ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn : Trần Mạnh Cường
1, Nhóm sinh viên thực hiện: Đỗ Đăng Linh
Nguyễn Văn Hùng
Sinh viên lớp : Điện tử tin học – CN K46
TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU TÌM HIỂU HỆ THỐNG ĐÓNG CHAI
TRONG NHÀ MÁY BIA
Chương I: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY BIA
VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm bia:
Bia là một trong các đồ uống lâu đời nhất mà loài người đã tạo ra, có niên
đại ít nhất là từ thiên niên kỉ 5 TCN. Bia (từ tiếng Pháp: bière hoặc Anh: beer) nói
một cách tổng thể, là một loại đồ uống chứa cồn được sản xuất bằng quá trình lên
men của đường lơ lửng trong môi trường lỏng và nó không được chưng cất sau khi
lên men. Bia dược sản xuất từ các loại nguyên liệu chính là nước, malt, gạo, hoa
houblon, sau quá trình lên men, sẽ
cho ra một loại đồ uống giàu dinh dưỡng, có
hương thơm đặc trưng, độ cồn thấp, vị đắng dịu và lớp bọt trắng mịn với hàm
lượng CO2 phù hợp. Ngoài ra, trong bia còn chứa một hệ enzim khá phong phú,
đặc biệt là nhóm enzim kích thích tiêu hoá amylaza.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp thực phẩm nói chung và
ngành công nghiệp sản xuất bia nói riêng của nước ta đã có một diện mạo mới.
Lượng bia sản xuấ
t ngày càng tăng cùng với thiết bị và công nghệ sản xuất ngày
càng hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Cây hoa bia được trồng bởi nông dân trên khắp thế giới với nhiều giống khác nhau,
nhưng nó chỉ được sử dụng trong sản xuất bia là chủ yếu. Hoa houblon có thể
được đem dùng ở dạng tươi, nhưng để bảo quản được lâu và dễ vận chuyển,
houblon phải sấy khô và chế biến để gia tă
ng thời gian bảo quản và sử dụng.
4. Gạo:
Đây là loại hạt có hàm lượng tinh bột khá cao có thể được sử dụng xản xuất được
các loại bia có chất lượng hảo hạng. Gạo được đưa vào chế biến dưới dạng bột
nghiền mịn để dễ tan trong quá trình hồ hoá, sau đó được phối trộn cùng với bột
malt sau khi đã đường hoá. Cần chú ý, hạt trắng trong khác h
ạt trắng đục bởi hàm
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
lượng protein. Do đó, trong sản xuất bia, các nhà sản xuất thường chọn loại hạt gạo
có độ trắng đục cao hơn
5. Men:
Men bia là các vi sinh vật có tác dụng lên men đường. Các giống men bia cụ thể
được lựa chọn để sản xuất các loại bia khác nhau, Men bia sẽ chuyển hoá đường
thu được từ hạt ngũ cốc và tạo ra cồn và carbon đioxit (CO2). Bia Sài Gòn, với
công nghệ sản xuất hiện đại hiện sử d
ụng loại men được nuôi cấy có độ tinh khiết
cao, đảm bảo sự ổn định và đồng bộ trong sản phẩm của mình.
Hình 1.1 Một số sản phẩm bia sử dụng rộng rãi ở Việt
Nam
Hupblon. Trong đó malt và hoa Hupblon là hai nguyên liệu chính dùng để
sản xuất bia, nó có chất lượng cao của các hãng cung cấp hàng đầu thế giới.
Việc sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến và tuân thủ nghiêm ngặt
theo đúng các quy trình công nghệ cũng như các tiêu chuẩn của Việt Nam -
Thế giới.
Gạo: chỉ là nguyên liệu phụ (chiếm 30%), nguyên liệu dùng để thay
thế nhằm giảm giá thành sản phẩm. Gạo được mua từ gạo ăn bình thường,
đem nghiền nát sau đó say mịn ở dạng tấm và được đưa vào nồi gạo. Ở nồi
gạo, gạo dạng tấm được hoà tan bằng nước ở 77 độ C và hỗn hợp đó được
hồ hoá ở 100 độ C. Trong quá trình hồ hoá có bổ sung thêm một số hoá chất
như: CaCl2, CaSO4 nhằm mục
đích cung cấp Ca 2+ để phục vụ cho quá
trình đường hoá sau này và có bổ sung thêm 1 loại enzym chống cháy có tên
thương mại là Termamyl để pha loãng dung dịch, chống trường cháy nồi và
enzym này phải là enzym chịu nhiệt cao.
Malt: là một hạt ngũ cốc gọi là lúa mạch (chiếm 70%). Nó được nhập
từ các nước Anh, Úc, Đan Mạch. Chất lượng malt được đảm bảo theo tiêu
chuẩn tập đoàn Casberg. Malt được các nước gởi mẫu cho phòng thí nghiệm
Casberg và chất lượ
ng của malt được kiểm tra tại đó. Sau khi kiểm tra xong
mẫu malt được gởi về cho Công ty bia Huda và nó được đưa vào các SILO
bể chứa. malt dạng hạt sau khi say được hoà tan bằng nước ở 37 độ C và cho
vào nồi malt. Đối với việc hoà tan malt khác với hoà tan gạo vì malt dể bị
hiện tượng đóng cục hơn do đó malt được khuấy trộn dưới dạng phun nước
trước khi cho vào nồi phun. Malt còn được dùng để tạo màu cho bia, với
malt bình th
ường không đủ độ màu vì thế người ta thêm malt “ đen” để tăng
độ màu, bia Huda có độ màu từ 4 - 6 EBC.
Men: là chất xúc tác có nguồn gốc prôtêin, đó là những phân tử có cấu
tạo từ axit amin và có cấu trúc không gian xác định của mạch polypeptit.
toàn dung dịch đường còn lại. Sau đó bã hèm được xã ra ngoài và bán cho
ngành chăn nuôi. Để thử quá trình đường hoá hoàn toàn hay không người ta
dùng iốt để thử. Nếu đạt thì nâng hỗn hợp lên 76 độ C trực tiếp bằng hơi, lúc
này thì enzym - amylase bắt đầu hoạt động.
* Quá trình Hupblon hoá:
Được tiến hành tạ
i nồi Hupblon. Ở đây lại xãy ra quá trình đường hoá trong
1 giờ. Ở hoa Hupblon quan trọng là - axit đắng.
* Quá trình lắng trong và làm lạnh:
Quá trình này được thực hiện bằng một thiết bị lắng trong gọi là Whirlpool.
Dịch được đưa qua thiết bị lắng trong ở 100oC, tất cả các cặn bã trong quá
trình Hupblon được tách ra ở thiết bị này. Dịch trong thu được đi qua thiết bị
làm lạnh, dung dịch sau khi đi ra khỏi thiết bị làm lạnh có nhiệ
t độ làm lạnh
là 16oC và tiến hành thu dịch ở 16oC.
*Quy trình công nghệ ở phân xưởng lên men:
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng *Quy trình này gồm có các quá trình sau:
Quá trình lên men: quá trình lên men là quá trình trao đổi chất qua
màng tế bào.
Ở phân xưởng lên men xảy ra nhiều quá trình, tất cả các quá trình đều nằm ở
thùng lên men. Dịch lạnh ở 16oC ở phân xưởng nấu theo đường ống dẫn qua
các thùng lên men, ở phân xưởng lên men có gần 50 thùng lên men, mỗi
thùng lên men có một đồng hồ nhiệt độ riêng. Trong 4 - 8 giờ đầu tiên xảy ra
quá trình men sử dụng chất dinh dưỡng trong đường, O2 (để tăng nồng độ
oxy hoá) để tạ
đục.
Sơ đồ khung bản: Sau khi lọc khoảng 2 tuần người ta tiến hành vệ sinh 1 lần để loại bỏ các cặn
bả của bia non ra ngoài. Bia non sau khi qua thiết bị lọc thu được bia trong
thành phẩm có nồng độ alcol 4,5% và tiếp tục đi qua phân xưởng chiết.
Quy trình công nghệ ở phân xưởng chiết Chai thu hồi được đưa qua máy rửa bằng các băng tải. Quá trình rửa
chai trong hệ thống máy rửa như sau: chai được đưa vào bể ngâm khoảng
chừng 5 phút để bóc tất cả các dãn hiệu. Sau đó đi vào bể sút khoảng 20 phút
để làm sạch chai, tiếp tục qua máy nước nóng để làm sạch sút, rồi qua nước
ẩm, cuối cùng là qua nước lạnh và qua hệ thống sấy khô. Chai sau khi ra
khỏi máy rửa tiếp tục đi qua các băng tả
i khác, các băng tải này sẽ đưa chai
rửa sạch qua hệ thống đèn soi để thu hồi những chai còn bẫn và chai vỡ và
tiếp tục đi qua máy chiết. Bia trong được chiết vào chai bằng một thiết bị
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
xoay tròn (mỗi vòng như vậy chiết được 42 chai) và tiếp tục được đưa qua
hệ thống đóng nắp chai. Trước khi đi qua hệ thống đóng nắp, chai bia đã
được sục CO2 (hoá lỏng) vào để tạo ga và đồng thời qua hệ thống bơm nước
nóng để đuổi hết O2 không khí ra ngoài nhằm diệt con men bia. Chai bia sau
khi đã được đóng nắp tiếp tục đi qua hệ thống thanh trùng. Hệ thống thanh
trùng g
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
như vậy vì áp suất trong bể chứa được giữ rất lớn và không đổi, đảm bảo tốc độ rót
cao và thời gian mỗi lần rót là như nhau, việc nhúng vòi rót vào trong chai để tránh
chất lỏng văng ra ngoài khi rót với tốc độ lớn. với thiết kế như vậy, tổng thời gian
để nâng hạ van và rót liệu chỉ mất từ 2-3 giây.
Khi chai đạt được mức quy định được băng tải vận chuyể
n đến vị trí đóng
nút. Khâu đóng nút bao gồm cơ cấu cấp nắp chai và đóng nút. Cơ cấu đóng có thể
là xi lanh thủy khí (với nút dập) hoặc mô tơ (với nút vặn), cơ cấu cấp nắp chai có
thể dưới dạng gài sẵn trên băng tải hoặc kết hợp với cơ cấu dập.
Sau đó là khâu dán nhãn, đây có thể coi là khâu đơn giản nhất trong hệ thống
đóng chai. Cơ c
ấu bôi keo dính được gắn ngay trên băng tải và bố trí tiếp tuyến sao
cho tì vào mặt chai, ngoài chuyển động thẳng trên băng tải, chai còn chuyển động
quay tròn do lực tì của cơ cấu bôi keo. Tương tự với cơ cấu cấp nhãn, chai sau khi
bôi keo, quay tròn, cuốn băng giấy nhãn 1 vòng quanh chai.
Khâu cuối cùng là kiểm tra và đóng gói sản phẩm. khâu kiểm tra bao gồm
một loạt các cảm biến để kiểm tra chất lượng sản phẩm(đủ định m
ức, đóng nút dán
nhãn đạt yêu cầu…) sau khi kiểm tra sẽ qua cơ cấu phân loại, 1 tay gạt sẽ loại bỏ
chai sang một băng tải khác. Các chai đạt tiêu chuẩn sẽ qua khâu đóng gói, chai
được xếp thành khối nhờ các tay máy gạt và nâng hạ.
Như vậy toàn bộ quy trình công nghệ đóng nút chai được tự động hoàn toàn,
với đầu vào là nguyên liệu và chai rỗng, đầu ra là sản phẩm có thể đem bán trực
tiếp.
a, Quá trình rót liệu.
Các chai sau khi r
ửa được băng tải đưa đến vị trí rót liệu. Khi gặp cảm biến vị trí
băng tải dừng lại. Cảm biến lại báo cho bộ điều khiển hệ thống rót liệu hoạt động,
hệ thống rót liệu xả nhiên liệu vào trong chai được đo bằng cảm biến lưu lượng,
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
1.5 Bài toán cần giải quyết
Dây chuyền đóng chai là một hệ thống phức tạp, đòi hỏi rất cao về thiết kế
cơ khí và khả năng đồng bộ hóa. Tại mỗi khâu đều yêu cầu cơ khí chính xác để
đảm bảo các thao tác diễn ra một cách nhanh chóng và chuẩn xác. Đồng bộ hóa
trong từng khâu cũng như giữa các khâu với nhau phải diễn ra nhịp nhàng (số chai
đầu ra của khâu rót sẽ là số chai đầu vào cho khâu đ
óng nút sẽ phải tương đương
nhau, hoặc chai sẽ chờ ở vị trí trung gian…).
Hệ thống dây chuyền có sử dụng băng tải vận chuyển, chuyên chở là một
thành phần cơ bản, được sử dụng chủ yếu trong các dây truyền công nghiệp trong
lĩnh vực khai thác và chế biến. Trong lĩnh vực chế biến, đặc biệt là ngành chế biến
thực phẩm, giải khát, trong các dây chuyền chế bi
ến tự động, băng tải là thành
phần xuyên suốt. Bài toán đặt ra là vấn đề điều khiển băng tải, nghiên cứu về chế
độ làm việc, tốc độ hoạt động…có thể có của băng tải, nhằm phục vụ các mục
đích, yêu cầu của hệ thống.
Phần lý thuyết sẽ nghiên cứu các thiết bị điều khiển truyền động cho hệ
th
ống băng tải. Đề tài lựa chọn phương án điều khiển băng tải sử dụng động cơ 3
pha roto lồng sóc truyền động cho băng tải, thay đổi tốc độ động cơ bằng cách thay
đổi tần số nhờ biến tần, dùng PLC điều khiển toàn bộ hệ thống (chạy chế độ thuận,
ngược, tốc độ nhanh chậm, dừng, rót…), sử dụ
ng các cảm biến, encoder để lấy tín
hiệu điều khiển đầu vào cho PLC. Nhiệm vụ của phần lý thuyết sẽ nghiên cứu cấu
tạo, nguyên lý hoạt động, chức năng và ứng dụng của các thiết bị trên.
PLC là thiết bị điều khiển trung tâm, nhận tín hiệu điều khiển từ các cảm
biến , PLC có nhiệm vụ lựa chọn các mức tấn số của bi
ến tần tương ứng với các
ối với các thiết bị khác (như là: bảng điều khiển, động cơ, contact,
cuộn dây,…). Khả năng chuyển giao mạng của PLC có thể cho phép chúng phối
hợp xử lý, điều khiển những hệ thống lớn. Ngoài ra, nó còn thể hiện sự linh hoạt
trong việc phân loại các hệ thống điều khiển. Mỗi một hệ thống điều khiển có thể
I HC GIAO THễNG VN TI N TT NGHIP
Sinh viờn thc hin : ng Linh & Nguyn Vn Hựng
úng vai trũ quan trng. PLC s khụng nhn bit c gỡ nu nú khụng c kt
ni vi cỏc thit b cm ng. Nú cng khụng cho phộp bt ký mỏy múc thit b no
hot ng nu ngừ ra ca PLC khụng c kt ni vi ng c. V tt nhiờn, vựng
mỏy ch l ni liờn kt cỏc hot ng ca mt sn xut riờng bit.
PLC viết tắt của (Progammble Logic Control), là thiết bị lập trình đợc
cho phép thực hiện linh hoạt các phép toán điều khiển thông qua một ngôn
ngữ lập trình. Nó đơc thiết kế chuyên dụng trong công nghiệp để điều khiển
các quá trình từ đơn giản đến phức tạp và tuỳ thuộc vào ngời sử dụng mà nó
có thể thực hiện hàng loạt các chơng trình.
Thiết bị điều khiển logic khả trình PLC hiện nay có ứng dụng rất rộng
rãi nó có thể thay thế đợc cả một mảng rơle, hơn thế nữa PLC giống nh một
máy tính nên có thể lập trình đợc. Chơng trình của PLC có thể thay đổi rất
dễ dàng, các chơng trình con cũng có thể sửa đổi nhanh chóng.
Thiết bị điều khiển logic khả trình PLC đáp ứng đợc hầu hết các yêu
cầu và nh là yếu tố chính trong việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất
trong công nghiệp. Trớc đây thì việc tự động hoá chỉ đợc áp dụng trong sản
xuất hàng loạt năng suất cao. Hiện nay cần thiết phải tự động hoá cả trong sản
xuất nhiều loại khác nhau để nâng cao năng suất và chất lợng.
2.1.1. Vai trũ ca PLC.
Trong mt h thng iu khin t ng, PLC c coi nh l trỏi tim ca h
thng iu khin. Vi mt chng trỡnh ng dng (ó c lu tr bờn trong b
nh ca PLC) thỡ PLC liờn tc kim tra tr
ng thỏi ca h thng, bao gm: kim tra
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
Trong hệ thống tự động hóa, thiết bị xuất cũng là một yếu tố rất quan trọng.
Nếu ngõ ra của PLC không được kết nối với thiết bị xuất thì hầu như hệ thống sẽ bị
tê liệt hoàn toàn. Các thiết bị xuất thông thường là: động cơ, cuộn dây, nam châm,
relay, chuông báo,…Thông qua hoạt động của motor, các cuộn dây, PLC có thể
điều khiển một hệ thống từ đơ
n giản đến phức tạp. Các loại thiết bị xuất là một
phần kết cấu của hệ thống tự động hóa và vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp vào hiệu
suất của hệ thống.
Tuy nhiên, các thiết bị xuất khác như là: đèn poilot, còi và các báo động chỉ
cho biết các mục đích như: báo cho chúng ta biết tín hiệu ngõ vào, các thiết bị ngõ
ra được giao tiếp với PLC qua miền rộng củ
a modul ngõ ra PLC.
2.1.3. Bộ diều khiển lập trình được PLC.
PLC là bộ điều khiển logic theo chương trình bao gồm: bộ xử lý trung tâm
CPU chứa chương trình ứng dụng và các modul giao diện nhập xuất. Nó được nối
trực tiếp đến các thiết bị I/O. Vì thế, khi tín hiệu nhập, CPU sẽ sử lý tín hiệu và gửi
tín hiệu đến thiết bị xuất.
2.1.5. So sánh PLC với các thiết bị điều khiển thông thường khác.
Hiệ
n nay, các hệ thống điều khiển bằng PLC đang dần dàn thay thế cho các
hệ thống điều khiển bằng relay, contactor thông thường. So sánh ưu điểm và
khuyết điểm của hai hệ thống trên:
¾ Hệ thống điều khiển thông thường:
- Thô kệch do có quá nhiều dây dẫn và rơle trên bảng điều khiển.
- Tốn khá nhiều thời gian cho việc thiết kế
lắp đặt.
- Tốc độ hoạt động chậm.
- Công suật tiêu thụ lớn.
2.1.5.1. Xác định quy trình công nghệ.
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : Đỗ Đăng Linh & Nguyễn Văn Hùng
Trước tiên, ta phải xác định thiết bị hay hệ thống nào muốn điều khiển. Mục
đích cuối cùng của bộ điều khiển là điều khiển một hệ thống hoạt động.
Sự vận hành của hệ thống được kiểm tra bởi các thiết bị đầu vào. Nó nhận tín
hiệu và gởi tín hiệu đến CPU, CPU xử lý tín hiệu và gởi nó đến thiết bị xu
ất để điều
khiển sự hoạt động của hệ thống như lập trình sẵn trong chương trình.
2.1.5.2. Xác định ngõ vào, ngõ ra.
Tất cả các thiết bị nhập, xuất bên ngoài đều được kết nối với bộ điều khiển
lập trình. Thiết bị nhập là những contac, cảm biến…Thiết bị xuất là những cuộn
dây, valve điện từ, motor, bộ hiện th
ị.
Sau khi xác định tất cả các thiết bị nhập xuất cần thiết, ta định vị các thiết bị
vào ra tương ứng cho từng ngõ vào, ra trên PLC trước khi viết chương trình.
2.1.5.3 Viết chương trình.
Khi viết chương trình theo sơ đồ hình bậc thang phải theo sự tuần tự từng
bước của hệ thống.
2.1.5.4. Nạp chương trình vào hệ thống.
Bây giờ chúng ta có thể cung cấp nguồn cho bộ điề
u khiển có lập trình thông
qua cổng I/O. Sau đó nạp chương trình vào bộ nhớ thông qua bộ console hay lập
trình hay máy tính có chứa phần mềm lập trình hình thang. Sau khi nạp xong kiểm
tra lại bằng hàm chuẩn đoán. Nếu được mô phỏng toàn bộ hoạt động của hệ thống
để chắc chắn rằng chương trình đã hoạt động tốt.
2.1.5.5. Chạy chương trình:
Trước khi nhấn nút start, phải chắc chắn rằng các dây dẫn n
ối các ngõ vào, ra
tr ờng hợp bảng điều khiển có kích thớc quá lớn đến nỗi không thể gắn ton
bộ
lên trên t ờng v các dây nối cũng không hon ton tốt vì thế rất thờng xảy ra
trục trặc trong hệ thống. Một điểm quan trong nữa l do thời gian lm việc của
các Rơle có giới hạn nên khi cần thay thế cần phải ngừng ton bộ hệ thống v
dây nối cũng phải thay mới cho phù hợp, bảng điều khiển chỉ dùng cho một yêu
cầu riêng biệt không thể thay đổi tức thời chức năng khác m phải lắp giáp lại
ton bộ, v trong trờng hợp bảo trì cũng nh- sửa chữa cần đòi hỏi thợ chuyên
môn có tay nghề cao. Tóm lại hệ điều khiển Rơle hon ton không linh động.
*Tóm tắt nhợc điểm của hệ thống điều khiển dùng Rơle:
- Tốn kém rất nhiều dây dẫn .
- Thay thế rất phức tạp.
- Cần công nhân sửa chữa tay nghề cao.
I HC GIAO THễNG VN TI N TT NGHIP
Sinh viờn thc hin : ng Linh & Nguyn Vn Hựng
ợng Rơle v Timer ít hơn nhiều so với hệ điều khiển cổ điển.
- Số l
ợng tiếp điểm trong ch-ơng trình sử dụng không hạn chế.
- Thời gian hon thnh một chu trình điều khiển rất nhanh (vi mS) dẫn đến
tăng cao tốc độ sản xuất .
- Chi phí lắp đặt thấp .
- Độ tin cậy cao.
- Ch-ơng trình điều khiển có thể in ra giấy chỉ trong vi phút giúp thuận tiện
cho vấn đề bảo trì v sửa chữa hệ thống.
I HC GIAO THễNG VN TI N TT NGHIP
Sinh viờn thc hin : ng Linh & Nguyn Vn Hựng 2.2 Tỡm hiờu v S7300 cua simentic
2.2.1.Cấu trúc phần cứng của hệ thống PLC S7-300.
Thông thờng, để tăng tính mềm dẻo trong ứng dụng thực tế m ở đó phần
lớn các đối tợng điều khiển có số tín hiệu đầu vo, đầu ra cũng nh chủng loại
về cổng vo/ra onboard cũng nh các khối lm việc đặc biết đợc tích hợp
sẵn
trong th viện của hệ điều hnh phục vụ việc sử dụng các cổng vo/ra
I HC GIAO THễNG VN TI N TT NGHIP
Sinh viờn thc hin : ng Linh & Nguyn Vn Hựng
onboard
ny sẽ đợc phân biệt với nhau trong tên gọi bằng cách thêm cụm chữ cái IFM
(Intergated Function Module) ví dụ CPU 312IM, modul CPU 314 IFM.
Ngoi ra có các loại modul CPU với hai cổng truyền thông, trong đó cổng
truyền thông thứ hai có chức năng chính l việc phục vụ nối mạng phân tán. Tất
nhiên đợc ci sẵn trong hệ điều hnh các loại Modul CPU đựơc phân biệt với
các CPU khác bằng thêm cụm từ DP trong tên gọi. Ví dụ Modul CPU 315-DP.
Modul mở rộng : các modul mở rộng đợc chia lm 5 loại chính:
1/ PS( Power supply ): modul nguồn nuôi. Có 3 loại 2A ,5A v 10A.
2/ SM: Modul mở rộng cổng rín hiệu vo ra , bao gồm:
a) DI( Digital input ): Modul mở rộng cổng vo số. Số các cổng vo của
modul ny có thể l 8, 16, 32 tuỳ thuộc vo từng loại modul.
t- ơng tự. Số các cổng có thể l 4 vo/2 ra hoặc 4 vo/4 ra tuỳ thuộc vo
tùng loại modul. 3/ IM ( Interface module ): Modul ghép nối. Đây l loại modul chuyên dụng
có nhiệm vụ nối từng nhóm các modul mở rộng lại với nhau thnh một khối
v đợc quản lý chung bới một modul CPU. Thông thờng các modul mở
rộng đợc gá liền với nhau trên một thanh đỡ gọi l Rack. Trên mỗi một
Rack chỉ có thể gá đ-ợc nhiều nhất 8 modul mở rộng (không kể modul CPU,
Modul nguồn nuôi). Một modul PU S7-300 có thể lm việc trực tiếp đợc với
nhiều nhất 4 RACKS v các Racks ny phải đợc nối với nhau bằng modul
IM.
4/ FM ( Function modul ): modul có chức năng điều khiển riêng , ví dụ Modul
chức năng điều khiển động cơ b ớc , modul điều khiển động cơ Servo, modul
PID, modul điều khiển vòng kín.
5/ CP ( communication modul ): Modul phục vụ truyền thông trong mạng giữa
các PLC với nhau hoặc giữa PLC với máy tính.