Một số giải pháp cơ bản về phát triển vùng Nguyên liệu Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải đợc u tiên hàng đầu.
Trong công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với vùng nguyên
liệu.
Qua 14 năm thu mua và chế biến kể từ năm 1986 đến nay Công ty cổ phần
mía đờng Lam Sơn đã qua bao khó khăn có lúc tởng chừng nh không thể vợt qua.
Tình hình thực tế Công ty đứng bên bờ vực phá sản nhng rồi lại phát triển đi lên
đem lại những thành quả tốt đẹp. Tất cả những thăng trầm ấy do nhiều nguyên
nhân đem lại, xong suy cho cùng một trong số những nguyên nhân cơ bản quan
trọng bậc nhất đó là vấn đề nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.
Đủ nguyên liệu nhà máy chạy hết công suất, khai thác đợc tiềm năng săn có
của thiết bị, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận cao,
nộp ngân sách Nhà nớc tăng, công nhân có công ăn việc làm, đời sống ổn định và
ngày càng đợc nâng cao, công nhân gắn bó với nhà máy.
Thiếu nguyên liệu nhà máy hoạt động kém hiệu quả, lãng phí thiết bị máy
móc, khấu hao trên đầu sản phẩm tăng, sản xuất bị thua lỗ, công nhân không có
công ăn việc làm, đời sống ngày càng khó khăn.
Từ những vấn đề trên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có chủ tr-
ơng đờng lối đổi mới của Đảng và các chính sách của Nhà nớc về giao quyền tự
chủ cho sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần mía đờng
Lam Sơn đã chủ động đầu t giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu cung cấp cho nhà
máy sản xuất ổn định và phát triển.
Hiện nay trong xu thế phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, Công ty cổ
phần mía đờng Lam Sơn đã mở rộng nâng cao công suất nhà máy lên 6.500 tấn
mía cây/ngày. Do đó việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầy
đủ cho nhà máy sản xuất ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn.
Từ những vấn đề nêu trên, việc đặt ra những chơng trình nghiên cứu về
vùng nguyên liệu mía đờng Lam Sơn, thực trạng vùng nguyên liệu và quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn trong

1.1. Khái niệm quản trị nguyên vật liệu và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu.
- Các thuật ngữ khác nhau nh quản trị nguyên vật liệu và cung ứng đợc sử
dụng nh là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động đợc yêu cầu
để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt động của
doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với ngời tiêu dùng. Ta có
khái niệm sau:
- Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng
vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và
quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm soát
bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc trong
quá trình lu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và phân phối
thành phẩm
(1)
.
- Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là:
+ Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho
sản xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó đợc yêu cầu.
+ Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới.
+ Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chúng có sẵn
khi cần đến.
+ Mục tiêu chung là để có dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến tay
ngời tiêu dùng mà không có sự chậm trễ hoặc chi phía không đợc điều chỉnh.
1.2. Nhiệm vụ của quản trị nguyên vật liệu.
- Tính toán số lợng mua sắm và dự trữ tối u (kế hoạch cần nguyên vật liệu).
- Đa ra các phơng án và quyết định phơng án mua sắm cũng nh kho tàng.
- Đờng vận chuyển và quyết định vận chuyển tối u.
1
PGS.PTS Nguyễn Kim Truy (Chủ biên), 1999, trang 120
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368

2.2. Vai trò nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một bộ phận của đối tợng lao động, là một bộ phận
trọng yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
2
PTS Nguyễn Văn Công (Chủ biên), 1998, trang 45,46
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu đợc chuyển hết vào chi phí
kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao động,
t liệu lao động và đối tợng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu nó
quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện đợc hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng sản xuất, chúng
ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó lại kém
chất lợng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho quá
trình sản xuất đợc diễn ra thờng xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số lợng, quy
cách, chủng loại nguyên vật liệu... chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao đợc các chỉ tiêu
kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh nghiệp mới có thể tồn
tại đợc trên thơng trờng.
- Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản xuất
cung cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ không
có hiệu quả cao.
- Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo
nên sản phẩm, chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng sản
phẩm. Do đó công tác quản trị nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để nâng
cao chất lợng sản phẩm.
2.3. Vai trò quản trị nguyên vật liệu.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất có

liệu.
Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp và trách nhiệm đợc giao cho từng đơn
vị phụ thuộc vào khả năng của ngời lao động và nhu cầu của doanh nghiệp khi các
nhà ra quyết định của nó quan sát đợc điều đó. Tơng ứng với mỗi cách mà doanh
nghiệp đợc tổ chức, một số chức năng liên quan tới quản trị nguyên vật liệu có thể
đợc thực hiện trong một số bộ phận của doanh nghiệp.
Ta có một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật liệu:
- Mua.
- Vận chuyển nội bộ.
6
Bên bán Bên Nhận hàng
Nhận hàng Vận
chuyển
Đầu ra
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Kiểm soát tồn kho.
- Kiểm soát sản xuất.
- Tập kết tại phân xởng.
- Quản lý vật liệu.
- Đóng gói và vận chuyển.
- Kho tàng bên ngoài và phân phối.
Những ngời có trách nhiệm đối với các chức năng trên báo cáo cho nhà
quản lý vật liệu, nhà cung ứng hoặc nhà quản lý điều hành. Các chức năng đợc
thực hiện và cộng tác để đảm bảo điều hành một cách có hiệu quả.
Từ chỗ các doanh nghiệp tổ chức theo các cách thức rất đa dạng nó có thể
đặt tên các loại phòng cụ thể và có trách nhiệm chính xác nh tên của nó. Sau đây
ta cần phân tích một số hoạt động trên. Bốn chức năng đầu hầu nh chỉ diễn ra
trong hoạt động sản xuất vật chất. Hoạt động mua bán và kiểm tra hàng hoá trong
khi xảy ra trong sản xuất vật chất và phi vật chất.
4.1. Hoạt động kiểm soát sản xuất:

kiểm tra, cất trữ hoặc sử dụng.
4.4. Hoạt động xếp dỡ.
- Quản lý các phơng tiện vận tải của doanh nghiệp.
- Chuyển hàng lên phơng tiện vận tải.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới quản trị nguyên vật liệu
trong doanh nghiệp.
1. Số lợng nhà cung cấp trên thị trờng.
Một trong những nhân tố ảnh hởng rất thờng tới các quá trình quản trị
nguyên vật liệu đó là các nhà cung cấp. Số lợng đông đảo các nhà cung cấp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trờng các yếu tốt
đầu vào nguyên vật liệu. Thị trờng này càng phát triển bao nhiêu càng tạo ta khả
năng lớn hơn cho sự lựa chọn nguồn nguyên vật liệu tối u bấy nhiêu.
Mặt khác, sức ép của nhà cung cấp có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn cho quản trị nguyên vật liệu. Sức ép này gia tăng trong những trờng
hợp sau:
- Một số công ty độc quyền cung cấp.
- Không có sản phẩm thay thế.
- Nguồn cung ứng trở nên khó khăn.
- Các nhà cung cấp đảm bảo các nguồn nguyên vật liệu quan trọng nhất cho
doanh nghiệp.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Giá cả của nguồn nguyên vật liệu trên thị trờng.
Trong cơ chế thị trờng giá cả là thờng xuyên thay đổi. Vì vậy việc hội nhập
và thích nghi với sự biến đổi đó là rất khó khăn do việc cập nhật các thông tin là
hạn chế. Do vậy nó ảnh hởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý nguyên vật
liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thờng xuyên là do:
- Tỷ giá hối đoái thay đổi làm cho các nguyên vật liệu nhập khẩu với giá
cũng khác nhau.
- Do các chính sách của chính phủ (quata, hạn ngạch...)

yếu tố chủ yếu của sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu này để giúp cho doanh
nghiệp thấy rõ đợc u nhợc điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng thời có
biện pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm
chất. Không để xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên liệu ngừng sản xuất, thừa
nguyên liệu gây ứ đọng vốn sản xuất.
1. Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu.
Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất , đi đôi với việc đảm bảo các yếu tố lao
động, t liệu lao động, phải thực hiện tốt việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà nguyên
liệu của nó có những nét đặc trng riêng. Đối với doanh nghiệp công nghiệp
nguyên liệu gồm: nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phế liệu. Đối với công ty
xây lắp nguyên liệu gồm xi măng, sắt, thép, cát. Đối với doanh nghiệp nông
nghiệp nguyên liệu gồm: hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đối với sản xuất nh
ngành đờng nguyên liệu là cây mía.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng nguyên liệu nhập về doanh nghiệp từ
nhiều nguồn khác nhau nh: tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lu vật t... Mỗi
nguồn nhập lại có một giá mua, bán khác nhau. Vì vậy để đánh giá tình hình cung
cấp về tổng khối lợng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của chúng mà
phải biểu hiện khối lợng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế hoạch. Ngoài ra
cần dựa vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu.
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thế để sản
xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều có thể
thay thế đợc nh: cây mía, cao su... Các loại nguyên liệu không thể thay thế đợc gọi
là nguyên liệu chủ yếu, tham gia cấu thành thực thể sản phẩm. Để đảm bảo sản
xuất không bị gián đoạn, trớc hết doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các
nguyên liệu chủ yếu.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu mới chỉ biết đợc

cấp nguyên liệu, một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng là phải chỉ ra
cho đợc tình hình khai thác của nguồn khả năng về nguyên liệu để đảm bảo nhu
cầu sản xuất.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi nghiên cứu vấn đề này, có thể so sánh trị giá nguyên liệu thực tế từng
nguồn cung cấp với tổng trị giá nguyên liệu kế hoạch, cũng nh với tổng giá trị
nguyên liệu thực tế cung cấp. Qua đó sẽ thấy đợc tỷ trọng của từng nguồn trong
tổng giá nguyên liệu đợc cung cấp trong kỳ.
Khối lợng nguyên liệu cung cấp trong kỳ là có liên quan mật thiết với tình
hình sản xuất dự trữ và sử dụng nguyên liệu. Khi phân tích cần đặt nó trong mối
quan hệ với các nhân tố trên để kết luận đợc đầy đủ và sâu sắc. Trên thực tế, có
khi khối lợng nguyên liệu cung cấp tăng nhng phẩm chất quy cách không đảm bảo
sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong trờng hợp chất l-
ợng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lợng sản xuất không tăng mà tăng
khối lợng nhập sẽ dẫn đến ứ đọng vốn. Vì thế, vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra cho
công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp cần phải quán triệt là: đảm bảo
cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất nhằm phục vụ
tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lơng thực cho con
ngời và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hoa quả, rau xanh cho bữa
ăn hàng ngày của con ngời, sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu và cũng chính cây
trồng của ngành nông nghiệp cung cấp cây xanh tạo nên lá phổi của trái đất, góp
phần cân bằng sinh thái cho quả đất chúng ta. Nh vậy, sản phẩm của ngành trồng
trọt rất đa dạng và phong phú.
Ngành trồng trọt sản phẩm chủ yếu là sản phẩm cây trồng. Vì nó là sản
phẩm của ngành trồng trọt do đó sản lợng sản phẩm trớc hết tuỳ thuộc vào diện

chính sách hợp lý nông dân sẽ bỏ trồng mía mà chuyển trồng cây hoa màu khác
nh cây ngô, khoai, sắn, cao su.... Thực tế ở nớc ta trong nhiều năm qua một số nhà
máy do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu nên sản xuất bị đình đốn, kém
hiệu quả thậm chí còn bị đóng cửa, dỡ bỏ nhà máy đi nơi khác.
Trớc cách mạng tháng 8 năm 1945 thực dân Pháp đã xây dựng ở miền Đông
Nam Bộ hai nhà máy đờng nhng do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu hai
nhà máy bị thải, bỏ.
Năm 1961 Nhà nớc ta đầu t xây dựng nhà máy đờng Vạn Điểm công suất
1.000 tấn mía/ngày. Qua bao nhiêu năm vẫn không đủ nguyên liệu cho nhà máy
sản xuất, từ năm 1962 đến 1983 trong 21 năm chỉ thu mua đợc 1.312.486 tấn mía,
bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến đợc 62.516 tấn mía. Trong khi đó yêu
cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tấn/năm. Bớc sang thời kỳ đổi mới xoá bỏ
bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua đợc 30.000 tấn mía. Do không giải quyết
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đợc nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng cửa không sản xuất và đang
có phơng án dỡ bỏ đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đờng Sông Lam - Nghệ An cũng đợc xây dựng năm
1961, công suất 500 tấn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tấn mía nguyên liệu
nhng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu mua và
chế biến đợc 32.000 tấn, cha đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đờng Việt Trì - Vĩnh Phú trong nhiều năm
sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nớc ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về nhà
máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
Nhà máy đờng Lam Sơn công suất 1.500 tấn mía/ngày hàng năm yêu cầu từ
225.000 đến 250.000 tấn mía để sản xuất ra 22.500 đến 25.000 tấn đờng. Đợc Nhà
nớc đầu t xây dựng từ đầu năm 1980 đến cuối năm 1986 nhà máy căn bản hoàn
thành và đi vào hoạt động. Là nhà máy có quy mô hiện đại, thiết bị toàn bộ của
pháp, công nghệ sản xuất tiên tiến nhng trong giai đoạn đầu từ 1986 - 1990 khó
khăn nhất là thiếu nguyên liệu, liên tục trong suốt 4 năm liền nhà máy chỉ sử dụng

kinh tế xã hội của cả một vùng trung du đồi núi của tỉnh Thanh Hoá. Từ một động
thái kinh tế - xã hội kém phát triển sang một giai đoạn mới - giai đoạn tạo những
tiền đề ban đầu để chuyển sang kinh tế phát triển mà nội dung của nó là chuyển
dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chế biến gắn với nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà
nớc gắn với thị trờng mà tài chính tín dụng là sợi dây chuyền xuyên suốt trong qúa
trình đó - sự chuyển dịch này đã làm thay đổi nội dung sinh hoạt toàn vùng. Từ
thực tiễn vùng Lam Sơn có thể nói rằng sự ra đời của cơ sở công nghiệp chế biến
cùng những bớc tìm tòi đổi mới cơ chế quản lý ở đây cũng chính là nội dung của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nông thôn - nông nghiệp - nông dân theo
tinh thần đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã đề ra. Bớc đi của Lam Sơn cũng
chính là bớc đi thử nghiệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong một vùng nông
nghiệp lạc hậu tự cung, tự cấp, tự túc, không lệ thuộc vào thiên nhiên. Qua đánh
giá khái quát trên ta có thể xét vai trò của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn đối
với quá trình phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong vùng nh sau:
1. Giải quyết tốt mối quan hệ CN-NN-DV của vùng theo hớng Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Cơ sở công nghiệp chế biến ra đời từ một vùng nông nghiệp để tìm ra cơ chế,
hình thức kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế
hộ nông dân là một khâu đột phá là cuộc cách mạng sâu sắc trong kỹ thuật sản xuất,
đợc đặc trng bởi công nghiệp chuyển hoá từ thủ công là phổ biến sang kỹ thuật công
nghiệp trở thành một nhân tố chủ đạo chi phối quá trình sản xuất ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất mới tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng
suất lao động, sự thay đổi kỹ thuật dẫn đến những thay đổi trong phơng thức sản xuất
rõ nét nhất là quan hệ giữa con ngời với tự nhiên không còn là quan hệ trực tiếp mà
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghiệp chế biến đã xuyên suốt mối quan hệ ấy, đa con ngời lên một trình độ
mới, đóng vai trò công nghiệp và kỹ thuật mới để tạo ra sản phẩm. Về phơng diện
quan hệ sản xuất công nghiệp chế biến bằng sự đầu t của Nhà nớc, kênh tín dụng th-
ơng mại, chuyển giao kỹ thuật đến hộ nông dân, hộ nông trờng viên do các doanh

tự nhiên. Với vai trò của công nghiệp trong sự hợp tác liên kết mới nông dân trong
vùng đã coi nhà máy đờng Lam Sơn là của ngời trồng mía, lợi ích của họ đã gắn
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bó với lợi ích của nhà máy và ngợc lại. Công nghiệp đã giải phóng hoạt động kinh
tế của con ngời khỏi quan hệ trực tiếp với đất đai, tạo ra không gian mới cho hoạt
động kinh tế của vùng.
Nh vậy công nghiệp xuất hiện tạo ra thế phân công lao động mới, kèm theo
sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá đa dạng từ các khâu sản xuất, dịch vụ, chế
biến, tiêu thụ. ở đây hoạt động kinh tế chuyển hẳn trạng thái, chấm dứt tình trạng
sinh tồn bằng cách mỗi ngời tự tạo ra mọi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của
mình. Trạng thái kinh tế tự túc, tự cấp khép kín bị phá vỡ, biến sản phẩm mía đờng
thành một cơ cấu chung, một nền sản xuất mang tính xã hội và đang trong xu thế
mở rộng phát triển đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong một vùng nông thôn
rộng lớn.
3. Thay đổi t duy kinh tế của c dân trong vùng.
Công nghiệp chế biến đờng hình thành trên vùng Lam Sơn, không chỉ có ý
nghĩa là phát triển công nghiệp trong vùng nông thôn, tạo ra sự khác biệt về phơng
thức kinh doanh mới đó là sự thay đổi từ cách t duy tiểu nông sang t duy kinh tế
hàng hoá và thị trờng đó là kiểu kinh doanh theo đuổi mục tiêu gia tăng sản phẩm
xã hội, tăng thêm lợi nhuận, đồng thời cũng từng bớc giúp cho con ngời tiếp cận dần
với các quy luật của thị trờng, nh quy luật cạnh tranh, giá trị, lợi nhuận để trên cơ sở
đó hạch toán kinh tế theo kiểu phơng án tối u. Do đó khi công nghiệp đã gắn với
nông nghiệp thành một cơ cấu thì công nghiệp hay nông nghiệp đều là lĩnh vực đầu t
để đạt mục tiêu tăng thêm của cải vật chất.
Với ý nghĩa kinh doanh mía đờng một lĩnh vực đầu t nhằm tăng thêm thu
nhập cho con ngời thì công nghiệp cũng là một kiểu công nghiệp hoá. Nh vậy
quan điểm của Nghị quyết TW5 khóa VII nêu lên: "Đặt sự phát triển nông nghiệp
theo hớng sản xuất hàng hoá". Trong quá trình công nghiệp hoá thì kinh nghiệm
của Lam Sơn là sự kiểm nghiệm của thực tế, công nghiệp ở đây là một mô hình

100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 51,63 59,95 52,17
- Công nghiệp, Xây dựng 17,74 11,73 17,39
- Dịch vụ, Thơng mại 30,63 28,32 30,43
Năm 1995:
100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 45,99 54,60 43,11
- Công nghiệp, Xây dựng 20,09 14,53 24,80
- Dịch vụ, Thơng mại 33,92 30,87 32,09
Với mô hình hợp tác đa thành phần, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
Nhà nớc chủ yếu là doanh nghiệp công nghiệp chế biến và ngân hàng đã làm thay
đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng GDP của vùng. Tình hình ở Lam
Sơn đã chứng minh rằng nếu có cơ chế đúng phù hợp với thực tiễn thì quan điểm
công nghiệp hóa nông nghiệp của Đảng sẽ đợc đa vào cuộc sống. Năm 1995, giá
trị tăng thêm của công nghiệp trong vùng chiếm 9,1% tăng 2,6% so với năm
1990 . Trong đó, quốc doanh chiếm 2,3% giảm 1% về tỷ lệ cơ cấu so với năm
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1990. Nh vậy công nghiệp quốc doanh có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển
của vùng. Sản xuất của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn liên tục tăng và có
hiệu quả. Tính theo giá cố định năm 1989 giá trị sản lợng năm 1995 đạt 40,3 tỷ
đồng chiếm 65,6% giá trị sản lợng công nghiệp quốc doanh toàn vùng và 52,5%
giá trị toàn vùng kể cả quốc doanh và ngoài quốc doanh. Giá trị sản lợng công
nghiệp năm 1995 tăng 7,3 lần so với năm 1990.
Chơng II
Sự hình thành và phát triển của công ty cổ
phần mía đờng lam sơn
i sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần
mía đờng lam sơn
1. Hoàn cảnh ra đời Công ty.

sách nhà nớc, do đó không phát huy đợc vai trò chủ đạo đối với vùng.
- Quốc doanh công nghiệp ra đời, nhng do cha tạo đủ điều kiện để tác động
đến kinh tế hộ nông dân, lại cha tạo ra quan hệ kinh tế gắn bó lợi ích nông dân với
lợi ích nhà máy, nên đã kéo dài tình trạng thiếu nguyên liệu và đứng trớc nguy cơ
thua lỗ.
Nhìn lại thực trạng vùng Lam Sơn trớc năm 1990 có thể rút ra nhận xét sau
đây: Nếu không tạo lập đợc hình thức tổ chức và cơ chế quản lý phù hợp thì dẫu
đầu t lớn vẫn không tạo ra đợc động lực làm thay đổi cục diện kinh tế - xã hội trên
vùng. Từ đó có thể kết luận rằng tăng cờng đầu t phải đi liền với đổi mới mô hình
tổ chức và cơ chế hoạt động các doanh nghiệp nhà nớc trên địa bàn, gắn kinh tế
nhà nớc với kinh tế hộ nông dân, tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng
phát triển toàn diện.
2. Qúa trình chuyển đổi Công ty.
Năm 1993 nhà nớc cho phép nhà máy đờng Lam Sơn chuyển đổi thành
Công ty đờng Lam Sơn. (Công ty đờng Lam Sơn là một doanh nghiệp Nhà nớc đợc
thành lập theo thông báo số 01 TB ngày 04/01/1993 của Thủ tớng Chính phủ và
quyết định số 11 NN-TCCB ngày 08/01/1994 của Bộ trởng Bộ NN&PTNT).
- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Công nghệ đờng mật bánh kẹo.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Công nghệ nớc uống giải khát có cồn và không có cồn.
+ Chế biến các sản phẩm từ đờng và hoa quả.
Dịch vụ sản xuất đời sống.
Nhập khẩu vật t thiết bị phụ tùng cho Ngành sản xuất mía đờng.
Xuất khẩu vật t thiết bị phụ tùng cho ngành sản xuất mía đờng từ năm 1998
- 1999 luôn luôn hoàn thành vợt mức kế hoạch Nhà nớc, nộp ngân sách Nhà nớc
ngày một tăng, vốn đợc bảo toàn không ngừng qua các năm, đời sống CBCNV
không ngừng đợc cải thiện và nâng cao tạo ra bớc phát triển mới cả lợng và chất tự
khẳng định thế đứng ổn định và vững chắc của một doanh nghiệp quốc doanh

1- Vốn điều lệ: 150 tỷ đồng.
Trong đó:
- Tỷ lệ phần Nhà nớc 46% vốn điều lệ.
- Tỷ lệ phần bán cho ngời lao động trong doanh nghiệp 24% vố điều lệ.
- Tỷ lệ phần bán cho ngời lao động trồng và bán mía cho doanh nghiệp là
26% vốn điều lệ.
- Tỷ lệ bán cho các đối tợng ngoài doanh nghiệp 4% vốn điều lệ.
2- Giá trị thực tế của Công ty đờng Lam Sơn để cổ phần hoá là
665.559.000.000 đồng (Sáu trăm sáu nhăm tỷ, năm trăm năm chín triệu đồng).
3- Ưu đãi cho ngời lao động:
Tổng số cổ phần u đãi cho ngời lao động: 614.456 cổ phần, trong đó:
- Số cổ phần u đãi cho ngời lao động trong doanh nghiệp: 214.465 cổ phần.
- Số cổ phần u đãi cho ngời lao động trồng và bán mía cho doanh nghiệp:
400.000 cổ phần.
- Toàn bộ giá trị đợc u đãi: 18.433.950.000 đồng.
4. Doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đợc sử dụng tiền bán cổ phần nh sau:
Đào tạo và đào tạo lại cho ngời lao động: 228.400.000 đồng.
5. Căn cứ các chế độ u đãi quy định tại Nghị định số 441/1998/NĐ-CP ngày
29 tháng 6 năm 1998, Nghị định số 51/99/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 của
Chính phủ, Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn lựa chọn những khoản u đãi cao
nhất của 1 trong 2 Nghị định này và đăng ký với cơ quan thuế của địa phơng.
Ngày 18 tháng 12 năm 1999 Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn tổ chức
đại hội cổ đông thông qua kế hoạch bầu ra Hội đồng quản trị và thông qua kế
hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000 của Công ty.
ii - thực trạng Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn
1. Thực trạng cơ cấu tổ chức, chất lợng lao động ở các đơn vị của Công ty cổ
phần mía đờng lam sơn hiện nay.
1.1. Sự cần thiết phải cải tiến tổ chức bộ máy và nhân sự.
- Tất cả các chiến lợc sản xuất kinh doanh của bất kỳ của một Công ty nào
đều phải đi từ chiến lợc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực.

viên nghiệp vụ (do công việc nhiều, khó bố trí đợc thời gian). Khi chuyển từ Công
ty đờng Lam Sơn thành Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn thì các yêu cầu về
trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng đa dạng với công việc lại càng cao
hơn.
Lao động là CNKT chiếm hơn 50% tổng số lao động. Do Công ty đã tập
trung đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao trình độ cho số lao động là
CNKT trong thời gian qua nên hiện nay có thể nói đội ngũ CNKT của Công ty
đang từng bớc đợc nâng cao và hoàn thiện, phần nào đáp ứng đợc yêu cầu.
Các đơn vị trong Công ty (theo sơ đồ) hiện tại chỉ duy nhất XNBK Đình h-
ơng là hạch toán báo sổ, tơng đối đợc chuyển quyền chủ động trong sản xuất kinh
doanh. Còn các đơn vị còn lại đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Công ty. Khi Công
ty đờng Lam Sơn chuyển thành Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn theo định h-
ớng mới, cần nâng cấp một số đơn vị, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các sản
phẩm của Công ty. Cho nên mô hình tổ chức hành chính và bộ máy nhân sự cần
thiết phải thay đổi lại cho phù hợp.
Dùng kinh phí đào tạo lấy từ nguồn Nhà nớc cho phép trích từ chi phí cổ
phần hoá đào tạo tăng số lợng cao đẳng lên tơng đơng với trình độ đại học để giảm
tỷ lệ lao động phổ thông và CNKT (số này tham gia lao động trực tiếp).
Đào tạo nâng cao lao động có trình độ đại học theo hớng tinh thông chuyên
môn, nhng phải đáp ứng đợc nhiều công việc khác nhau. Các trờng hợp không đáp
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ứng đợc yêu cầu của công việc thì chuyển nghề, cho đi đào tạo, chuyển công tác
hoặc chấm dứt hợp đồng (hiện tỷ lệ đại học là cao nhng số đáp ứng đợc công việc
cha nhiều).
2. Kế hoạch sản xuất và biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2000.
2.1. Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000.
Giá bán có thuế: Đờng RE : 4.600đ/kg
Đờng RS : 4.200đ/kg
Đờng vàng : 3.800đ/kg

sau khi trích các quỹ XN
19,19
2.2. Biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2000.
a) Đầu t mới đa dạng hoá sản phẩm hớng ra xuất khẩu.
Sau khi cổ phần hoá, dự kiến mở rộng sản xuất trên cơ sở đã thăm dò thị tr-
ờng và đối tác thực hiện 3 dự án có tính khả thi sau đây:
Thị Nội dung Xí nghiệp cồn XN chế biến XN chế biến n-
25

Trích đoạn Quảnlý việc nhập nguyên vật liệu. Tổ chức quản lý kho. Tổ chức cấp pháp nguyên vật liệu. Chính sách về tài chính.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status