đó là điều
mà không ai mong muốn. Làm sao để các doanh nghiệp nội có thể đủ sức cạnh
tranh với doanh nghiệp ngoại, làm sao để thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ do
doanh nghiệp Việt Nam chiếm lĩnh? Đó là một câu hỏi đã và đang làm nhức
nhối nhiều nhà kinh tế nước ta. Nhận biết được tình hình đó, nhóm chúng tôi đã
quyết định lấy đề tài "Phát triển doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong điều kiện
cạnh tranh và hội nhập" làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn, cùng với đó năng lực
nghiên cứu còn nhiều yếu kém, bài nghiên cứu của chúng tôi khó tránh khỏi
những sai sót cả về hình thức lẫn nội dung. Bởi vậy rất mong nhận được sự
thông cảm và các ý kiến đóng góp và giúp đỡ của mọi người, để chúng tôi có
thể tiếp tục hoàn thiện hơn nữa mong muốn góp sức cho doanh nghiệp bán lẻ
nội địa Việt Nam trong thời hội nhập.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sau hơn 6 tháng tìm hiểu và nghiên cứu, nhóm đã nắm được khá rõ
những đặc điểm của thị trường bán lẻ cũng như thực trạng của các doanh
nghiệp bán lẻ ở Việt Nam. Từ đó, nhóm đã tiếp tục nghiên cứu những hướng đi
cần thiết cho các nhà bán lẻ nội địa và đề ra các giải pháp cụ thể để giúp các
doanh nghiệp đạt được các mục tiêu, hướng đi đó. Tuy nhiên, do thời gian có
hạn, nhóm không thể kịp hoàn thiện mọi giải pháp đã nghiên cứu, cho nên


http://svnckh.com.vn
5 CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ BÁN LẺ VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ NỘI ĐỊA

1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
1.1 Thị trƣờng bán lẻ Việt Nam là một môi trƣờng đầy tiềm năng
Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa thị trường, nền kinh tế
đã từng bước tăng trưởng và phát triển. Sản xuất phát triển, thu nhập của người
dân ngày một tăng, nhu cầu tiêu dùng cũng vì thế trở nên đa dạng. Hàng hóa trên
thị trường luôn được thay đổi phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Lĩnh vực
phân phối bán lẻ của Việt Nam cũng đang trên đà tăng trưởng mạnh. Trong vòng
10 năm từ 1996 tới 2006, doanh thu bán lẻ đã tăng 3 lần, đạt 36.3 tỷ USD vào
năm 2006. Tốc độ tăng trưởng trong những năm qua cũng khá cao, từ năm 2002
đến nay luôn đạt trên 10%/năm:
Biều đồ 1: Doanh thu và tốc độ tăng trƣởng trong lĩnh vực phân phối bán lẻ
http://svnckh.com.vn
6

0
5
10
15

“Năm 2010 là năm có rất nhiều triển vọng với thị trường bán lẻ Việt Nam,
thể hiện qua việc Việt Nam ngày càng trở thành một điểm kinh doanh hấp dẫn
tại châu Á với tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững và nhu cầu tiêu dùng ổn định
trong thời gian dài”. Đây là khẳng định của Tiến sỹ Matthias Duehn – Giám đốc
http://svnckh.com.vn
7

EuroCham Hà Nội. Thật vậy, sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam ngày
càng tăng nhanh trong những năm gần đây. Theo xếp hạng của Công ty tư vấn
Mỹ A.T.Kearney về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu GRDI, Việt
Nam đang là một trong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới.
Bảng 1: Bảng tổng hợp xếp hạng chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu của
Việt Nam giai đoạn 2004-2009
Năm Tổng điểm Xếp hạng
2004 76 7
2005 79 8
2006 84 3
2007 74 4
2008 88 1
2009 55 6
Nguồn: A.T.Kearney, Windows of Hope for Global Retailers, 2009
Không những thế, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng ở
mức cao kỷ lục là 118 điểm và đứng thứ 5 thế giới, trong khi mức trung bình của
thế giới chỉ là 97 điểm. Kết quả nghiên cứu của Công ty Điều tra thị trường
Cimigo mới đây cho biết, trong khoảng vài tháng đầu năm 2010, chỉ số niềm tin
của người tiêu dùng Việt Nam tăng khoảng 15% so với thời điểm trước đó. Khi
niềm tin của người tiêu dùng tăng thì mức tiêu dùng trong nước sẽ tăng theo, và
thị trường bán lẻ sẽ sôi động và hứa hẹn những khởi sắc.
Sở dĩ có những kết quả ấn tượng như vậy là vì Việt Nam có mức tăng
trưởng GDP cao và ổn định trong nhiều năm liên tiếp. Thực tế là Việt Nam là đất

Thương mại Việt – Mỹ (BTA), với Nhật Bản trong Hiệp định Bảo hộ và Xúc
tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, cùng một số dự án thí điểm, thử nghiệm trong
http://svnckh.com.vn
9

khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương. Cam kết của Việt Nam khi đàm
phán gia nhập WTO cuối năm 2006 đối với dịch vụ phân phối, trong đó có hoạt
động bán lẻ là một bước tiến lớn để chúng ta hội nhập sâu rộng hơn nữa thị
trường thương mại quốc tế, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư vào thị trường đầy
tiềm năng của chúng ta cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài. [20]
1.2.1.1 Cam kết mở cửa dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam với WTO
Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO được xây dựng theo Hiệp định
Thương mại Việt – Mỹ (BTA). Trong thỏa thuận, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành
và 110 phân ngành dịch vụ. Đối với dịch vụ phân phối, cam kết cụ thể như sau:
[1]
Về hình thức hiện diện:
Kể từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (ngày 11/01/2007) đến trước
ngày 01/01/2008, Việt Nam cam kết cho phép các nhà phân phối nước ngoài
được liên doanh với đối tác Việt Nam nhưng tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài
không được vượt quá 49%.
Từ 01/01/2009, doanh nghiệp phân phối nước ngoài được thành lập doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, riêng ngành dịch vụ phân phối bán lẻ, Việt Nam đưa ra hạn chế
khá chặt chẽ về việc mở thêm điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài thông qua kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT - Economic Needs Test). Việc
xem xét mở cửa điểm bán lẻ ngoài điểm bán lẻ thứ nhất phải tuân theo một quy
trình xét duyệt và cấp phép công khai dựa trên các tiêu chí khách quan như: số
lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn
định của thị trường và mật độ dân cư, sự phù hợp với quy hoạch.
Về mức độ mở cửa thị trường

11

dùng, và là động lực các cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vươn lên cạnh tranh
với các doanh nghiệp nước ngoài.
1.2.1.2 Sự thâm nhập của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài vào thị trường
bán lẻ Việt Nam
Nhà cung cấp dịch vụ phân phối nước ngoài đầu tiên bước chân vào thị
trường bán lẻ Việt Nam là Cora (sau đó bán cho thương hiệu Big C của tập đoàn
Casino Pháp) với trung tâm phân phối tại Đồng Nai năm 1998. Đến nay, Big C
đã có 10 trung tâm tại 4 thành phố lớn của Việt Nam. Tiếp bước là Metro với mô
hình Cash & Carry (khách hàng trả bằng tiền mặt và tự vận chuyển) nổi tiếng.
Ngày 28/2/2002, Metro Bình Phú tại thành phố Hồ Chí Minh khai trương. Cho
đến nay, Metro đã có đến 8 trung tâm tại 5 thành phố lớn. Parkson của tập đoàn
Lion, Malaysia cũng gia nhập vào năm 2004 với Parkson Saigon Tourist Plaza ở
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 lần lượt thêm 2 trung tâm nữa ở Hải Phòng
và thành phố Hồ Chí Minh và năm 2008 với Parkson Việt Tower (Hà Nội).
Ngoài ra, còn rất nhiều đại gia bán lẻ khác của nước ngoài như Zen Plaza, Best
Denki của Nhật Bản, Diamond Plaza của Hàn Quốc... cũng tham gia vào thị
trường bán lẻ cao cấp. Mới đây nhất, ngày 01/07/2010, Lotte Mart - công ty con
của tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) cũng đã chính thức công bố khai trương Trung
tâm thương mại Lotte thứ 2 tại Việt Nam, tại đường Lê Đại Hành, thành phố Hồ
Chí Minh. Như vậy, có thể thấy rằng các nhà bán lẻ nước ngoài đều bước đầu rất
thành công khi họ đặt chân vào thị trường bán lẻ Việt Nam. [30]
1.2.2 Thời gian ngắn cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa trước sự đổ bộ của
các đại gia bán lẻ thế giới
Sau hơn một năm mở cửa hoàn toàn cho các doanh nghiệp bán lẻ 100%
vốn nước ngoài, đến thời điểm này các tập đoàn bán lẻ quốc tế đã không “ồ ạt”
xâm nhập thị trường Việt Nam như dự đoán. Tính đến hết năm 2006, tức là năm
http://svnckh.com.vn
12

http://svnckh.com.vn
13

3/2009 8.553.450 2 4.276.725
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và đầu tư
* Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
Theo bảng 2, năm 2008 là năm có số vốn đầu tư cũng như số dự án nhiều
nhất sau khi gia nhập WTO. Sở dĩ như vậy là vì 2008 là năm mà một số văn bản
pháp lý của Việt Nam về vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thị trường bán lẻ
tương đối hoàn thiện hơn so với năm đầu tiên gia nhập WTO (2007). Hơn thế, sự
phát triển kinh tế trong những năm trước đó, cộng với tiềm năng phát triển ngành
bán lẻ tại Việt Nam cũng là những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư nước ngoài
quyết định đầu tư nhiều hơn vào thị trường phân phối bán lẻ còn non trẻ của Việt
Nam.
Tuy nhiên, trong 3 tháng đầu năm 2009, sau khi Việt Nam thực hiện cam
kết WTO mở cửa toàn bộ thị trường bán lẻ và không hạn chế tỷ lệ vốn góp đối
với các doanh nghiệp nước ngoài thì số dự án đầu tư cũng như số vốn đầu tư thu
được lại khá nhỏ. Điều này có thể lý giải do tình hình suy thoái kinh tế thế giới
khiến các doanh nghiệp e ngại khi đầu tư vào thị trường mới. Bên cạnh đó, cũng
do tâm lý thăm dò của các nhà đầu tư nước ngoài khi thị trường Việt Nam bắt
đầu mở cửa. Họ xem xét tình hình, nghiên cứu thị trường tiêu dùng và chờ đợi cơ
hội thích hợp nhất để thâm nhập vào thị trường bán lẻ nước ta một cách mạnh
mẽ. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất cản bước các tập đoàn bán lẻ nước
ngoài là do Việt Nam áp dụng công cụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế ENT, một công
cụ đặc biệt để hạn chế tiếp cận thị trường trong khuôn khổ WTO. Theo đó, việc
thành lập các điểm bán lẻ ngoài điểm đầu tiên sẽ được xem xét theo từng trường
hợp cụ thể và cơ quan cấp phép địa phương có quyền từ chối cấp phép nếu cho
rằng chưa cần. Tập đoàn bán lẻ lớn nhất nước Mỹ Wal-mart khẳng định rằng họ
chỉ có thể vào Việt Nam khi chắc chắn có thể mở nhiều hơn một cơ sở phân
http://svnckh.com.vn


đứng vị trí cuối cùng trong chuỗi giá trị hàng hóa từ nhà sản xuất (nhà nhập
khẩu) đến người tiêu dùng. Vì thế, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa với
cơ cấu kinh tế chuyển đổi.
Thứ nhất, dịch vụ phân phối bán lẻ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Các nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tiêu thụ và
truyền bá thông tin về hàng hóa cho nhà sản xuất. Điều này có được do họ tiếp
xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng, am hiểu nhất nhu cầu người tiêu
dùng, đồng thời họ cũng chính là người nắm bắt sát thực nhất những thay đổi
trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng. Bên cạnh đó, nhà bán lẻ có chức năng
thiết lập mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với người mua tiềm ẩn. Các
doanh nghiệp sản xuất có thị phần lớn hay không cũng một phần phụ thuộc vào
nhà bán lẻ. Như vậy, phân phối bán lẻ kích thích sản xuất mở rộng và phát triền.
Thứ hai, phân phối bán lẻ đóng góp vào GDP quốc gia
Theo điều tra của Tổng cục thống kê, ngành công nghiệp bán lẻ đóng
góp trên 15% vào GDP hàng năm. Doanh thu từ phân phối bán lẻ ảnh hưởng lớn
đến tăng trưởng GDP của cả nước. Điển hình là của năm 2009 tình hình bán lẻ
Việt Nam sụt giảm nhiều so với năm 2008, làm cho tăng trưởng GDP 2009 giảm
3,1% so với cùng kì năm 2008, đạt 7,4%. Như vậy, phân phối bán lẻ là một trong
những ngành quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế của cả
nước. [24]
Thứ ba, phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngƣời
lao động
Thống kê từ năm 2000 trở lại đây cho thấy, tỉ trọng lao động trong ngành
dịch vụ phân phối hàng hóa ngày càng gia tăng, từ 10,4% (năm 2000) lên 12%
(năm 2006). Nếu so sánh với ngành nông nghiệp thì đóng góp của dịch vụ phân
http://svnckh.com.vn
16


Huế 3 17 131 151
Thành phố Hồ
Chí Minh
17 52 180 249
Các địa phương
khác
180 808 6.697 7.685
Tổng 219 954 7.322 8.495
Nguồn: Vụ kế hoạch và đầu tư – Bộ công thương
Khối lượng hàng hóa lưu thông qua chợ ở các thành phố lớn chiếm tỷ
trọng khoảng 40-50% tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn. Ở khu vực
nông thông, hàng hóa giao dịch trên chợ chiếm khoảng 60-70%. Lực lượng tham
gia kinh doanh trên các chợ chủ yếu là thương mại tư nhân, thương mại Nhà
nước, Hợp tác xã thương mại và người sản xuất trực tiếp bán hàng. Trong đó,
thành phần thương mại tư nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng.
2.2.1.2 Hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, kinh doanh nhỏ lẻ
Hiện tại ở Việt Nam, ước tính có khoảng 900.000 cửa hàng bán lẻ kinh
doanh theo kiểu hộ cá thể. Hàng hóa kinh doanh của những cửa hàng này thông
thường là những mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân cư. Tuy
nhiên, do khả năng về tài chính cũng như mặt bằng kinh doanh còn hạn chế nên
hầu như các cửa hàng này chỉ cung cấp một số ít hàng hóa có giá trị không cao.
Mặc dù vậy, đây vẫn đang là một trong những kênh phân phối hàng hóa quan
trọng có tỷ lệ tăng trưởng tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam thời gian qua.
2.2.1.3 Hệ thống các chuỗi cửa hàng bán lẻ
Các loại hình cửa hàng bán lẻ, bán buôn tự chọn cũng tăng về số lượng,
quy mô và phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hơn. Mô hình
http://svnckh.com.vn
18

“chuỗi” cửa hàng cũng đã xuất hiện. Ở các đô thị, xu hướng liên kết, sáp nhập,

Trung tâm thương
mại
Tổng số
Hà Nội 78 13 91
Đà Nẵng 24 2 26
Thành phố Hồ Chí
Minh
87 16 103
Các địa phương khác 256 47 304
Tổng số 445 78 524
Nguồn: Vụ kế hoạch và đầu tư – Bộ công thương

Về tính chất của hoạt động kinh doanh, có thể chia các siêu thị ở Việt
Nam hiện nay thành hai loại chủ yếu là: siêu thị kinh doanh tổng hợp (Liên hiệp
Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh Saigon Co.op Mart, siêu thị
Intimex, Big C...) và các siêu thị chuyên doanh (các siêu thị dệt may, siêu thị
điện máy, siêu thị điện lạnh...)
Về nguồn vốn và chủ thể đầu tư các siêu thị ở Việt Nam thời gian qua
cũng rất đa dạng, từ các doanh nghiệp nội địa có thương hiệu lâu năm như Tổng
công ty Thương mại Hà Nội Hapro, công ty TNHH Phú Thái... cho đến các tập
đoàn bán lẻ lớn nhất của các nước phát triển như Bourbon của Pháp, Metro Cash
& Carry của Đức, SeiYu của Nhật Bản...

2.2.2 Sự dịch chuyển cơ cấu thị phần giữa các doanh nghiệp bán lẻ
Trong tiến trình cạnh tranh và hội nhập, cơ cấu ngành bán lẻ Việt Nam
biến đổi sâu sắc: Từ chỗ chủ yếu do doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, đơn
http://svnckh.com.vn
20

loại hình cho đến đa loại hình với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế: tư

thị, 12% dùng hình thức siêu thị bán sỉ, 8% ở trung tâm thương mại, 2% ở siêu
thị nhỏ. Chi tiêu ở thương mại hiện đại đã gia tăng thường xuyên 17%/năm và
chi tiêu/lần là 87 nghìn đồng/lần. Khi thương mại hiện đại phát triển, người tiêu
dùng sẽ có nhiều hình thức mua sắm hơn để lựa chọn. Cùng với việc có nhiều
lựa chọn thì tính cạnh tranh sẽ cao hơn và như vậy giá cả có thể giảm đi hoặc
phải đưa ra nhiều tiện ích hơn cho khách hàng. Thương mại hiện đại sẽ phát triển
không chỉ vì sẽ có nhiều khách hàng hơn mà chính nhu cầu của khách hàng sẽ
tăng hơn. [31]
Tuy nhiên, theo Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, so với mức 33% tại
Philippines, 51% tại Trung Quốc, 34% tại Thái Lan, 60% tại Malaysia và 90%
tại Singapore, tỷ trọng kênh bán lẻ hiện đại của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp.
Mặc dù vậy, tiềm năng phát triển của bán lẻ hiện đại vẫn rất mạnh mẽ. Đó là nhờ
thu nhập và tiêu dùng của người dân ngày càng được cải thiện, phong cách sống
mới của con người hiện đại, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế và
đa dạng hóa các loại hình bán lẻ. Do tác động của khoa học công nghệ và thương
mại điện tử, người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các
phương thức bán lẻ mới như bán hàng qua mạng Internet (online shopping), TV
shopping, qua điện thoại di động, qua catalogue, cửa hàng giá rẻ/giảm giá, bán
hàng đa cấp... Như vậy, trong tương lai gần, cùng sự hỗ trợ của thị trường trong
nước và nước ngoài, bán lẻ hiện đại Việt Nam sẽ trở thành kênh tiêu dùng quan
trọng nhất của người dân, đồng thời là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của
ngành bán lẻ Việt Nam.
2.2.2.2 Doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang dần chiếm ưu thế
Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bán lẻ có vốn nước ngoài tăng
http://svnckh.com.vn
22

trưởng rất nhanh, đặc biệt là Quí I năm 2010 tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng bình
quân chung. Kể từ 1994, một xu thế chung là các nhà phân phối nước ngoài ngày
càng có tỉ trọng cao hơn trước. Chỉ xét riêng năm 2009 và quý I năm 2010, cơ

ngoài
14.012 2,9 130,3
Tổng cộng 487.517 100 125,0
Nguồn: Tổng cục thống kê

Có thể nhận thấy, từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều tập đoàn
phân phối lớn đã có mặt tại Việt Nam như: Metro Cash & Carry, Bourbon, Zen
http://svnckh.com.vn
23

Plaza... Nhiều thương hiệu nổi tiếng đã có mạng lưới hoạt động tương đối tốt với
số lượng các trung tâm thương mại đáng nể. Năm 2009, dù khủng hoảng kinh tế
toàn cầu nhưng trên thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn xuất hiện thêm nhiều thương
hiệu quốc tế mới như Naf Naf, Morgan de Toi, Mexx, Aldo, Hard Rock Café,
Debenhams... Khi “đặt chân” vào Việt Nam, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đều
nuôi tham vọng bành trướng quy mô hoạt động, vì vậy ngoài các thành phố có
sức mua lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các nhà bán lẻ này còn đang
mở rộng phạm vi hoạt động đến các tỉnh thành tại miền Trung, miền Tây... Điển
hình là trong tháng 4/2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang đã bàn giao mặt
bằng khu bến xe Long Xuyên cho Metro để xây dựng siêu thị phân phối hàng
hóa tại tỉnh này, nâng mạng lưới Metro tại Việt Nam thành 9 điểm trong thời
gian tới. Tương tự, Lotte Mart cũng đang đầu tư thêm những dự án xây dựng
Trung tâm thương mại Lotte góp phần thực tiễn hóa chiến lược và phát triển hệ
thống với mục tiêu 15 trung tâm trong vòng 10 năm tới. [28]
Sự xuất hiện của các nhà bán lẻ nước ngoài đã tạo nên một luồng gió mới,
thay đổi diện mạo của ngành dịch vụ bán lẻ Việt Nam, tạo thêm nhiều lựa chọn
hơn cho người tiêu dùng, đồng thời đưa các doanh nghiệp bán lẻ nội địa vươn
lên, chấp nhận cạnh tranh lành mạnh.

3 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÁC NHÀ BÁN LẺ NỘI ĐỊA

Nguồn: Tổng cục thống kê
Trước thực trạng xu hướng chung của tiêu dùng Việt Nam và đầu tư của
các nhà bán lẻ nước ngoài ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp nội địa càng cần
phải đẩy mạnh quy mô, năng lực kinh doanh cũng như cạnh tranh của mình để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Khi thu nhập tăng thì nhu cầu
mua sắm tại các kênh phân phối bán lẻ hiện đại cũng tăng. Thông thường cứ 100
nghìn dân cần có một trung tâm thương mại lớn, cứ 10 nghìn dân cần có một siêu
thị và cứ 1000 dân cần ít nhất từ 1-3 cửa hàng tiện ích. Nhưng tại hai thành phố
lớn nhất của nước ta là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, con số này đang là 30
http://svnckh.com.vn
25

Tỷ lệ lựa chọn các kênh phân phối của người tiêu dùng
Việt Nam
39%
25%
15%
11%
8%
2%
Cửa hàng chuyên nghiệp
Đại lý
Siêu thị
Tạp hóa
Chợ
Nơi khác
nghìn dân mới chỉ có một cửa tiệm bán lẻ hiện đại. Đo lường bán lẻ của Công ty
Nghiên cứu thị trường Nielsen cho biết: “Nếu so sánh số lượng 400 của hiệu tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 16 triệu người sinh sống thì con
số này là quá thấp”. Trong khi đó, nghiên cứu của Công ty tư vấn Mỹ Nielsen


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status