MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA
XUẤT KHẨU , XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM ......................................................................................................4
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU .............................................4
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia
...................................................................................................................4
1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu................................................................4
1.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia.............................5
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu..................................................................7
1.1.3 Các công cụ và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu.................................8
1.1.3.1 Các công cụ và biện pháp của Nhà nước.................................8
1.1.3.2 Các biện pháp của doanh nghiệp...........................................12
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM ..........................................................................................................14
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam......14
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với nền kinh tế nước ta..........15
1.2.2.1. Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của quốc gia.......................................................................................15
1.2.2.2. Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế............................................................................18
1.2.2.3. Vai trò của ngành thuỷ sản trong an ninh lương thực quốc
gia, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:..............................................18
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN VÀ THỰC
TRANG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG NHẬT..............20
2.1. Tổng quan về kinh tế và ngành thủy sản tại Nhật Bản ..................20
1
2.1.1. Tổng quan chung nền kinh tế Nhật Bản........................................20
2.1.2. Khái quát về ngành thủy sản tại Nhật Bản....................................21
cho các sản phẩm thủy sản của mình ................................................57
3.2.2.2. Sử dụng có hiệu quả hệ thống Internet phục vụ cho hoạt động
xuất khẩu...........................................................................................57
3.2.3. Tăng cường nghiên cứu nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.......58
3.2.3.1. Nâng cao hiệu quả thu thập thông tin...................................58
3.2.3.2. Thành lập bộ phận nghiên cứu và phân tích dữ liệu............59
3.2.4. Đa dạng mẫu mã chủng loại, nâng cao chất lượng và hạ giá thành
.................................................................................................................60
3.2.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm.....................................................60
3.2.6. Giảm chi phí sản xuất để giảm giá thành sản phẩm - nâng cao khả
năng cạnh tranh.......................................................................................61
3.2.6.1. Đảm bảo nguyên liệu, giảm chi phí gia tăng do giá nguyên
liệu đầu vào có xu hướng tăng...........................................................61
3.2.6.2. Tận dụng tối đa các lợi thế ...................................................61
3.2.7. Tăng cường quảng cáo, khuếch trương sản phẩm.........................62
3.2.8. Xâm nhập thị trường Nhật Bản bằng thương hiệu.......................63
3.2.9. Nâng cao vai trò của hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt
Nam VASEP...........................................................................................64
3.2.10. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh xuất khẩu của
doanh nghiệp trên thị trường Nhật Bản...................................................66
3
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI
TRÒ CỦA XUẤT KHẨU , XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI
VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia
1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Theo nhà kinh tế học Adam Smith, phân công lao động xã hội dẫn đến
chuyên môn hoá sản xuất, sẽ tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng
thế so sánh của mình. Trong xu thế thế giới đang dần tiến tới quá trình chuyên
môn hoá thì việc tận dụng được lợi thế so sánh của riêng mình đóng vai trò
tiên quyết quyết định đến vị trí của từng quốc gia trên thị trường quốc tế. Đối
với các nước đang phát triển như Việt Nam thì lợi thế so sánh chính là điều
kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giá nhân công
rẻ..v..v..Dựa trên những lợi thế so sánh này, sản xuất ra những sản phẩm xuất
khẩu nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới, từ đó góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu tạo nguồn dự trữ ngoại tệ quan trọng và
tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và những nguyên
nhiên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Ngày nay, việc dự trữ ngoại tệ nhất là các ngoại tệ mạnh là điều rất quan
trọng, vì trong quan hệ mua bán trên thị trường thế giới hiện nay các nước đều
sử dụng các ngoại tệ mạnh trong giao dịch để đảm bảo cho sự phát triển bền
vững. Dự trữ ngoại tệ dồi dào còn là điều kiện cần thiết để giúp cho quá trình
ổn định nội tệ và chống lạm phát. Ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu
sẽ là nguồn tăng dự trữ ngoại tệ chủ yếu. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu
còn kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần tạo nguồn vốn để các
5
quốc gia có thể nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại phục vụ
cho quá trình công nghiệp hoá đất nước.
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu góp phần định hướng sản xuất, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Ngày này, quá trình phân công lao động quốc tế ngày
càng phát triển đã thúc đẩy hoạt động chuyên môn hoá, hợp tác hoá ở tầm
quốc tế, điều này đòi hỏi mỗi quốc gia cần lựa chọn mặt hàng xuất khẩu sao
cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó sẽ giúp các quốc gia có định hướng
chiến lược đối với các ngành sản xuất trong nước. Đây là một điều có ý nghĩa
quan trọng vì việc định hướng các ngành sản xuất trong nước là một điều
không dễ làm và không ít các quốc gia đã có những bước đi sai lầm trong việc
hoạch định chính sách phát triển kinh tế. Định hướng vào các ngành sản xuất
cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ,
điện tín) để bàn bạc thoả thuận về hàng hoá, giá cả và các điều kiện giao dịch
khác.
* Xuất khẩu qua trung gian:
Là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung
gian thứ ba, và người thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định.
Người trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới.
* Xuất khẩu tại chỗ:
Là hình thức xuất khẩu ngay tại đất nước mình để thu ngoại tệ. Đó là việc
bán hàng và thực hiện các dịch vụ cho người nước ngoài,và thanh toán bằng
ngoại tệ. Hàng xuất khẩu tại chỗ có thể dùng ngay tại chỗ hoặc được người
mua đem ra nước ngoài.
* Hình thức tái xuất khẩu
Là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác những hàng
hoá đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích
của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hoá ở nước này bán đắt
hàng hoá ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ban đầu.
7
Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập
- tái xuất và hình thức chuyển khẩu, trong đó:
Hình thức tạm nhập – tái xuất được hiểu là việc mua hàng của một nước
để bán cho nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương, làm thủ tục
nhập khẩu hàng hoá vào, rồi sau đó làm thủ tục xuất khẩu mà không qua gia
công chế biến.
Hàng hoá chuyển khẩu được chia thành hai loại. Một là, hàng hoá sau khi
nhập cảnh xin với hải quan cho vận chuyển đến một địa điểm hải quan khác
để làm thủ tục hải quan nhập khẩu. Hai là, hàng hoá ở nơi vận chuyển ban đầu
đã làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu vận chuyển đến một nơi xuất cảnh, do
hải quan nơi xuất cảnh giám sát quản lý cho qua.
* Gia công xuất khẩu
dụ như Mỹ đòi EC phải giảm mạnh trợ cấp nông sản cho nông dân ở EC từ
30%-50% trong 15 năm tới nếu không Mỹ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa cứng
rắn. Mặt khác, trợ cấp trực tiếp bị thu hẹp còn là để đảm bảo có sự cạnh tranh
công bằng giữa nhà sản xuất trong nước và các nhà sản xuất nước ngoài.
b. Chính sách tỷ giá hối đoái để thúc đẩy xuất khẩu
Tỷ giá là giá cả của đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của
một nước khác, đó là quan hệ so sánh sức mua giữa hai đồng tiền của hai
quốc gia khác nhau. Tỷ giá hối đoái thường xuyên biến động do nhiều yếu tố
khác nhau ảnh hưởng. Nếu tỷ giá hối đoái giảm tức là sức mua của đồng tiền
nội tệ so với ngoại tệ bị giảm. Khi ấy, nếu như các điều kiện khác thay đổi giá
cả hàng hoá sản xuất trong nước chuyển đổi ra ngoại tệ sẽ thấp hơn trước, tức
là trở nên rẻ đi một cách tương đối. Điều đó sẽ làm cho sức cạnh tranh của
hàng xuất khẩu tăng lên. Như vậy tỷ giá hối đoái giảm sẽ làm cho hoạt động
xuất khẩu trở lên thuận lợi hơn. Và ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm
cho hoạt động xuất khẩu trở lên khó khăn hơn.
9
Tuy nhiên, tỷ giá chỉ giảm đến một mức độ nào đó thì mới có lợi cho nhà
xuất khẩu vì nhà xuất khẩu cũng sẽ đồng thời là nhà nhập khẩu nguyên vật
liệu. Tỷ giá hối đoái tăng sẽ khiến giá sản phẩm nhập khẩu tăng lên gây ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh sản xuất. Vì vậy để kinh doanh xuất nhập
khẩu hiệu quả, doanh nghiệp phải quan tâm đến hai loại tỷ giá, đó là tỷ giá
xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu.
Tỷ giá xuất khẩu: Được xác định bằng tỷ số giữa giá bán buôn công nghiệp
cộng với thuế xuất khẩu bằng tiền nội tệ và giá bán hàng xuất khẩu theo điều
kiện FOB tính bằng ngoại tệ.
Tỷ giá nhập khẩu: Được xác định bằng tỷ số giữa giá bán buôn hàng nhập
khẩu tại cảng bằng tiền nội địa và giá nhập khẩu theo điều kiện CIF tính bằng
ngoại tệ.
Nhà kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ có lợi khi tỷ giá hối đoái công bố trên
thị trường hối đoái nhỏ hơn tỷ lệ giá nhập khẩu và lớn hơn tỷ giá xuất khẩu.
Thuế quan có tác dụng điều tiết khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu. Bởi
lượng hàng hoá xuất nhập khẩu nhiều hay ít phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng
hoá, yếu tố này bị phụ thuộc vào giá cả. Một bộ phận quan trọng tạo thành giá
cả hàng hoá ngoại thương đó chính là thuế quan. Thuế quan đánh thấp hay
cao sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh
của hàng hoá trên thị trường. Như vậy, bằng cách cắt giảm các loại thuế giá trị
gia tăng và thuế quan xuất khẩu, Chính phủ đã tạo điều kiện khuyến khích các
nhà xuất khẩu xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài để từ đó ổn định kim ngạch
xuất khẩu.
11
1.1.3.2 Các biện pháp của doanh nghiệp
Các công cụ và biện pháp của Nhà nước đóng vai trò như những điều
kiện nền tảng giúp tạo môi trường thuận lợi để các nhà xuất khẩu thúc đẩy
xuất khẩu hàng hoá. Tuy nhiên, để sản phẩm có một chỗ đứng bền vững trên
thị trường nước ngoài, giá trị xuất khẩu ngày càng tăng thì ngay trong các
doanh nghiệp cũng phải thực hiện những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
hoá. Các biện pháp đó là:
a. Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm là một trong những biện pháp quan
trọng để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp. Tính cạnh tranh của
sản phẩm sẽ quyết định khả năng thâm nhập thị trường quốc tế, vị trí và thị
phần của doanh nghiệp trên thị trường này. Tính cạnh tranh của sản phẩm
biểu hiện ở các mặt như: chất lượng sản phẩm, giá cả, thương hiệu, đóng gói
bao bì, mức độ vệ sinh công nghiệp và an toàn sinh thái của sản phẩm.
Vì vậy, một doanh nghiệp muốn tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá
sang thị trường nước ngoài, đặc biệt là những thị trường khó tính, phải đầu tư
nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm đáp ứng những tiêu chuẩn chất lượng
quốc tế, đồng thời vẫn phải đảm bảo có một mức giá cạnh tranh trên thị
trường thế giới. Tiếp đến, doanh nghiệp cần phải xúc tiến xây dựng thương
hiệu của riêng mình, đây là một yếu tố rất quan trọng để xúc tiến xuất khẩu
tạo ngắn hạn về nghiệp vụ xuất khẩu, các lớp học ngoại ngữ, các lớp chuyên
ngành về kinh tế có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp còn có thế mời các chuyên gia tham gia tư vấn cho đội ngũ cán
bộ công ty. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể phối hợp với các trường học
đào tạo các học viên, sinh viên là cán bộ tương lai của công ty mình.
d. Doanh nghiệp mở rộng việc liên doanh liên kết
Đối với mỗi doanh nghiệp, thị trường thế giới là thị trường rộng lớn và có
sự cạnh tranh gay gắt. Khách hàng nước ngoài có thế đặt những đơn hàng với
13
khối lượng và giá trị vượt quá khả năng cung cấp của doanh nghiệp. Vì vậy,
để đáp ứng khách hàng quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu các doanh nghiệp cần
không ngừng mở rộng liên doanh, liên kết. Các doanh nghiệp trong nước hoạt
động trong cùng lĩnh vực kinh doanh có thể liên kết với nhau tạo thành các
hiệp hội ngành hàng. Các thành viên của hiệp hội cùng sản xuất sản phẩm
hoặc tham gia các khâu khác nhau trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nội địa có thể liên doanh với các doanh
nghiệp của nước mà mình xuất khẩu sang. Điều này giúp cho các doanh
nghiệp nội địa dễ dàng thâm nhập thị trường nước ngoài, tận dụng kênh phân
phối của doanh nghiệp ở nước sở tại. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp.
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam
• Xuất khẩu là hàng hoá sản xuất trong nước được mang ra nước
ngoài tiêu thụ.Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản ,thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.Xuất khẩu có cai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế .
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu :Để phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ,cần phải có một nguồn vốn lớn để
nhập khẩu máy móc ,thiết bị ,công nghệ hiện đại .Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu
từ các nguồn :xuất khẩu ,đầu tư nước ngoài ,vay vốn ,viện trợ ,thu từ hoạt
2003). Nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai
thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản
xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát
triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp
mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm
15
2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi
thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha.
Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới
được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật liệu
chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá,
chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả
sang nuôi trồng thuỷ sản…Nuôi biển là một hướng mở mới cho ngành Thuỷ
sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá giò, cá mú, cá
tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi lồng, bè. Nuôi nước ngọt đang có
bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hoá lớn, điển
hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế
cao; Nuôi đặc sản được mở rộng; Sự xuất hiện hàng loạt các trang trại nuôi
chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt
nhân) chuyển đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán
thâm canh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh
tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên
tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm
2003.
Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2000, ngành thuỷ sản đã có những bước
tiến không ngừng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh
tế - Xã hội ngành Thuỷ sản thời kỳ 1991 - 2000 đã được hoàn thành vượt
Nông - Lâm - Thuỷ sản
Tổng số Riêng Thuỷ sản
1996 7.255,9 4.214,1 3.041,8 670,0
1997 9.185,0 5.952,0 3.233,0 776,5
1998 9.360,3 6.036,0 3.324,3 858,6
1999 11.540,0 8.627,8 2.912,2 976,1
2000 14.308,0 10.186,8 4.121,2 1.478,5
2001 15.100,0 10.090,4 5.009,6 1.816,4
Tốc độ tăng
trưởng bình
quân
13,0 14,9 9,5 14,6
( Nguồn: Niên giám Thống kê Nông - Lâm - Thuỷ sản )
17
1.2.2.2. Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương mại
quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế
giới. Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng
ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ
sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường
xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị
trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá
trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ.
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều
bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
19